Chủ nhật 01/03/2026 01:27
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Quản trị quốc gia gắn với phát triển xã hội số ở Việt Nam hiện nay - Thực trạng và giải pháp hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Hiện nay, quản trị quốc gia gắn với phát triển xã hội số là một trong những vấn đề pháp lý - quản lý cấp thiết ở các quốc gia trên thế giới. Bài viết phân tích, làm rõ cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng pháp luật và tổ chức triển khai xã hội số tại Việt Nam; đồng thời, nhận diện một số hạn chế có nguyên nhân từ hoạt động quản trị quốc gia. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị về thể chế, pháp luật cũng như giải pháp thực tiễn nhằm nâng cao cơ chế điều phối, năng lực thực thi; phát triển nguồn nhân lực, năng lực số cho khu vực công; phát triển hạ tầng dữ liệu, cơ chế quản trị dữ liệu quốc gia; thúc đẩy niềm tin xã hội và bảo đảm tính bao trùm số; qua đó, tăng cường hiệu quả quản trị quốc gia trong bối cảnh phát triển xã hội số.

Từ khóa: xã hội số; quản trị quốc gia; thể chế; pháp lý; Việt Nam.

Abstract: Currently, national governance linked to the development of the digital society is one of the most pressing legal and administrative issues in countries around the world. This article analyzes and clarifies the theoretical basis, assesses the current state of law and organization in implementing the digital society in Vietnam; and identifies some limitations stemming from national governance activities. Based on this, it proposes several recommendations on institutions, laws, and practical solutions to improve coordination mechanisms and enforcement capacity; develop human resources and digital capabilities for the public sector; develop data infrastructure and national data governance mechanisms; promote social trust and ensure digital inclusiveness; thereby enhancing the effectiveness of national governance in the context of the development of the digital society.

Keywords: Digital society; national governance; institutions; legal; Vietnam.

Đặt vấn đề

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và Cách mạng công nghiệp 4.0, việc đổi mới mô hình quản trị và xây dựng xã hội số đã trở thành mục tiêu chiến lược của nhiều quốc gia. Ở Việt Nam, việc đổi mới quản trị quốc gia, xây dựng xã hội số đã được đề cập trong nhiều văn kiện của Đảng, văn bản pháp luật của Nhà nước và đã có một số nghiên cứu về hai vấn đề này. Tuy nhiên, còn thiếu những nghiên cứu có tính hệ thống về mối liên hệ giữa quản trị quốc gia với xây dựng xã hội số, nhất là dưới góc độ pháp luật và thể chế. Điều này có thể gây ra những khó khăn cho việc xây dựng xã hội số ở Việt Nam, bởi nếu thiếu nền tảng quản trị vững chắc dễ dẫn đến chồng chéo, bất cập trong tổ chức thực hiện, lãng phí nguồn lực hoặc làm tăng rủi ro trong việc vận hành các thiết chế của xã hội số. Vì vậy, làm rõ vai trò của quản trị quốc gia trong xây dựng xã hội số; đánh giá thực trạng phát triển xã hội số tại Việt Nam; đồng thời, tham chiếu kinh nghiệm quốc tế nhằm đề xuất giải pháp hoàn thiện thể chế, pháp luật và nâng cao năng lực quản trị quốc gia, qua đó, bảo đảm sự phát triển hiệu quả và bền vững của xã hội số ở Việt Nam là yêu cầu cần thiết.

1. Khái lược về xã hội số và quản trị quốc gia

Trong kỷ nguyên chuyển đổi số, những tiến bộ về công nghệ số đã mở ra nhiều cơ hội cho sự phát triển trên mọi lĩnh vực nhưng cũng đặt ra những thách thức về thể chế, pháp luật và năng lực quản trị quốc gia. Hai khái niệm trung tâm phản ánh bản chất của quá trình này là xã hội số (digital society) và quản trị quốc gia (national governance/public governance). Việc hiểu rõ nội hàm của hai khái niệm này không chỉ mang ý nghĩa học thuật, mà còn có giá trị thực tiễn đối với việc hoạch định chính sách phát triển bền vững và quản trị quốc gia trong kỷ nguyên số.

1.1. Xã hội số

Xã hội số đã và đang là vấn đề thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều học giả cũng như các tổ chức trong và ngoài nước. Matthew và các cộng sự đưa ra định nghĩa, xã hội số là cộng đồng mà mọi hoạt động đều được vận hành dựa trên công nghệ số; các phương thức điện tử và môi trường không giấy tờ trở thành chuẩn mực; được hình thành từ quá trình tích hợp các công nghệ thông tin và truyền thông vào đời sống xã hội[1].

Mặc dù xã hội số được xem như xu thế phát triển tất yếu của thời đại công nghệ, song còn nhiều ý kiến băn khoăn về việc xây dựng và vận hành mô hình mới này. Bởi không phải mọi quốc gia đều có điều kiện hạ tầng và thể chế để chuyển đổi toàn diện sang xã hội số, vì thế, việc coi đây là tiến trình tất yếu có thể tạo ra áp lực quá mức, dẫn đến khoảng cách số giữa các nhóm xã hội[2]. Bên cạnh đó, sự mở rộng của dữ liệu và giám sát số dẫn đến lo ngại về sự vi phạm các quyền riêng tư, đặc biệt, việc xây dựng xã hội số không bao gồm cơ chế bảo vệ dữ liệu hiệu quả[3]. Ngay cả vai trò của Nhà nước trong xã hội số cũng là vấn đề gây tranh luận khi Nhà nước tập trung vào việc bảo đảm an toàn dữ liệu, quản trị rủi ro có thể dẫn đến can thiệp quá mức làm cản trở đổi mới sáng tạo[4].

Những tranh luận trên cho thấy, xã hội số không chỉ là kết quả của tiến bộ công nghệ, mà còn là lựa chọn chính sách, đòi hỏi sự cân bằng giữa phát triển kinh tế - xã hội và các giải pháp pháp lý bảo đảm quyền con người. Từ góc độ luật học, xã hội số không chỉ là lãnh địa công nghệ, mà còn là không gian pháp lý mới, nơi các quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của các chủ thể liên quan được xác lập, bảo đảm và thực thi trên môi trường số. Theo cách tiếp cận đó, Liên minh Viễn thông Quốc tế (ITU) cho rằng, xã hội số phải bảo đảm quyền tiếp cận công nghệ, bình đẳng hưởng thụ dịch vụ số và an toàn của các chủ thể trong xã hội trong quá trình tương tác trực tuyến[5]. Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc khẳng định, việc xây dựng xã hội số cần đi đôi với hoàn thiện thể chế nhằm bảo đảm chuyển đổi số không tạo khoảng trống pháp lý hoặc xâm phạm quyền con người[6]. Nói cách khác, việc tiếp cận từ góc độ luật học cho phép mở rộng quan niệm về xã hội số, trong đó, đòi hỏi sự kết hợp giữa tiến bộ công nghệ và các chuẩn mực pháp lý nhằm hướng đến môi trường số minh bạch, an toàn, công bằng và tôn trọng quyền con người.

1.2. Quản trị quốc gia và mối quan hệ với việc xây dựng xã hội số

Theo Ngân hàng Thế giới (WB), quản trị quốc gia là toàn bộ cách thức, cơ chế, qua đó, quyền lực công được tổ chức, thực thi và kiểm soát[7]. Trong bối cảnh chuyển đổi số, quản trị quốc gia không còn giới hạn ở quản lý hành chính truyền thống mà đang chuyển dịch sang mô hình quản trị số, nơi mọi quyết định công được xây dựng trên cơ sở dữ liệu, phân tích dự báo và sự tham gia của người dân qua các nền tảng số[8]. Nói cách khác, hoạt động quản trị quốc gia trong bối cảnh chuyển đổi số gắn liền với công cuộc xây dựng và phát triển chính phủ số. Chính phủ số, xã hội số và kinh tế số hiện được nhiều nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam, xác định là ba trụ cột của công cuộc chuyển đổi số quốc gia. Giữa ba trụ cột này có sự tương tác đa chiều, tạo nên động lực để dẫn đến sự thành công của từng trụ cột và của cả tiến trình chuyển đổi số quốc gia.

Mối quan hệ giữa quản trị quốc gia trong bối cảnh chuyển đổi số hay xây dựng chính phủ số với việc xây dựng xã hội số thể hiện qua các khía cạnh sau:

Thứ nhất, quản trị quốc gia là nền tảng kiến tạo xã hội số. Sự phát triển của xã hội số phụ thuộc trực tiếp vào năng lực quản trị quốc gia, đặc biệt là khả năng định hướng chính sách, đầu tư hạ tầng và xây dựng khung pháp luật minh bạch. Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD), chính quyền số hay quản trị số là yếu tố thiết yếu để chuyển đổi các quy trình và dịch vụ của chính quyền theo hướng tăng cường khả năng thích ứng, đáp ứng yêu cầu của người dân cũng như độ tin cậy của công dân đối với khu vực công[9]. Nhà nước đóng vai trò dẫn dắt xã hội số bằng cách xây dựng chính phủ số, triển khai dịch vụ công trực tuyến, mở dữ liệu công và thúc đẩy hợp tác công - tư trong lĩnh vực này.

Thứ hai, xã hội số thúc đẩy cải cách quản trị quốc gia. Ở chiều ngược lại, xã hội số tạo áp lực và động lực cho cải cách quản trị quốc gia. Khi người dân có khả năng tương tác trực tuyến, tham gia tham vấn và giám sát chính sách trực tuyến, mô hình quản trị quốc gia sẽ buộc phải chuyển từ hành chính mệnh lệnh sang quản trị mở và dựa trên dữ liệu. Nhà nước số hóa quy trình ra quyết định, áp dụng trí tuệ nhân tạo (AI) để phát hiện sớm rủi ro và nâng cao hiệu quả cung ứng dịch vụ công.

Thứ ba, xã hội số tái cấu trúc mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân. Người dân không còn là đối tượng thụ hưởng thụ động mà trở thành chủ thể đồng kiến tạo chính sách. Các nền tảng tham vấn trực tuyến, dữ liệu mở và mạng xã hội về chính sách công giúp gia tăng tính minh bạch, nâng cao niềm tin và sự tham gia của người dân. Sự tham gia của công dân trong không gian số là minh chứng cho việc phân bổ lại quyền lực trong xã hội, hướng tới quản trị quốc gia có tính hợp tác và bao trùm hơn.

2. Chủ trương, chính sách, pháp luật về xã hội số và vai trò của quản trị quốc gia

Đảng xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là một trong những đột phá chiến lược hàng đầu của đất nước. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng nhấn mạnh: “Phát triển nhanh và bền vững dựa chủ yếu vào khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số…; phát triển kinh tế số, xã hội số…”. Ngoài ra, chủ trương này còn được xác định thông qua một số nghị quyết của Bộ Chính trị như Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia (Nghị quyết số 57-NQ/TW); Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới và tiếp tục được xác định tại dự thảo Chương trình hành động của Ban Chấp hành Trung ương Đảng thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng…

Nhà nước đã cụ thể hóa chủ trương trên của Đảng thông qua việc ban hành chính sách, pháp luật, đặc biệt là Chương trình chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 (được phê duyệt tại Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020 của Thủ tướng Chính phủ). Chương trình này đặt mục tiêu phát triển đồng thời ba trụ cột: Chính phủ số, kinh tế số, xã hội số. Đồng thời, với Chương trình này, Nhà nước đang đẩy mạnh quá trình xây dựng hệ thống pháp luật về chuyển đổi số. Trong đó, Luật Chuyển đổi số năm 2025 đóng vai trò luật khung nhằm thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng về chuyển đổi số[10].

Từ các văn bản trên, có thể chỉ ra một số yếu tố chính thể hiện vai trò quản trị quốc gia trong việc xây dựng xã hội số ở Việt Nam. Cụ thể:

- Định hướng và kiến tạo: Đảng và Nhà nước không đứng ngoài thị trường và xã hội, mà chủ động lãnh đạo, chỉ đạo hoạt động chuyển đổi số. Nghị quyết số 57-NQ/TW nêu rõ, Đảng phải lãnh đạo toàn diện, phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị đối với phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.

- Thể chế hóa và quản lý: Nhà nước xây dựng và thực hiện chính sách, pháp luật về chuyển đổi số. Luật Chuyển đổi số năm 2025 xác lập hành lang pháp lý đồng bộ, tổng thể, điều chỉnh và thúc đẩy quá trình chuyển đổi số quốc gia.

- Vận hành và giám sát: Nhà nước tổ chức, chỉ đạo và giám sát thực thi các chương trình, kế hoạch liên quan đến xây dựng xã hội số. Cụ thể, trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2021 - 2030, Nhà nước đặt mục tiêu “có thể chế quản lý hiện đại, cạnh tranh, hiệu lực, hiệu quả”.

- Hợp tác quốc tế và chủ quyền số: Nghị quyết số 57-NQ/TW xác định, việc bảo đảm “chủ quyền quốc gia trên không gian mạng; an ninh mạng, an ninh dữ liệu”, “tăng cường hợp tác quốc tế trong phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số” là yêu cầu, nhiệm vụ xuyên suốt.

Như vậy, chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước hiện nay đã đặt phát triển xã hội số là mục tiêu chiến lược quốc gia, đồng hành cùng Chính phủ số và kinh tế số. Quá trình này không tách rời mà đi kèm với cải cách thể chế, đổi mới quản trị quốc gia.

3. Thực trạng phát triển xã hội số gắn với hoạt động quản trị quốc gia ở Việt Nam

3.1. Thực trạng phát triển xã hội số

Thời gian qua, Việt Nam đã đạt được một số thành tựu trong xây dựng xã hội số. Theo Báo cáo Chỉ số chuyển đổi số quốc gia năm 2024, chỉ số “xã hội số” đạt 0,7692, tăng 13,4% so với năm 2023[11]. Thành tựu đạt được còn thể hiện thông qua việc phát triển nền tảng số như Cổng dịch vụ công quốc gia, Cổng pháp luật quốc gia, ứng dụng VNeID, nền tảng học tập trực tuyến, y tế số và thanh toán điện tử... Theo Bộ Thông tin và Truyền thông (nay là Bộ Khoa học và Công nghệ), đến cuối năm 2024, số lượng người dùng ứng dụng VneID là trên 55,25 triệu; 90% số người tham gia bảo hiểm y tế có sổ sức khỏe điện tử; 100% học sinh, sinh viên có hồ sơ học tập số; 100% bệnh viện, trung tâm y tế công, cơ sở giáo dục đại học triển khai thanh toán trực tuyến…[12]. Điều này cho thấy, xã hội số đang dần hình thành và phát triển ở Việt Nam.

Tuy nhiên, quá trình xây dựng xã hội số ở Việt Nam trên thực tế còn nhiều tồn tại, hạn chế như:

Thứ nhất, còn tồn tại khoảng cách số giữa các nhóm đối tượng và các vùng, miền. Theo Kết quả điều tra, đến năm 2024, chỉ có 10,3% số hộ gia đình dân tộc thiểu số có sử dụng máy tính; tỷ lệ đồng bào sử dụng điện thoại, trong đó có điện thoại thông minh tuy có tăng nhưng chỉ tập trung ở các dân tộc có thu nhập cao[13]. Bên cạnh đó, một số nhóm xã hội như người cao tuổi, người khuyết tật… còn gặp khó khăn khi tiếp cận, sử dụng các nền tảng số[14]. Điều này tạo “khoảng cách số” và sự bất bình đẳng trong tiếp cận công nghệ số của người dân, đồng thời, là một trong những rào cản chính đối với quá trình phát triển xã hội số.

Thứ hai, hạn chế về thể chế pháp lý. Mặc dù đã có nhiều văn bản định hướng, khung pháp lý cho xã hội số vẫn chưa hoàn chỉnh. Các vấn đề liên quan đến dữ liệu, bảo vệ dữ liệu cá nhân, quyền riêng tư, an ninh mạng, quản lý nền tảng số, giao dịch điện tử… được quy định tại nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau, như: Luật Giao dịch điện tử năm 2023, Luật Dữ liệu năm 2024, Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2025, Nghị định số 118/2025/NĐ-CP ngày 09/6/2025 của Chính phủ về thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông tại bộ phận một cửa và Cổng dịch vụ công quốc gia… Trong đó, một số vấn đề được quy định trùng lặp hoặc không thống nhất như dữ liệu, dịch vụ công trực tuyến… Chẳng hạn, việc xác định, phân loại dữ liệu được quy định khác nhau giữa các văn bản, dẫn đến khó khăn trong tiếp cận, hiểu và triển khai thực hiện. Theo Điều 3 Luật Dữ liệu năm 2024, dữ liệu hay dữ liệu số được phân loại thành một số nhóm như dữ liệu dùng chung, dữ liệu dùng riêng; dữ liệu mở, dữ liệu gốc; dữ liệu quan trọng, dữ liệu cốt lõi. Điều 3 Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã bãi bỏ quy định giải thích về “dữ liệu số” và xác định dữ liệu điện tử là một loại dữ liệu được “tạo ra, xử lý bằng phương tiện điện tử”. Điều 3 Nghị định số 47/2020/NĐ-CP ngày 09/4/2020 của Chính phủ về quản lý, kết nối và chia sẻ dữ liệu số của cơ quan nhà nước đề cập đến dữ liệu số, dữ liệu mở, dữ liệu danh mục dùng chung, dữ liệu chủ…

Thứ ba, nhận thức và văn hóa số chưa đồng đều. Rào cản lớn trong chuyển đổi số tại các địa phương là chưa huy động được sự đồng thuận, đồng lòng của các bên; chính vì vậy, “ai được giao phụ trách chuyển đổi số thì người đó làm, trong khi nhiều người chỉ làm đối phó, làm cho xong”[15]. Kỹ năng số chưa được phổ cập rộng rãi trong xã hội[16] cũng phần nào ảnh hưởng đến việc hình thành nhận thức và văn hóa số cho người dân trong tiến trình xây dựng xã hội số.

Thứ tư, dữ liệu số còn phân mảnh. Một số cơ sở dữ liệu quốc gia đã được hình thành và triển khai (như về dân cư; bảo hiểm; đăng ký doanh nghiệp; cán bộ, công chức, viên chức; thủ tục hành chính..) nhưng còn chậm. Bên cạnh đó, các cơ sở dữ liệu còn rời rạc, phân mảnh, chưa được kết nối, chia sẻ và khai thác hiệu quả[17], dẫn đến chồng chéo và thiếu thống nhất trong triển khai thiết lập nền tảng số. Đây là một trong những thách thức lớn làm hạn chế khả năng ra quyết định dựa trên dữ liệu khi tiến hành các hoạt động quản lý xã hội, xây dựng và phát triển xã hội số.

3.2. Nguyên nhân của hạn chế trong phát triển xã hội số, từ phương diện quản trị quốc gia

Từ góc độ lý luận cho thấy, những hạn chế trên có nguyên nhân sâu xa từ quản trị quốc gia. Cụ thể:

- Hạn chế về cách tiếp cận.

Nhận thức lý luận về xã hội số ở Việt Nam chưa tiệm cận với xu hướng chung trên thế giới. Cụ thể, khái niệm “xã hội số” mới được xác định một cách đơn giản là “xã hội trong đó tổ chức, cá nhân chủ yếu hoạt động, tương tác thông qua dịch vụ số, hệ thống số, nền tảng số và môi trường số”[18]. Đối chiếu với nhận thức phổ biến trên thế giới cho thấy, quan niệm hay cách tiếp cận về xã hội số ở Việt Nam hiện mới tiệm cận ở mức độ kỹ thuật, chưa thể hiện rõ ràng, cụ thể những yêu cầu về tính minh bạch, an toàn, công bằng và tôn trọng quyền con người trong môi trường số.

- Hạn chế trong năng lực hoạch định và điều phối chính sách số.

Xét tổng quát, tư duy và phương thức quản trị trong nhiều lĩnh vực ở Việt Nam mang nặng tính hành chính - mệnh lệnh, chưa thích ứng với đặc trưng mở, linh hoạt và biến đổi nhanh chóng của xã hội số. Quản trị số đòi hỏi Nhà nước vận hành theo mô hình “mở - dữ liệu - tương tác”, nhưng nhiều cấp, ngành vẫn đang hoạt động theo cơ chế phân tán, cục bộ trong quá trình ra quyết định, thể hiện thông qua việc thiết lập và triển khai các cơ sở dữ liệu quốc gia còn rời rạc, chưa bảo đảm sự liên thông, kết nối. Mặc dù Việt Nam đã ban hành Chương trình chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 và thành lập Ủy ban Quốc gia về chuyển đổi số, song việc điều phối giữa các bộ, ngành, địa phương còn thiếu đồng bộ. Việc mỗi bộ, ngành xây dựng một kênh riêng biệt mà chưa có cơ chế tích hợp hiệu quả làm giảm tính kết nối của toàn hệ thống.

- Hạn chế trong xây dựng thể chế, pháp luật.

Một nguyên nhân quan trọng là quá trình thể chế hóa chính sách số còn chậm so với thực tiễn phát triển công nghệ. Nhiều quy định pháp luật hiện hành, như về an ninh mạng, dữ liệu hay giao dịch điện tử… vẫn đang trong giai đoạn hoàn thiện, thiếu tính đồng bộ. Xét chung, cơ chế pháp luật hiện nay nặng về quản lý rủi ro, thể hiện qua việc Nhà nước tập trung vào việc bảo đảm an toàn dữ liệu và an ninh quốc gia, có thể dẫn đến sự can thiệp quá mức làm cản trở đổi mới sáng tạo trong các hoạt động của doanh nghiệp và người dân dựa trên công nghệ số.

- Hạn chế trong tổ chức thực thi và chất lượng nguồn nhân lực.

Nguồn nhân lực chuyên trách về công nghệ thông tin, công nghệ số ở các cơ quan, địa phương còn thiếu và chưa đồng đều[19]; một số cán bộ, công chức còn lúng túng khi xử lý công việc mới do chưa được đào tạo bài bản, chưa được trang bị kỹ năng vận hành các nền tảng số, xử lý dữ liệu, dẫn đến người dân còn chờ đợi mất nhiều thời gian[20]. Điều này xuất phát từ thiếu chiến lược tổng thể về giáo dục và đào tạo kỹ năng số, đồng thời cho thấy khâu xây dựng, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực - yếu tố cốt lõi của quản trị quốc gia, chưa được chú trọng đúng mức. Bên cạnh đó, sự lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện ở một số bộ, ngành, địa phương còn “thiếu quyết liệt, sâu sát, cụ thể, thiếu quyết tâm chính trị, vai trò người đứng đầu chưa được phát huy”[21]. Điều này phần nào ảnh hưởng đến hiệu lực, hiệu quả quản trị quốc gia trong tiến trình xây dựng xã hội số, đặc biệt là việc chuyển hóa chính sách thành hành động cụ thể.

- Hạn chế trong quản trị dữ liệu và minh bạch số.

Việc quản trị dữ liệu quốc gia còn phân mảnh là một trong những nguyên nhân trực tiếp của tình trạng thiếu kết nối và chia sẻ thông tin giữa các cơ quan. Hiện, nhiều bộ, ngành vẫn duy trì cơ sở dữ liệu riêng, chưa chia sẻ, liên thông[22]. Điều này không chỉ làm giảm hiệu quả điều hành, mà còn gây lãng phí lớn khi đầu tư trùng lặp. Một khía cạnh khác là thiếu minh bạch và trách nhiệm giải trình trong quản trị số, thể hiện ở việc chưa có cơ chế rõ ràng để người dân tham gia giám sát hoạt động quản lý dữ liệu một cách thực chất, hiệu quả, cũng như chưa có quy định pháp luật đầy đủ về bảo vệ quyền kỹ thuật số. Tình trạng này dẫn đến sự e ngại nhất định của người dân, doanh nghiệp trong việc sử dụng các dịch vụ công trực tuyến cũng như các hoạt động khác trên nền tảng số.

Những tồn tại trong phát triển xã hội số của Việt Nam đều có nguyên nhân trực tiếp, gián tiếp từ những hạn chế trong quản trị quốc gia. Điều này cho thấy, xây dựng xã hội số không chỉ là vấn đề công nghệ, mà là phép thử đối với năng lực quản trị quốc gia hiện đại.

4. Giải pháp đổi mới quản trị quốc gia liên quan đến phát triển xã hội số

Để hướng tới mục tiêu trở thành quốc gia số, hoàn thành xây dựng xã hội số đến năm 2030, Nhà nước cần triển khai đồng bộ một số giải pháp sau:

Thứ nhất, hoàn thiện thể chế và khung pháp luật cho xã hội số.

Giải pháp đầu tiên, mang tính nền tảng là xây dựng khung thể chế số thống nhất, đồng bộ, linh hoạt và có khả năng thích ứng cao với sự phát triển của công nghệ. Kinh nghiệm của nhiều quốc gia cho thấy, cần sớm hình thành khuôn khổ quản trị số hiện đại. Ví dụ, Estonia xây dựng mô hình X-Road với kiến trúc dữ liệu thống nhất, cho phép hơn 99% dịch vụ công được cung cấp trực tuyến và bảo đảm tính minh bạch, chia sẻ dữ liệu liên thông một cách an toàn[23]; Hàn Quốc triển khai hệ thống Digital Government hướng tới ra quyết định dựa trên dữ liệu và tăng cường trách nhiệm giải trình thông qua giám sát dịch vụ công theo thời gian thực[24]; trong khi Singapore áp dụng cách tiếp cận kết hợp khung pháp luật linh hoạt với chuẩn an ninh dữ liệu nghiêm ngặt, từ đó, giữ vững niềm tin xã hội vào Chính phủ số[25]…

Từ kinh nghiệm của những quốc gia trên, Luật Chuyển đổi số năm 2025 và các luật liên quan cần quy định những vấn đề cấp thiết gồm:

- Thành lập cơ quan quản trị dữ liệu quốc gia với chức năng điều phối liên ngành, thiết lập tiêu chuẩn về dữ liệu mở, dữ liệu dùng chung và bảo đảm tính tương tác giữa các nền tảng số của Chính phủ.

- Quy định rõ cơ chế phối hợp liên thông giữa các bộ, ngành, địa phương theo nguyên tắc “một nguồn cung - nhiều bên sử dụng” để làm giảm phân mảnh dữ liệu và tránh đầu tư trùng lặp.

- Quy định các biện pháp bảo đảm quyền tiếp cận dữ liệu của công dân, nhất là dữ liệu do cơ quan nhà nước tạo ra hoặc quản lý theo tinh thần khuyến nghị của Liên hợp quốc về dữ liệu mở và trách nhiệm giải trình trong khu vực công[26].

- Trong bối cảnh AI được ứng dụng sâu, rộng trong quản lý nhà nước, các văn bản pháp luật cần xác định mô hình quản trị rủi ro AI, trong đó, tham khảo, tiếp thu có chọn lọc những khuyến nghị của OECD và Liên minh châu Âu, nhấn mạnh yêu cầu đánh giá rủi ro trước khi triển khai và bảo vệ quyền riêng tư của người dân[27]. Khung quản trị AI cần đi kèm với cơ chế kiểm tra độc lập và công cụ giải trình rõ ràng để duy trì niềm tin của xã hội vào công nghệ số trong khu vực công.

- Các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần rà soát các văn bản quy phạm pháp luật để quy định thống nhất một số vấn đề trong cùng một văn bản như dữ liệu (phân loại, cung cấp, chia sẻ, sử dụng, quản lý dữ liệu, bảo vệ dữ liệu cá nhân), dịch vụ công trực tuyến, AI…

Thứ hai, tăng cường cơ chế điều phối và năng lực thực thi.

Quản trị quốc gia trong xã hội số đòi hỏi cơ chế điều phối mạnh, thống nhất và dựa trên dữ liệu. Theo đó, cần phát huy vai trò của Ủy ban Quốc gia về chuyển đổi số trong việc kết nối, liên thông giữa các bộ, ngành, địa phương trong tiến trình chuyển đổi số, xây dựng xã hội số nói riêng. Đồng thời, áp dụng mô hình “quản trị theo kết quả” (results-based governance), theo đó, mỗi cơ quan được giao chỉ tiêu chuyển đổi số cụ thể, gắn với chỉ số đánh giá hiệu quả quản trị công tương ứng. Việc này giúp đo lường tiến bộ thực tế và tạo động lực cạnh tranh lành mạnh giữa các bộ, ngành, địa phương. Bên cạnh đó, việc điều phối cần kết hợp cơ chế “từ trên xuống” (từ Chính phủ) và “từ dưới lên” (từ chính quyền địa phương, doanh nghiệp và người dân) nhằm bảo đảm tính thích ứng, linh hoạt và sáng tạo. Cách tiếp cận này tương đồng với mô hình quản trị của các nước OECD, nơi “chính quyền số” vận hành như một hệ sinh thái mà không phải một cơ quan hành chính đơn tuyến[28].

Thứ ba, phát triển nguồn nhân lực và năng lực số cho khu vực công.

Nhà nước cần triển khai chương trình quốc gia về phát triển nhân lực số ở khu vực công, tập trung vào ba nhóm năng lực: năng lực số cơ bản (sử dụng các công cụ và nền tảng số trong công việc hàng ngày); năng lực dữ liệu và phân tích (khả năng khai thác, đánh giá và ra quyết định dựa trên dữ liệu); năng lực đổi mới sáng tạo và lãnh đạo số (khả năng thích ứng, quản trị rủi ro và dẫn dắt chuyển đổi). Để phát triển năng lực số cho khu vực công, việc hợp tác với các tổ chức quốc tế như UNDP, OECD và các tập đoàn công nghệ lớn, cơ sở học thuật và cả khu vực tư nhân trong nước để đào tạo nguồn nhân lực số là hướng đi quan trọng. Việc xây dựng năng lực số trong khu vực công cần đi đôi với cơ chế khuyến khích cũng như đánh giá kết quả, hiệu quả thực tế trong hoạt động công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, đặc biệt là người đứng đầu.

Thứ tư, phát triển hạ tầng dữ liệu và cơ chế quản trị dữ liệu quốc gia.

Để khắc phục hạn chế về cơ chế quản trị dữ liệu quốc gia thiếu thống nhất, cần xây dựng chiến lược quốc gia về quản trị dữ liệu với ba trụ cột: (i) hạ tầng dữ liệu tích hợp, hướng tới thiết lập “kho dữ liệu quốc gia” của các bộ, ngành, địa phương nhằm bảo đảm tính liên thông, chuẩn hóa và an toàn thông tin; (ii) cơ chế chia sẻ dữ liệu mở, hướng tới xây dựng Cổng dữ liệu quốc gia (data.gov.vn), cung cấp dữ liệu công khai, minh bạch cho doanh nghiệp và người dân; (iii) chuẩn mực đạo đức và an ninh dữ liệu, hướng tới ban hành Bộ quy tắc đạo đức dữ liệu (Data Ethics Code), kết hợp với cơ chế kiểm định và giám sát độc lập. Việc quản trị dữ liệu thống nhất không chỉ giúp ra quyết định nhanh và chính xác hơn, mà còn giúp tăng cường sự công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình và niềm tin của người dân vào các hoạt động chuyển đổi số quốc gia.

Thứ năm, thúc đẩy niềm tin xã hội và bảo đảm tính bao trùm số.

Xã hội số chỉ có thể bền vững nếu mọi người dân đều được tham gia và hưởng lợi. Do đó, quản trị quốc gia cần bảo đảm nguyên tắc “không ai bị bỏ lại phía sau” trong chuyển đổi số[29]. Theo đó, cần mở rộng các chương trình phổ cập kỹ năng số, đặc biệt, cho nhóm yếu thế như người dân ở vùng sâu, vùng xa, phụ nữ, người cao tuổi, người khuyết tật, đồng bào dân tộc thiểu số… Đồng thời, cần khuyến khích sự tham gia của người dân vào xã hội số, thông qua các nền tảng phản hồi, tham vấn chính sách trực tuyến - một dạng dân chủ điện tử (e-democracy) góp phần nâng cao tính tương tác và trách nhiệm của các cấp chính quyền.

Kết luận

Việc xây dựng xã hội số ở Việt Nam đã chuyển từ định hướng chính sách sang triển khai thực tế với những kết quả ban đầu rõ nét. Tuy nhiên, các kết quả này còn hạn chế, chưa tương xứng với tiềm năng và yêu cầu, do những giới hạn về quản trị quốc gia. Để bứt phá trong xây dựng xã hội số, Việt Nam cần nâng cao năng lực quản trị, hoàn thiện khung pháp luật nền tảng đi đôi với cơ chế “chính quyền mở”. Bên cạnh đó, cần giao thẩm quyền và trách nhiệm rõ ràng cho cơ quan điều phối xã hội số ở cấp quốc gia, kết hợp với đầu tư có trọng tâm cho nhân lực số khu vực công, xây dựng chiến lược quản trị dữ liệu quốc gia và các cơ chế minh bạch, trách nhiệm giải trình để tăng cường niềm tin số. Khi các biện pháp trên được thực thi đồng bộ, xã hội số sẽ trở thành bệ đỡ cho Nhà nước kiến tạo, minh bạch, bao trùm và có năng lực thích ứng cao trong kỷ nguyên số ở Việt Nam./.

Lê Thị Hoàng Minh

Nghiên cứu sinh Trường Đại học Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội,

Giảng viên Trường Đại học Kinh tế - Đại học Đà Nẵng

GS.TS. Vũ Công Giao

Trường Đại học Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội

Ảnh: Internet

[1]. Matthew N.O.Sadiku et al (2022), Digital Society: Overview, https://www.ijtsrd.com/papers/IJTSRD51871.pdf, truy cập ngày 29/12/2025.

[2]. United Nations Conference on Trade and Development (UNCTAD) (2021), Digital Economy Report 2021: Cross-border Data Flows and Development (Geneva: UNCTAD, 2021), https://unctad.org/system/files/official-document/der2021_en.pdf, truy cập ngày 29/12/2025, tr. 20 - 25.

[3]. Shoshana Zuboff (2021), The Age of Surveillance Capitalism: The fight for a human future at the new frontier of power, PublicAffairs, New York, tr. 85 - 93.

[4]. OECD (2020), The OECD DigitalGovernment PolicyFramework: Six dimensionsof a Digital Government, https://www.oecd.org/content/dam/oecd/en/publications/reports/2020/10/the-oecd-digital-government-policy-framework_11dd6aa8/f64fed2a-en.pdf, truy cập ngày 29/12/2025, tr. 11 - 14.

[5]. International Telecommunication Union (ITU) (2023), Measuring Digital Development: Facts and Figures 2023, https://www.itu.int/itu-d/reports/statistics/wp-content/uploads/sites/5/2023/11/Measuring-digital-development-Facts-and-figures-2023-E.pdf, truy cập ngày 29/12/2025, tr. 8 - 10.

[6]. UN Human Rights Council (2023), Human rights and technical standard-setting processes for new and emerging digital technologiesA/HRC/53/42, https://docs.un.org/en/A/HRC/53/42, tr. 6 - 9.

[7]. World Bank Group (2024), Worldwide Governance Indicators, https://www.worldbank.org/en/publication/worldwide-governance-indicators/documentation, truy cập ngày 29/12/2025.

[8]. OECD (2020), tlđd, tr. 6.

[9]. OECD (2024), 2023 OECD Digital Government Index, https://www.oecd.org/content/dam/oecd/en/publications/reports/2024/01/2023-oecd-digital-government-index_b11e8e8e/1a89ed5e-en.pdf, truy cập ngày 29/12/2025.

[10]. Trung tâm Truyền thông Khoa học và Công nghệ - Bộ Khoa học và Công nghệ (2025), Quốc hội thông qua Luật Chuyển đổi số: Hoàn thiện khung pháp lý cho quốc gia số, https://mst.gov.vn/quoc-hoi-thong-qua-luat-chuyen-doi-so-hoan-thien-khung-phap-ly-cho-quoc-gia-so-197251213001547649.htm, truy cập ngày 29/12/2025.

[11]. Bộ Khoa học và Công nghệ (2025), Công bố kết quả xếp hạng mức độ Chuyển đổi số năm 2024: Việt Nam tăng tốc, hướng tới chuyển đổi số toàn diện, https://mst.gov.vn/cong-bo-ket-qua-xep-hang-muc-do-chuyen-doi-so-nam-2024-viet-nam-tang-toc-huong-toi-chuyen-doi-so-toan-dien-197251021183853514.htm, truy cập ngày 29/12/2025.

[12]. Bộ Thông tin và Truyền thông (2025), Báo cáo tóm tắt Kết quả chuyển đổi số quốc gia năm 2024 và Kế hoạch trọng tâm năm 2025, https://dti.dienbien.gov.vn/Cms_Data/Contents/CDS/Folders/QLTaiLieu/~contents/4RP2C4EL9MMJ2624/06-02-2025-10-00-14-5805984-Bao-cao-tom-tat-CDSQG-2024-KH-2025-25026-Final.pdf, truy cập ngày 29/12/2025, tr. 3.

[13]. Minh Anh (2024), Bảo đảm quyền tiếp cận công nghệ số cho người dân, https://nhandan.vn/bao-dam-quyen-tiep-can-cong-nghe-so-cho-nguoi-dan-post822233.html, truy cập ngày 29/12/2025.

[14]. Minh Anh (2024), tlđd.

[15]. Cổng Thông tin điện tử Đảng bộ tỉnh Hưng Yên (2025), Nhận diện cơ hội và thách thức trong quá trình chuyển đổi số ở Việt Nam, https://hungyen.dcs.vn/nhan-dien-co-hoi-va-thach-thuc-trong-qua-trinh-chuyen-doi-so-o-viet-nam-c225113.html, truy cập ngày 29/12/2025.

[16]. Bộ Thông tin và Truyền thông (2025), tlđd.

[17]. Bộ Thông tin và Truyền thông (2025), tlđd.

[18]. Luật Chuyển đổi số năm 2025.

[19]. Bộ Thông tin và Truyền thông (2025), tlđd.

[20]. Bộ Khoa học và Công nghệ (2025), Báo cáo Kết quả sơ kết 07 tháng đầu năm 2025 thực hiện các nhiệm vụ phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số quốc gia, cải cách hành chính, Đề án 06 và nhiệm vụ 05 tháng cuối năm 2025 (Phục vụ Phiên họp thường kỳ Chính phủ tháng 7/2025), tr. 24.

[21]. Bộ Thông tin và Truyền thông (2025), tlđd, tr. 28.

[22]. Bộ Thông tin và Truyền thông (2025), tlđd, tr. 28

[23]. E-Estonia (2022), e-Governance in Practice, https://ega.ee/wp-content/uploads/2016/06/e-Estonia-e-Governance-in-Practice.pdf, truy cập ngày 29/12/2025, tr. 5 - 9.

[24]. OECD (2025), Digital Government Review of Korea: HarnessingDigital and Data to Transform Government, https://www.oecd.org/content/dam/oecd/en/publications/reports/2025/10/digital-government-review-of-korea_f49872f3/9defc197-en.pdf, truy cập ngày 29/12/2025, tr. 14 - 18.

[25]. Smart Nation and Digital Government Office (SNDGO) (2018), Digital Government Blueprint: A Singapore Government that is digital to the core, and serves with heart, https://file.go.gov.sg/digitalgovernmentblueprint.pdf, truy cập ngày 29/12/2025, tr. 5.

[26]. United Nations (2022), E-Government Survey 2022: The Future of Digital Government, https://desapublications.un.org/sites/default/files/publications/2022-09/Web%20version%20-E-Government%202022.pdf, truy cập ngày 29/12/2025, tr. 45 - 47.

[27]. OECD (2022), OECD Framework for the Classification of AI Systems, https://www.oecd.org/content/dam/oecd/en/publications/reports/2022/02/oecd-framework-for-the-classification-of-ai-systems_336a8b57/cb6d9eca-en.pdf, truy cập ngày 29/12/2025, tr. 6 - 10.

[28]. OECD (2020), tlđd, tr. 20.

[29]. United Nation (2024), E-Government Survey 2024 Accelerating digital transformation for sustainable development with the addendum on Artificial Intelligence, https://publicadministration.un.org/egovkb/en-us/Reports/UN-E-Government-Survey-2024, truy cập ngày 29/12/2025, tr. 24.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Bộ Khoa học và Công nghệ (2025), Báo cáo Kết quả sơ kết 07 tháng đầu năm 2025 thực hiện các nhiệm vụ phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số quốc gia, cải cách hành chính, Đề án 06 và nhiệm vụ 05 tháng cuối năm 2025 (Phục vụ Phiên họp thường kỳ Chính phủ tháng 7/2025).

2. Bộ Khoa học và Công nghệ (2025), Công bố kết quả xếp hạng mức độ chuyển đổi số năm 2024: Việt Nam tăng tốc, hướng tới chuyển đổi số toàn diện, https://mst.gov.vn/cong-bo-ket-qua-xep-hang-muc-do-chuyen-doi-so-nam-2024-viet-nam-tang-toc-huong-toi-chuyen-doi-so-toan-dien-197251021183853514.htm, truy cập ngày 29/12/2025.

3. Bộ Thông tin và Truyền thông (2025), Báo cáo tóm tắt Kết quả chuyển đổi số quốc gia năm 2024 và kế hoạch trọng tâm năm 2025, https://dti.dienbien.gov.vn/Cms_Data/Contents/CDS/Folders/QLTaiLieu/~contents/4RP2C4EL9MMJ2624/06-02-2025-10-00-14-5805984-Bao-cao-tom-tat-CDSQG-2024-KH-2025-25026-Final.pdf, truy cập ngày 29/12/2025.

4. Bộ Tư pháp (2025), Hoàn thiện hệ thống pháp luật về chuyển đổi số quốc gia, https://dx.moj.gov.vn/hoan-thien-he-thong-phap-luat-ve-chuyen-doi-so-quoc-gia-1090.htm, truy cập ngày 29/12/2025.

5. Cổng Thông tin điện tử Đảng bộ tỉnh Hưng Yên (2025), Nhận diện cơ hội và thách thức trong quá trình chuyển đổi số ở Việt Nam, https://hungyen.dcs.vn/nhan-dien-co-hoi-va-thach-thuc-trong-qua-trinh-chuyen-doi-so-o-viet-nam-c225113.html, truy cập ngày 29/12/2025.

6. E-Estonia (2022), e-Governance in Practice, https://ega.ee/wp-content/uploads/2016/06/e Estonia-e-Governance-in-Practice.pdf, truy cập ngày 29/12/2025.

7. InternationalTelecommunication Union (ITU) (2022), Two-thirds of the world’s population uses the Internet, but 2.7 billion people remain offline, https://www.itu.int/itu-d/reports/statistics/2022/11/24/ff22-internet-use/, truy cập ngày 29/12/2025.

8. International Telecommunication Union (ITU) (2023), Measuring Digital Development: Facts and Figures 2023, https://www.itu.int/itu-d/reports/statistics/wp-content/uploads/sites/5/2023/11/Measuring-digital-development-Facts-and-figures-2023-E.pdf, truy cập ngày 29/12/2025.

9. Matthew N.O.Sadiku et al (2022), Digital Society: Overview, https://www.ijtsrd.com/papers/IJTSRD51871.pdf, truy cập ngày 29/12/2025.

10. Minh Anh (2024), Bảo đảm quyền tiếp cận công nghệ số cho người dân, https://nhandan.vn/bao-dam-quyen-tiep-can-cong-nghe-so-cho-nguoi-dan-post822233.html, truy cập ngày 29/12/2025.

11. OECD (2020), The OECD DigitalGovernment PolicyFramework: Six dimensionsof a Digital Government, https://www.oecd.org/content/dam/oecd/en/publications/reports/2020/10/the-oecd-digital-government-policy-framework_11dd6aa8/f64fed2a-en.pdf, truy cập ngày 29/12/2025.

12. OECD (2022), OECD Framework for the Classification of AI Systems, https://www.oecd.org/content/dam/oecd/en/publications/reports/2022/02/oecd-framework-for-the-classification-of-ai-systems_336a8b57/cb6d9eca-en.pdf, truy cập ngày 29/12/2025.

13. OECD (2024), 2023 OECD Digital Government Index, https://www.oecd.org/content/dam/oecd/en/publications/reports/2024/01/2023-oecd-digital-government-index_b11e8e8e/1a89ed5e-en.pdf, truy cập ngày 29/12/2025.

14. OECD (2025), Digital Government Review of Korea: HarnessingDigital and Data to Transform Government, https://www.oecd.org/content/dam/oecd/en/publications/reports/2025/10/digital-government-review-of-korea_f49872f3/9defc197-en.pdf, truy cập ngày 29/12/2025.

15. Shoshana Zuboff (2021), The Age of Surveillance Capitalism: The fight for a human future at the new frontier of power, PublicAffairs, New York.

16. Smart Nation and Digital Government Office (SNDGO) (2018), Digital Government Blueprint: A Singapore Government that is digital to the core, and serves with heart, https://file.go.gov.sg/digitalgovernmentblueprint.pdf, truy cập ngày 29/12/2025.

17. Trung tâm Truyền thông Khoa học và Công nghệ - Bộ Khoa học và Công nghệ (2025), Quốc hội thông qua Luật Chuyển đổi số: Hoàn thiện khung pháp lý cho quốc gia số, https:// mst.gov.vn/quoc-hoi-thong-qua-luat-chuyen-doi-so-hoan-thien-khung-phap-ly-cho-quoc-gia-so-197251213001547649.htm, truy cập ngày 29/12/2025.

18. UN Human Rights Council (2023), Human rights and technical standard-setting processes for new and emerging digital technologiesA/HRC/53/42, https://docs.un.org/en/A/HRC/53/42.

19. United Nation (2024), E-Government Survey 2024 Accelerating digital transformation for sustainable development with the addendum on Artificial Intelligence, https://publicadministration.un.org/egovkb/en-us/Reports/UN-E-Government-Survey-2024, truy cập ngày 29/12/2025.

20. United Nations (2022), E-Government Survey 2022: The Future of Digital Government, https://desapublications.un.org/sites/default/files/publications/2022-09/Web%20version%20E-Government%202022.pdf, truy cập ngày 29/12/2025.

21. United Nations Conference on Trade and Development (UNCTAD) (2021), Digital Economy Report 2021: Cross-border Data Flows and Development (Geneva: UNCTAD, 2021), https://unctad.org/system/files/official-document/der2021_en.pdf, truy cập ngày 29/12/2025.

22. World Bank Group (2024), Worldwide Governance Indicators, https://www.worldbank.org/en/publication/worldwide-governance-indicators/documentation, truy cập ngày 29/12/2025.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số Kỳ 1 (444) tháng 1/2026)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Bảo đảm tiến độ, chất lượng các nhiệm vụ chuyển đổi số

Bảo đảm tiến độ, chất lượng các nhiệm vụ chuyển đổi số

Ngày 27/02, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Hải Ninh, Trưởng Ban Chỉ đạo của Bộ Tư pháp về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và Đề án 06/CP chủ trì phiên họp giao ban của Ban Chỉ đạo. Cùng dự cuộc họp có Thứ trưởng Bộ Tư pháp Mai Lương Khôi, Phó Trưởng ban Ban Chỉ đạo.
Chuyển đổi số công tác tư pháp ở Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và kiến nghị

Chuyển đổi số công tác tư pháp ở Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và kiến nghị

Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, với sự phát triển mạnh mẽ của dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo (AI), điện toán đám mây, công nghệ chuỗi khối (blockchain)… làm thay đổi sâu sắc phương thức quản trị nhà nước và cung cấp dịch vụ công.
Đột phá thể chế vì sức khỏe Nhân dân: Hệ thống chính sách lấy con người làm gốc

