Thứ ba 22/09/2026 08:16
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Quốc hội thông qua Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi) với tỷ lệ 98,40%

Tiếp tục Kỳ họp thứ Nhất, chiều 23/4, dưới sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Khắc Định, Quốc hội khóa XVI biểu quyết thông qua Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi). Kết quả biểu quyết cho thấy, có 492/493 đại biểu Quốc hội tham gia biểu quyết tán thành thông qua luật này (chiếm tỷ lệ 98,04% số ĐBQH).
Quốc hội thông qua Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi) với tỷ lệ 98,40%
Quang cảnh phiên họp

Trước khi biểu quyết, thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hoàng Thanh Tùng trình bày Báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi).

Theo đó, trên cơ sở tổng hợp, nghiên cứu đầy đủ ý kiến của các đại biểu Quốc hội, Chính phủ đã nghiêm túc tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Luật theo hướng bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân, nhất là trong môi trường số. Dự thảo Luật tập trung hoàn thiện các quy định nhằm bảo đảm công dân được tiếp cận thông tin chính xác, đầy đủ, kịp thời, minh bạch và thuận lợi; đồng thời xác định rõ trách nhiệm của cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập trong việc tổ chức thực hiện quyền này.

Việc chỉnh lý dự thảo Luật được thực hiện trên nguyên tắc bảo đảm tính hợp hiến, tính thống nhất, đồng bộ với hệ thống pháp luật có liên quan; tăng cường tính khả thi, hiệu lực, hiệu quả trong tổ chức thực hiện. Nội dung dự thảo Luật đã thể chế hóa yêu cầu đổi mới tư duy lập pháp, gắn với xây dựng Chính phủ số, chính quyền số và công dân số; đồng thời cân bằng giữa yêu cầu công khai, minh bạch thông tin với bảo đảm an ninh, an toàn thông tin và các lợi ích hợp pháp khác theo quy định của pháp luật.

Về phạm vi điều chỉnh của dự thảo Luật (Điều 1), Chính phủ đề nghị Quốc hội cho giữ phạm vi điều chỉnh của Luật như đã trình Quốc hội. Theo đó, Luật quy định trách nhiệm cung cấp thông tin của cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập có nhiệm vụ cung ứng dịch vụ sự nghiệp công cơ bản, thiết yếu.

Theo Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hoàng Thanh Tùng, đối với doanh nghiệp nhà nước và các tổ chức khác có sử dụng ngân sách, tài chính, tài sản nhà nước, việc cung cấp thông tin thực hiện theo quy định của pháp luật chuyên ngành tương ứng. Quy định này nhằm bảo đảm rõ ràng về phạm vi điều chỉnh, tránh chồng chéo, trùng lặp với các luật chuyên ngành, đồng thời phù hợp với đặc thù tổ chức và hoạt động của từng loại chủ thể.

Quốc hội thông qua Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi) với tỷ lệ 98,40%
Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hoàng Thanh Tùng

Về các nguyên tắc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin (Điều 3), tiếp thu ý kiến đại biểu Quốc hội, dự thảo Luật đã bổ sung các quy định nhằm bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân trên môi trường số, phù hợp với xu thế phát triển khoa học, công nghệ và chuyển đổi số. Các hình thức công khai, cung cấp thông tin được mở rộng, đa dạng, khuyến khích áp dụng phương thức điện tử. Đồng thời, Điều 24 được chỉnh lý theo hướng quy định cơ quan, đơn vị có trách nhiệm cung cấp thông tin theo hình thức mà người yêu cầu đề nghị, phù hợp với tính chất thông tin và khả năng đáp ứng của cơ quan, đơn vị. Chính phủ sẽ tiếp tục quy định chi tiết tại văn bản dưới luật về các biện pháp hỗ trợ phù hợp đối với nhóm yếu thế (người cao tuổi, trẻ em, người nghèo, người có hoàn cảnh khó khăn...) nhằm bảo đảm tính bao trùm và công bằng trong tiếp cận thông tin.

Về phạm vi và trách nhiệm cung cấp thông tin (Điều 10), đối với UBND cấp xã, dự thảo Luật quy định trách nhiệm cung cấp thông tin do mình tạo ra, không bao gồm thông tin do tiếp nhận từ cơ quan khác (trừ một số trường hợp luật định), nhằm bảo đảm tính hợp lý, khả thi trong bối cảnh sắp xếp, mở rộng chức năng, nhiệm vụ của cấp xã. Dự thảo Luật đồng thời tăng cường phân cấp, phân quyền khi giao UBND cấp tỉnh, cấp xã chủ động xác định đầu mối cung cấp thông tin, tạo sự linh hoạt trong tổ chức thực hiện.

Về tiếp cận một phần hồ sơ, tài liệu, dự thảo Luật đã bổ sung quy định cơ quan, đơn vị phải rà soát, phân loại thông tin trước khi cung cấp; bảo đảm tách bạch rõ phần thông tin được tiếp cận và không được tiếp cận. Các nội dung mang tính kỹ thuật sẽ được hướng dẫn cụ thể trong tài liệu nghiệp vụ nhằm bảo đảm thống nhất trong triển khai.

Về thông tin phải được công khai (Điều 17), dự thảo Luật được chỉnh lý theo hướng mở rộng phạm vi thông tin phải công khai, thông qua việc liệt kê và bổ sung các nhóm thông tin quan trọng, gắn trực tiếp với đời sống dân sinh, hoạt động sản xuất, kinh doanh của người dân và doanh nghiệp.

Đối với các thông tin không được liệt kê nhưng pháp luật chuyên ngành có quy định phải công khai, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hoàng Thanh Tùng cho biết, dự thảo Luật xác định tiếp tục thực hiện theo quy định của pháp luật chuyên ngành. Cách tiếp cận này vừa bảo đảm tính đầy đủ, vừa tránh trùng lặp, đồng thời duy trì tính linh hoạt của hệ thống pháp luật.

Về miễn, giảm chi phí tiếp cận thông tin (Điều 25), tiếp thu ý kiến đại biểu Quốc hội, dự thảo Luật quy định theo hướng giao Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định cụ thể mức chi phí thực tế cho việc in, sao, chụp, gửi thông tin. Các trường hợp được miễn, giảm chi phí sẽ được quy định chi tiết tại văn bản dưới luật. Quy định này nhằm bảo đảm tính minh bạch, thống nhất trong áp dụng; đồng thời tạo cơ sở linh hoạt để điều chỉnh phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội trong từng thời kỳ, bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân không bị hạn chế bởi yếu tố chi phí.

Ngoài các vấn đề chính nêu trên, tại Báo cáo số 231/BC-CP, Chính phủ đã báo cáo đầy đủ các nội dung tiếp thu, giải trình và chỉnh lý dự thảo Luật theo ý kiến của các vị đại biểu Quốc hội.

Nguồn: Quochoi.vn

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Tóm tắt: Hồ sơ điện tử vụ án hình sự là một bước chuyển từ phương thức quản lý hồ sơ truyền thống sang quản lý và quản trị dữ liệu tố tụng trên môi trường số. Nghiên cứu phân tích sự hình thành hồ sơ điện tử vụ án hình sự trong bối cảnh chuyển đổi số trong tố tụng hình sự, trên cơ sở Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự và văn bản chỉ đạo của Chính phủ1, thông tư quy định chi tiết2. Từ góc độ quản trị dữ liệu tố tụng, nghiên cứu làm rõ sự chuyển dịch từ quản lý hồ sơ giấy sang quản trị dữ liệu tố tụng số; phân tích các chức năng pháp lý của hồ sơ điện tử vụ án hình sự và những vấn đề đặt ra trong quá trình triển khai, gồm chuẩn hóa dữ liệu, liên thông dữ liệu và xây dựng khung kiến trúc dữ liệu tố tụng hình sự. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện khung pháp luật và cơ chế quản trị dữ liệu nhằm triển khai thống nhất hồ sơ điện tử vụ án trong hoạt động tố tụng hình sự.
Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Tóm tắt: Việt Nam là quốc gia có đường bờ biển dài và có nhiều lợi thế về lấn biển. Nghiên cứu sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh để làm rõ khái niệm lấn biển; lịch sử quy định về lấn biển trong các Luật Đất đai; khoảng trống pháp lý về lấn biển trước khi Luật Đất đai năm 2024 được ban hành. Đồng thời, nghiên cứu phân tích những hạn chế của pháp luật đất đai hiện hành và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về lấn biển trong thời gian tới như nguyên tắc, điều kiện lấn biển, tọa độ khu vực lấn biển, quản lý, sử dụng đất lấn biển, quỹ đất xây dựng công trình hạ tầng công cộng, sử dụng khu vực biển để tạo quỹ đất thanh toán cho dự án BT.
Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Tóm tắt: Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)[1] (dự thảo Luật) đang xem xét bỏ công chứng bắt buộc đối với một số giao dịch về quyền sử dụng đất, đặt ra yêu cầu hài hòa giữa cải cách thủ tục hành chính với bảo vệ quyền tài sản, phòng ngừa tranh chấp và bảo đảm an toàn pháp lý cho thị trường quyền sử dụng đất. Trên cơ sở phương pháp phân tích pháp lý, kinh tế học pháp luật, pháp luật so sánh và thực tiễn xét xử, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết phải công chứng đối với quyền sử dụng đất - một loại tài sản và hàng hóa đặc biệt, có giá trị lớn, cần được nhìn nhận như chi phí phòng ngừa rủi ro, thay vì chỉ là chi phí thủ tục. Từ đó, nghiên cứu đề xuất duy trì công chứng bắt buộc đối với các giao dịch có rủi ro pháp lý cao hoặc liên quan đến chủ thể cần được bảo vệ đặc biệt; đối với giao dịch có rủi ro thấp hơn, có thể mở rộng quyền lựa chọn công chứng hoặc cơ chế xác thực khác khi hạ tầng dữ liệu, hệ thống đăng ký và cơ chế trách nhiệm thay thế bảo đảm đáp ứng yêu cầu an toàn pháp lý.
Đổi mới Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật trong kỷ nguyên số

Đổi mới Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật trong kỷ nguyên số

Ngày 18/9, ông Nguyễn Duy Thắng, Phó Cục trưởng Cục Kiểm tra văn bản và Tổ chức thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp chủ trì Hội thảo lấy ý kiến góp ý dự thảo Nghị định thay thế Nghị định số 52/2015/NĐ-CP về cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật. Tham dự cuộc họp có đại diện các đơn vị có liên quan và một số đơn vị thuộc Bộ Tư pháp.
Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Nâng cao năng lực, tính chuyên nghiệp cho đội ngũ cán bộ, công chức tư pháp xã, phường, đặc khu

Nâng cao năng lực, tính chuyên nghiệp cho đội ngũ cán bộ, công chức tư pháp xã, phường, đặc khu

Chương trình bồi dưỡng nghiệp vụ theo vị trí việc làm cho công chức thực hiện nhiệm vụ tư pháp xã, phường, đặc khu (Chương trình) tập trung vào tập huấn kỹ năng, đặc biệt các kỹ năng liên quan đến chuyển đổi số, quản lý, khai thác cơ sở dữ liệu và xử lý tình huống gắn với những khó khăn, vướng mắc trong thực tế triển khai thực hiện công việc.
Triển khai kịp thời, hiệu quả Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước

Triển khai kịp thời, hiệu quả Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước

Ngày 15/9/2026, Phó Thủ tướng Lê Tiến Châu ký Quyết định số 1788/QĐ-TTg ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
Đề xuất phương án xác định phạm vi hòa giải ở cơ sở

Đề xuất phương án xác định phạm vi hòa giải ở cơ sở

Sáng ngày 16/9, Bộ Tư pháp tổ chức Hội thảo góp ý dự thảo Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hòa giải ở cơ sở (dự thảo Nghị định). Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Ngọc, Tổ trưởng Tổ soạn thảo chủ trì Hội thảo. Đồng chủ trì Hội thảo có Phó Cục trưởng Cục Phổ biến, giáo dục pháp luật và Trợ giúp pháp lý Ngô Quỳnh Hoa.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Xây dựng Trang Hiến kế xây dựng, thi hành pháp luật

Xây dựng Trang Hiến kế xây dựng, thi hành pháp luật

Chiều ngày 15/9, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Ngọc làm việc với các đơn vị có liên quan về việc triển khai Trang Thông tin điện tử Hiến kế xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới trên Cổng Pháp luật quốc gia (Trang Hiến kế).
Triển khai kịp thời, toàn diện, thống nhất Luật Hòa giải ở cơ sở

Triển khai kịp thời, toàn diện, thống nhất Luật Hòa giải ở cơ sở

Phó Thủ tướng Lê Tiến Châu vừa ký Quyết định số 1774/QĐ-TTg ngày 14/9/2026 ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật Hòa giải ở cơ sở (Kế hoạch). Việc ban hành Kế hoạch nhằm bảo đảm Luật được triển khai kịp thời, toàn diện, thống nhất và hiệu quả; qua đó nâng cao hiệu lực, hiệu quả và tính thực chất trong tổ chức thi hành pháp luật.
Bộ Tư pháp triển khai quyết liệt, đồng bộ công tác cải cách hành chính, kiểm soát thủ tục hành chính

Bộ Tư pháp triển khai quyết liệt, đồng bộ công tác cải cách hành chính, kiểm soát thủ tục hành chính

Công tác cải cách hành chính, kiểm soát thủ tục hành chính (TTHC) tại Bộ Tư pháp thời gian qua được triển khai quyết liệt, đồng bộ, bám sát các chương trình, kế hoạch, chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ. Bộ Tư pháp tiếp tục bám sát các cơ quan có thẩm quyền để hoàn thiện dự thảo Kết luận của Bộ Chính trị về nâng cao hiệu quả công tác cải cách TTHC nhằm tiếp tục đẩy mạnh cải cách theo hướng thực chất, hiệu quả.

Theo dõi chúng tôi trên: