![]() |
| PGS.TS. Đinh Dũng Sỹ, nguyên Vụ trưởng Vụ Pháp luật (Văn phòng Chính phủ), giảng viên Khoa Luật Kinh tế, Học viên Phụ nữ và PGS.TS. Lê Thị Thu Thủy, phụ trách Bộ môn Luật Tài chính – ngân hàng, Khoa Luật tư, Đại học Quốc gia Hà Nội chủ trì Hội thảo khoa học quốc tế "Pháp luật về thị trường tài sản mã hóa - Kinh nghiệm ở một số nước trên thế giới và gợi mở cho Việt Nam" |
Ngày 07/5/2026, Trường Đại học Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội tổ chức Hội thảo khoa học quốc tế "Pháp luật về thị trường tài sản mã hóa - Kinh nghiệm ở một số nước trên thế giới và gợi mở cho Việt Nam" do PGS.TS. Đinh Dũng Sỹ, nguyên Vụ trưởng Vụ Pháp luật (Văn phòng Chính phủ), giảng viên Khoa Luật Kinh tế, Học viện Phụ nữ và PGS.TS. Lê Thị Thu Thủy, phụ trách Bộ môn Luật Tài chính – ngân hàng, Khoa Luật tư, Đại học Quốc gia Hà Nội chủ trì. Tham dự Hội thảo có các chuyên gia, nhà nghiên cứu, nhà hoạt động thực tiễn.
Trong bối cảnh cuộc Cách mạng Công nghiệp lần thứ tư, thị trường tài sản mã hóa không còn là khái niệm sơ khai mà đã trở thành một bộ phận cấu thành năng động, phức tạp của nền kinh tế số, thu hút dòng vốn khổng lồ và sự tham gia của mọi chủ thể từ cá nhân đến các định chế tài chính lớn.
Tuy nhiên, sự phát triển mạnh mẽ của thị trường này cũng đặt ra những thách thức chưa từng có đối với hệ thống pháp luật truyền thống. Tại Việt Nam cũng như nhiều quốc gia trên thế giới, các vấn đề về bản chất pháp lý của tài sản mã hóa, quyền sở hữu, cơ chế giao dịch, bảo vệ nhà đầu tư và phòng, chống rửa tiền vẫn đang là những "khoảng trống". Đồng thời, việc thiếu khung khổ pháp lý minh bạch và đồng bộ không chỉ kìm hãm tiềm năng đổi mới sáng tạo mà còn tiềm ẩn những rủi ro mang tính hệ thống đối với an ninh tài chính quốc gia. Chính vì vậy, Việt Nam cũng như nhiều quốc gia trên thế giới đã, đang thực hiện nhiều giải pháp để giải quyết những khoảng trống pháp lý này.
![]() |
| PGS.TS. Nguyễn Hoàng Anh, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội cho biết, sự bùng nổ của công nghệ chuỗi khối blockchain đã thúc đẩy tài sản mã hóa ra đời và dần trở thành một cấu phần không thể thiếu trong hệ thống tài chính toàn cầu |
Phát biểu tại Hội thảo, PGS.TS. Nguyễn Hoàng Anh, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội cho biết, sự bùng nổ của công nghệ chuỗi khối blockchain đã thúc đẩy tài sản mã hóa ra đời và dần trở thành cấu phần không thể thiếu trong hệ thống tài chính toàn cầu. Hiện, Việt Nam thuộc nhóm những quốc gia có tỷ lệ sở hữu và giao dịch tài sản mã hóa cao nhất trên thế giới. Tuy nhiên, sự phát triển này lại diễn ra trong bối cảnh thiếu khung pháp lý rõ ràng nên tiềm ẩn nhiều rủi ro.
Trên cơ sở đó, ngày 09/09/2025, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 05/2025/NQ-CP về việc triển khai thí điểm thị trường tài sản mã hóa tại Việt Nam và Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 có hiệu lực từ ngày 01/01/2026 đã đưa Việt Nam trở thành quốc gia thứ 46 công nhận tài sản mã hóa, chính thức chấm dứt giai đoạn "vùng xám" pháp lý để bước vào kỷ nguyên quản lý tài sản mã hóa một cách bài bản.
Ngoài ra, thị trường tài sản mã hóa Việt Nam đang đứng trước những cơ hội chưa từng có như: Cấu trúc dân số trẻ, am hiểu công nghệ và sẵn sàng tiếp cận với các hình thức đầu tư mới; nhu cầu sử dụng tài chính phi tập trung thay thế các dịch vụ ngân hàng truyền thống không ngừng gia tăng; khung pháp lý đang dần được định hình và từng bước hoàn thiện…
Bên cạnh cơ hội, thị trường tài sản mã hóa Việt Nam cũng đang đối diện với nhiều rủi ro và thách thức lớn, cụ thể: Hệ thống pháp luật thiếu tính đồng bộ, thiếu cơ chế bảo vệ nhà đầu tư; nguy cơ cao về tấn công mạng, đánh cắp tài sản và lừa đảo tài chính qua các nền tảng P2P; thị trường thường xuyên biến động, công nghệ liên tục đổi mới; cơ chế giám sát các giao dịch tài sản mã hóa vẫn là thách thức kỹ thuật lớn đối với cơ quan quản lý, đòi hỏi các giải pháp đồng bộ và hiệu quả…
Chia sẻ một số nội dung tổng quan về thị trường tài sản mã hóa, PGS.TS. Lê Thị Thu Thủy, phụ trách Bộ môn Luật Tài chính – ngân hàng, Khoa Luật tư, Đại học Quốc gia Hà Nội cho biết, tài sản mã hóa là một loại tài sản số mà sử dụng công nghệ mã hóa hoặc công nghệ số có chức năng tương tự để xác thực đối với tài sản trong quá trình tạo lập, phát hành, lưu trữ, chuyển giao; không bao gồm chứng khoán, các dạng số của tiền pháp định và tài sản tài chính khác theo quy định của pháp luật về dân sự, tài chính.
Tài sản mã hóa có tính phi vật chất, tồn tại dưới dạng dữ liệu số; gắn liền với công nghệ và cơ chế xác thực kỹ thuật số; có khả năng đại diện cho giá trị, quyền; có tính chuyển giao nhanh chóng, linh hoạt và mang phạm vi xuyên biên giới. Đặc biệt, tài sản này có tính ẩn danh hoặc bán ẩn danh, biến động cao và tiềm ẩn rủi ro lớn.
![]() |
| Toa |
Theo tiêu chuẩn châu Âu, tài sản mã hóa được phân thành 03 loại, cụ thể:
(i) Token tham chiếu tài sản: Là các tài sản được thiết kế nhằm duy trì giá trị ổn định thông qua việc tham chiếu tới một hoặc nhiều loại tài sản khác.
(ii) Token tiền điện tử: Có mục đích duy trì giá trị ổn định theo một đơn vị tiền tệ và được sử dụng trong các giao dịch điện tử.
(iii) Token tiện ích: Cho phép người nắm giữ tiếp cận sản phẩm hoặc dịch vụ trong một hệ sinh thái số.
Trao đổi về quản lý nhà nước đối với thị trường tài sản mã hóa tại một số quốc gia, PGS. TS. Nguyễn Văn Vân, giảng viên Khoa Luật Thương mại, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh nhấn mạnh, từ kinh nghiệm của Liên bang Nga cho thấy, quá trình hình thành pháp luật về tài sản mã hóa luôn bắt đầu từ sự phát triển của công nghệ, tiếp đến là hoạt động thực tiễn của doanh nghiệp, nghiên cứu của giới học giả và cuối cùng được luật hóa. Theo đó, cách tiếp cận này đã giúp Liên bang Nga từng bước xây dựng hệ thống pháp luật tương đối đồng bộ, từ Bộ luật Dân sự đến các quy định chuyên ngành về chứng khoán, nền tảng giao dịch, thuế và quản lý tài sản số.
Bên cạnh đó, PGS. TS. Nguyễn Văn Vân cho biết, bước ngoặt quan trọng của Nga diễn ra vào năm 2019 khi lần đầu tiên khái niệm "quyền kỹ thuật số" được ghi nhận trong Bộ luật Dân sự như một loại tài sản mới trong giao dịch dân sự. Từ đó đến nay, Nga đã ban hành nhiều đạo luật liên quan đến tài sản tài chính kỹ thuật số và tiền mã hóa nhằm phục vụ phát triển kinh tế số. Đặc biệt, các nhà luật học Nga đều có xu hướng nhìn nhận tài sản mã hóa là một loại tài sản độc lập, không nên "ép" vào các khái niệm truyền thống như vật hay giấy tờ có giá.
Từ kinh nghiệm của Nga, PGS. TS. Nguyễn Văn Vân đề xuất, Việt Nam cần sớm sửa đổi Bộ luật Dân sự để định danh rõ tài sản mã hóa như một loại tài sản độc lập, làm cơ sở hoàn thiện các luật chuyên ngành liên quan đến chứng khoán, ngân hàng, tiền tệ và thuế, đồng thời, cần có cách tiếp cận toàn diện hơn đối với chứng khoán mã hóa và tài sản mã hóa tài chính, thay vì chỉ dừng ở cơ chế thử nghiệm hoặc điều chỉnh phân tán như hiện nay.
![]() |
| Các đại biểu chụp ảnh lưu niệm |
Tại Hội thảo, một số nội dung khác liên quan đến pháp luật về thị trường tài sản mã hóa cũng được các đại biểu quan tâm và tập trung trao đổi, thảo luận như: Xác định địa vị pháp lý của tài sản mã hóa; phân loại tiền mã hóa, token tiện ích, token chứng khoán, stablecoin, NFT hay token hóa tài sản thực (RWA) để áp dụng cơ chế quản lý phù hợp; xây dựng quy định về sàn giao dịch, đầu tư, thuế, kế toán và cơ chế bảo vệ nhà đầu tư. Trong đó, một số ý kiến đề cập đến cơ chế thí điểm Sandbox gồm: xác định phạm vi, quy mô và thời gian thử nghiệm các sản phẩm tài sản mã hóa để bảo đảm an toàn hệ thống tài chính quốc gia trước khi ban hành luật chính thức.
Trên cơ sở nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế, nhiều ý kiến đề xuất, Việt Nam cần sớm hoàn thiện khung pháp luật đồng bộ về tài sản mã hóa, tạo nền tảng cho đổi mới sáng tạo, phát triển kinh tế số và từng bước đưa đất nước chuyển từ vị thế "đi sau" sang chủ động tham gia, tiên phong ở các lĩnh vực công nghệ mới.