Đột phá thể chế vì sức khỏe Nhân dân: Hệ thống chính sách lấy con người làm gốc

Trong không khí xuân Bính Ngọ năm 2026, công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân tiếp tục được Đảng, Nhà nước đặc biệt quan tâm với nhiều chính sách mang tính đột phá. Ngày 09/9/2025, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 72-NQ/TW có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, thể hiện sự quan tâm sâu sắc của Đảng đối với sức khỏe của người dân hướng đến mục tiêu xây dựng nước Việt Nam khỏe mạnh, mọi người dân đều được chăm sóc sức khỏe, sống lâu, sống khỏe, sống lành mạnh, nâng cao thể chất, tinh thần và chủ động phòng ngừa bệnh tật trong toàn xã hội, góp phần quan trọng thúc đẩy phát triển đất nước giàu mạnh, văn minh, thịnh vượng trong kỷ nguyên mới. Đồng chí Đào Hồng Lan, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Đảng ủy, Bộ trưởng Bộ Y tế nhấn mạnh, sức khỏe của người dân phải được đặt ở vị trí trung tâm trong mọi chiến lược phát triển, là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội. Những chia sẻ của Bộ trưởng mở ra bức tranh toàn diện về định hướng chăm sóc sức khỏe suốt đời, từ phòng bệnh chủ động, giảm chi phí y tế, đến xây dựng hệ thống y tế công bằng, bền vững cho mọi người dân.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Trong hành trình chăm sóc sức khỏe người dân, có một mắt xích âm thầm nhưng vô cùng quan trọng: bảo quản thuốc. Chất lượng của từng viên thuốc, từng lọ vaccine hay mỗi loại dược liệu đều phụ thuộc tuyệt đối vào môi trường chúng được gìn giữ. Chỉ một biến động nhỏ về nhiệt độ, độ ẩm hay ánh sáng cũng đủ ảnh hưởng đến hiệu lực điều trị và an toàn của sản phẩm.
Hoàn thiện thể chế pháp luật để khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trở thành động lực phát triển quốc gia

Hoàn thiện thể chế pháp luật để khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trở thành động lực phát triển quốc gia

Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã và đang thay đổi căn bản phương thức sản xuất, quản trị và đời sống xã hội trên phạm vi toàn cầu. Đối với Việt Nam, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo (KHCN&ĐMST) và chuyển đổi số (CĐS) không chỉ là xu thế tất yếu mà còn là yêu cầu cấp bách để bứt phá, vượt qua bẫy thu nhập trung bình và hiện thực hóa khát vọng dân tộc. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy công nghệ luôn vận động với tốc độ vượt xa khả năng thích ứng của pháp luật hiện hành. Do đó, việc xây dựng hệ thống pháp luật đồng bộ, hiện đại và mang tính kiến tạo được xem là chìa khóa để giải phóng nguồn lực, đưa KHCN&ĐMST và CĐS thực sự trở thành động lực chính cho sự phát triển bền vững của quốc gia.
Bộ Tư pháp tăng tốc triển khai các nhiệm vụ về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và Đề án 06/CP

Bộ Tư pháp tăng tốc triển khai các nhiệm vụ về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và Đề án 06/CP

Sáng ngày 30/01, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Hải Ninh, Trưởng Ban Chỉ đạo của Bộ Tư pháp về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và Đề án 06/CP chủ trì cuộc họp giao ban của Ban Chỉ đạo (Phiên họp thứ nhất năm 2026). Cùng dự cuộc họp có Thứ trưởng Bộ Tư pháp Mai Lương Khôi, Phó Trưởng ban Ban Chỉ đạo.
Bộ Tư pháp tiếp tục chú trọng cải cách hành chính năm 2026

Bộ Tư pháp tiếp tục chú trọng cải cách hành chính năm 2026

Ngày 30/12/2026, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ký Quyết định số 3758/QĐ-BTP ban hành Kế hoạch cải cách hành chính của Bộ Tư pháp năm 2026. Kế hoạch nhằm tiếp tục đảm bảo mục tiêu của Chương trình tổng thể cải cách hành chính (CCHC), đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia, xây dựng Chính phủ điện tử hướng tới Chính phủ số; đẩy mạnh thực hiện Chương trình tổng thể CCHC nhà nước giai đoạn 2021 - 2030 và hoàn thành các nhiệm vụ của Bộ Tư pháp theo Kế hoạch CCHC nhà nước giai đoạn 2021 - 2030… Trong đó tập trung cải cách thể chế; tiếp tục xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức chất lượng cao; xây dựng và phát triển Chính phủ điện tử, Chính phủ số đáp ứng yêu cầu phát triển chung.
Thiết lập hệ thống hậu kiểm đánh giá hiệu quả cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính

Thiết lập hệ thống hậu kiểm đánh giá hiệu quả cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính

Sáng ngày 26/01/2026, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Hải Ninh và Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh làm việc với Cục Kiểm soát thủ tục hành chính về tình hình, kết quả thực hiện một số nhiệm vụ liên quan đến triển khai Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính tập trung.
Tăng cường pháp luật và tư pháp tại Việt Nam giai đoạn II (EU JULE II)

Tăng cường pháp luật và tư pháp tại Việt Nam giai đoạn II (EU JULE II)

Trong hai ngày 19 và 20/01, tại tỉnh Phú Thọ, Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với Phái đoàn Liên minh châu Âu tại Việt Nam tổ chức thành công Hội nghị “Triển khai Dự án Tăng cường pháp luật và tư pháp tại Việt Nam giai đoạn II (EU JULE II) và Thảo luận với các đối tác Việt Nam về Lộ trình 5 năm triển khai Dự án và Kế hoạch hoạt động năm 2026 của Dự án EU JULE II”. Dự án xác định mục tiêu xuyên suốt là “Tăng cường năng lực các chủ thể có liên quan nhằm nâng cao hiệu quả trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam và bảo vệ quyền hợp pháp cho tất cả người dân”.
Nghị quyết số 57-NQ/TW và đột phá chuyển đổi số trong công tác thi hành án dân sự

Nghị quyết số 57-NQ/TW và đột phá chuyển đổi số trong công tác thi hành án dân sự

Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới, sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia (Nghị quyết số 57-NQ/TW) xác lập chuyển đổi số là đột phá chiến lược trong giai đoạn phát triển mới của đất nước. Đối với thi hành án dân sự - khâu bảo đảm hiệu lực thực tế của pháp luật - việc cụ thể hóa Nghị quyết không chỉ đổi mới công cụ quản lý, mà còn thúc đẩy chuyển biến căn bản trong phương thức tổ chức, điều hành và kiểm soát hoạt động thi hành án theo yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong kỷ nguyên số.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Cổng Pháp luật quốc gia với mục tiêu hình thành nền tảng số quốc gia thống nhất, dùng chung

Cổng Pháp luật quốc gia với mục tiêu hình thành nền tảng số quốc gia thống nhất, dùng chung

Đề án tập trung xây dựng Cổng Pháp luật quốc gia với mục tiêu hình thành nền tảng số quốc gia thống nhất, dùng chung; bảo đảm dữ liệu pháp luật đáp ứng yêu cầu "đúng, đủ, sạch, sống".
Đẩy mạnh phân cấp, “số hóa” thủ tục công chứng

Đẩy mạnh phân cấp, “số hóa” thủ tục công chứng

Chiều 30/12, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tú đã chủ trì Hội đồng thẩm định dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng.

Theo dõi chúng tôi trên: