Chủ nhật 01/11/2026 00:01
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.

Thúc đẩy phát triển đô thị đặc biệt thông qua việc phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý ổn định và liên kết vùng

Luật Phát triển đô thị năm 2026 xây dựng hệ thống cơ chế, chính sách toàn diện, vượt trội, tạo điều kiện để Thành phố Hồ Chí Minh, thành phố khác là đô thị đặc biệt (sau đây gọi chung là Thành phố) phát triển đồng bộ cả về thể chế, hạ tầng, kinh tế, văn hóa, xã hội, môi trường, nguồn lực phát triển và liên kết, phát triển vùng. Cụ thể:

Thứ nhất, phân cấp, phân quyền triệt để, toàn diện cho Thành phố là cơ chế xuyên suốt, gắn với tuân thủ nguyên tắc về phân quyền, thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được phân quyền, cơ chế giám sát, kiểm tra, trách nhiệm giải trình.

Theo đó, Luật mở rộng thẩm quyền của Thành phố trong xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật nhằm quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành, xử lý các vấn đề đặc thù phát sinh từ thực tiễn quản lý, phát triển đô thị đặc biệt và thẩm quyền về thí điểm cơ chế, chính sách, thử nghiệm có kiểm soát. Khoản 2 Điều 7 quy định, khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương theo quy định của pháp luật, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố được ban hành văn bản quy phạm pháp luật để:

(i) Điều chỉnh trình tự, thủ tục, thẩm quyền giải quyết thủ tục hành chính đang được quy định trong văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước ở trung ương để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức thuộc Thành phố, bảo đảm yêu cầu về cải cách hành chính, tạo thuận lợi cho tổ chức, cá nhân theo hướng đơn giản hóa thủ tục hành chính, ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong giải quyết thủ tục hành chính, không quy định thêm thành phần hồ sơ, không tăng thêm yêu cầu, điều kiện, thời gian giải quyết thủ tục đang áp dụng;

(ii) Quy định biện pháp đặc thù phù hợp với yêu cầu phát triển Thành phố để tổ chức, hướng dẫn thi hành luật, nghị quyết của Quốc hội mà khác hoặc chưa có quy định của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các Bộ, cơ quan ngang Bộ.

Ngoài ra, Luật còn đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, cho phép Thành phố điều chỉnh trình tự, thủ tục, thẩm quyền giải quyết thủ tục hành chính đối với quy hoạch của Thành phố, quy hoạch không gian ngầm, không gian tầm thấp, không gian tầm cao,…; áp dụng việc xã hội hóa hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ hỗ trợ giải quyết thủ tục hành chính theo hướng đơn giản, thuận lợi hơn cho người dân và doanh nghiệp.

Thứ hai, tạo cơ sở pháp lý ổn định để thúc đẩy phát triển các lĩnh vực then chốt, có vai trò động lực, lan tỏa đối với tăng trưởng của Thành phố và cả nước.

Với khu thương mại tự do và khu logistics tích hợp, Luật Phát triển đô thị năm 2026 bổ sung thẩm quyền của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định điều kiện, hồ sơ, thủ tục và nội dung hoạt động đối với phòng giao dịch của chi nhánh ngân hàng nước ngoài trong khu thương mại tự do (khoản 5 Điều 21). Quy định này nhằm kiểm soát rủi ro về quản lý ngoại hối, phòng, chống rửa tiền và hạn chế sức ép cạnh tranh đối với các ngân hàng trong nước.

Chính phủ được giao quy định trình tự, thủ tục công nhận, gia hạn, tạm đình chỉ hoặc đình chỉ áp dụng chế độ ưu tiên hải quan đối với khu thương mại tự do, khu logistics tích hợp, tạo cơ sở pháp lý cụ thể cho quá trình tổ chức thực hiện.

Liên quan đến Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam, Điều 24 Luật Phát triển đô thị năm 2026 làm rõ thẩm quyền của Hội đồng nhân dân Thành phố, cụ thể: Quy định việc phát hành trái phiếu đô thị, trái phiếu công trình tại Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam để huy động vốn nhằm triển khai các dự án trọng điểm của Thành phố; điều kiện, trình tự, thủ tục cấp phép thành lập ngân hàng có hoạt động ngân hàng đầu tư tại Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam, phát hành sản phẩm tài chính quốc tế thông qua Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam sau khi có ý kiến của Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; quy định cơ chế kết nối, tài trợ, hỗ trợ chuỗi giá trị giữa Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam với khu thương mại tự do, khu logistics tích hợp, khu cảng mở, khu đô thị khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, khu chức năng khác, TOD; quyết định chế độ tiền lương, thù lao, tiền thưởng và thu nhập khác đối với cán bộ, công chức, viên chức, người hưởng lương, phụ cấp và người lao động tại Cơ quan điều hành Trung tâm tài chính quốc tế tại Thành phố Hồ Chí Minh; quy định cơ chế, chính sách khác phù hợp với quy định tại Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan để bảo đảm xây dựng, vận hành hiệu quả Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo hướng thế hệ mới, có hệ sinh thái tài chính toàn diện và đa dạng, tăng cường kết nối sâu rộng với thị trường vốn quốc tế.

Thành viên Trung tâm tài chính quốc tế được cung cấp dịch vụ tài chính và các dịch vụ hỗ trợ khác theo giấy phép thành lập và hoạt động cho tổ chức trong nước để giao dịch, thu hút vốn quốc tế. Việc thực hiện phải tuân thủ đầy đủ quy định về quản lý ngoại hối, phòng, chống rửa tiền, chống tài trợ khủng bố, chống tài trợ phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt và quản lý nợ công.

Về phát triển hạ tầng năng lượng và công nghiệp năng lượng, Luật bổ sung đầy đủ thẩm quyền của Hội đồng nhân dân Thành phố trong quy định đối tượng, điều kiện tham gia, cơ chế thực hiện và trách nhiệm của các bên trong mua bán điện trực tiếp, bảo đảm cơ sở pháp lý cũng như yêu cầu an toàn, ổn định trong vận hành hệ thống điện (Điều 25).

Thứ ba, Luật xây dựng cơ chế, chính sách liên kết vùng đô thị đặc biệt, bảo đảm ưu tiên nguồn lực để hỗ trợ liên kết vùng, phát triển vùng đồng bộ, hiệu quả và bền vững.

Thành phố là đô thị đặc biệt có vai trò là hạt nhân, trung tâm và cực tăng trưởng của vùng đô thị đặc biệt, đồng thời thúc đẩy sự phối hợp phát triển giữa thành phố là đô thị đặc biệt với các địa phương trong vùng và các vùng kinh tế - xã hội có liên quan. Việc liên kết, phát triển vùng đô thị đặc biệt phải tuân thủ các nguyên tắc đồng thuận, công khai, minh bạch; thực hiện phối hợp, liên kết phát triển thông qua chương trình, kế hoạch, dự án liên kết, phát triển vùng đô thị đặc biệt; đồng thời bảo đảm thống nhất trong tổ chức không gian phát triển, đầu tư hạ tầng kỹ thuật chung và thực hiện liên kết giữa Thành phố và các địa phương trong vùng đô thị đặc biệt; phù hợp với quy hoạch cấp quốc gia, quy hoạch vùng, Quy hoạch tổng thể Thành phố, quy hoạch tỉnh (Điều 40).

Trong đó, việc đề xuất, thực hiện dự án liên kết, phát triển vùng, dự án liên kết, phát triển vùng đô thị đặc biệt quy định tại khoản 1 Điều 41 được thực hiện như sau: (i) Ủy ban nhân dân Thành phố, các địa phương có liên quan báo cáo Hội đồng nhân dân cùng cấp xem xét, đồng thuận về việc thực hiện dự án; (ii) Ủy ban nhân dân Thành phố cùng với các địa phương tham gia dự án thống nhất lựa chọn một Ủy ban nhân dân cấp tỉnh làm cơ quan chủ quản hoặc cơ quan có thẩm quyền thực hiện dự án.

Theo khoản 3 Điều 41, các địa phương tham gia thực hiện dự án liên kết, phát triển vùng, dự án liên kết, phát triển vùng đô thị đặc biệt có quyền được áp dụng quy định của Luật Phát triển đô thị và văn bản thi hành Luật Phát triển đô thị để lập, thẩm định, phê duyệt, thực hiện dự án liên kết, phát triển vùng, dự án liên kết, phát triển vùng đô thị đặc biệt theo nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh của địa phương đó sau khi thống nhất với Hội đồng nhân dân Thành phố; được sử dụng ngân sách để đầu tư trực tiếp vào dự án liên kết, phát triển vùng đô thị đặc biệt trên địa bàn địa phương khác trong vùng đô thị đặc biệt nhằm giải quyết các vấn đề về hạ tầng giao thông, môi trường, cấp nước sạch, thoát nước và công trình khác để phục vụ lợi ích chung; hưởng ưu đãi, hỗ trợ theo quy định đối với dự án về lĩnh vực môi trường, ứng phó biến đổi khí hậu, dự án an toàn thực phẩm có tính chất vùng.

Mở rộng không gian phát triển với cơ chế đặc thù cho khu kinh tế đặc biệt

Xã, phường hoặc đặc khu được công nhận là khu kinh tế đặc biệt khi đáp ứng các tiêu chí gồm: (i) Có vị trí chiến lược, phù hợp với định hướng phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh của đất nước; (ii) Có cảng hàng không quốc tế hoặc cảng biển loại I trở lên; (iii) Có không gian tương đối độc lập, dễ kiểm soát, có quy mô dân số, diện tích tự nhiên lớn (khoản 1 Điều 43).

Luật quy định cơ chế pháp lý về công nhận xã, phường hoặc đặc khu là khu kinh tế đặc biệt, đồng thời xây dựng hệ cơ chế, chính sách đặc thù, đột phá để phát triển khu kinh tế đặc biệt gắn với việc phân quyền và bảo đảm tuân thủ nguyên tắc phân quyền, thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được phân quyền đối với chính quyền địa phương ở nơi có khu kinh tế đặc biệt.

Về tổ chức bộ máy ở khu kinh tế đặc biệt, Điều 44 của Luật quy định Hội đồng nhân dân cấp tỉnh nơi có khu kinh tế đặc biệt quyết định số lượng đại biểu Hội đồng nhân dân, tỷ lệ đại biểu hoạt động chuyên trách của Hội đồng nhân dân; số lượng, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của các Ban của Hội đồng nhân dân ở khu kinh tế đặc biệt; Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi có khu kinh tế đặc biệt quyết định số lượng Ủy viên Ủy ban nhân dân ở khu kinh tế đặc biệt; số lượng Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân ở khu kinh tế đặc biệt. Số lượng Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân ở khu kinh tế đặc biệt không tính vào tổng số lượng Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã của toàn tỉnh, thành phố theo khung số lượng do Chính phủ quy định.

Quy hoạch chung khu kinh tế đặc biệt được lập cho khu kinh tế đặc biệt trên cơ sở tích hợp nội dung của quy hoạch chung khu kinh tế (nếu có), quy hoạch chung xã, quy hoạch chung đô thị và tương đương, quy hoạch chung đặc khu là đô thị theo quy định của pháp luật về quy hoạch đô thị và nông thôn, định hướng quan điểm, tầm nhìn, mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của khu kinh tế đặc biệt. Quy hoạch chi tiết được lập đối với từng khu vực trong khu kinh tế đặc biệt trên cơ sở cụ thể hóa các nội dung của quy hoạch chung khu kinh tế đặc biệt.

Đáng chú ý, theo quy định tại Điều 48, nhà đầu tư chiến lược ở khu kinh tế đặc biệt được hưởng các ưu đãi, hỗ trợ về thuế thu nhập doanh nghiệp đối với dự án đầu tư thực hiện tại khu kinh tế đặc biệt như dự án đầu tư tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; đồng thời được kéo dài thời gian áp dụng thuế suất ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp đối với thu nhập từ các dự án đầu tư mới thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này không quá 05 năm so với quy định của pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp. Chủ tịch Ủy ban nhân dân ở khu kinh tế đặc biệt quyết định việc kéo dài thời gian áp dụng thuế suất ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp quy định tại điểm này.

Nhà đầu tư thực hiện dự án casino được tính thêm phần vốn đã giải ngân vào các dự án là đô thị, dịch vụ, du lịch, vui chơi giải trí, các dự án là cơ sở hạ tầng tại khu kinh tế đặc biệt khi xem xét điều kiện giải ngân tối thiểu 50% tổng mức đầu tư của dự án để cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh casino. Thời hạn hoạt động kinh doanh casino thực hiện theo thời hạn hoạt động của dự án, trừ trường hợp ảnh hưởng đến quốc phòng, an ninh.

Doanh nghiệp được chấp thuận chủ trương đầu tư dự án casino phải cam kết không chuyển nhượng phần vốn góp tại doanh nghiệp thực hiện các dự án cơ sở hạ tầng và doanh nghiệp thực hiện các dự án cơ sở hạ tầng phải cam kết không chuyển nhượng dự án cơ sở hạ tầng cho đến khi dự án casino đã hoàn thành giải ngân tối thiểu 50% tổng mức đầu tư. Số vốn đầu tư đã giải ngân thực hiện các dự án cơ sở hạ tầng chỉ được tính không quá 25% tổng vốn đầu tư của dự án casino (không vượt quá giá trị tương đương 500 triệu đô la Mỹ) khi xác định thời điểm được phép kinh doanh casino.

Kiểm soát quyền lực gắn với chức năng, nhiệm vụ

Luật thiết lập cơ chế kiểm soát quyền lực chặt chẽ thông qua quy định cụ thể về thanh tra, kiểm tra, giám sát gắn với chức năng, nhiệm vụ quyền hạn của Quốc hội trong việc xem xét báo cáo về việc thi hành Luật theo đề nghị của Ủy ban Thường vụ Quốc hội hoặc Chính phủ; quyết định bãi bỏ toàn bộ hoặc một phần văn bản do Chính phủ ban hành (Điều 55).

Chính phủ có trách nhiệm tổ chức theo dõi, kiểm tra, thanh tra việc thi hành Luật; bảo đảm việc phân quyền, phân cấp trong Luật được thực hiện thống nhất, hiệu quả, đúng quy định; chỉ đạo theo dõi, đánh giá, kiểm soát rủi ro đối với việc thực hiện các cơ chế, chính sách; báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc thực hiện cơ chế, chính sách được quy định tại Luật (Điều 56).

Cũng tại Điều 56, Luật giao Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo việc phối hợp liên ngành, xử lý các vấn đề liên vùng, liên ngành phát sinh trong quá trình thực hiện cơ chế, chính sách quy định tại Luật; căn cứ quy định của pháp luật hoặc để bảo đảm lợi ích quốc gia, quốc phòng, an ninh, đối ngoại quốc gia, đình chỉ việc thi hành toàn bộ hoặc một phần văn bản do Hội đồng nhân dân cấp tỉnh ban hành, đồng thời báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội bãi bỏ; bãi bỏ toàn bộ hoặc một phần văn bản do Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân ban hành theo quy định.

Ngoài ra, Luật cũng quy định cụ thể trách nhiệm của chính quyền đô thị đặc biệt, chính quyền thành phố không là đô thị đặc biệt, chính quyền cấp tỉnh nơi có khu kinh tế đặc biệt, chính quyền ở khu kinh tế đặc biệt, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp và các tổ chức thành viên của Mặt trận.

Đáng chú ý, Luật đồng thời quy định khuyến khích, bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung và xử lý nghiêm các hành vi tham nhũng, trục lợi, lạm dụng chính sách.

Ảnh: internet

Thùy Dung

Tin bài có thể bạn quan tâm

Bàn về Điều luật “Quan lại nhận tiền của” trong Hoàng Việt luật lệ và một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam

Bàn về Điều luật “Quan lại nhận tiền của” trong Hoàng Việt luật lệ và một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam

Tóm tắt: Trước yêu cầu phòng, chống tham nhũng hiện nay, việc nghiên cứu di sản lập pháp truyền thống mang ý nghĩa thiết thực. Nghiên cứu phân tích Điều luật[I] “Quan lại nhận tiền của” thuộc Chương IX (Nhận hối lộ) trong Hoàng Việt luật lệ[II] nhằm làm rõ tư duy lập pháp và giá trị lịch sử của Điều luật. Phạm vi nghiên cứu tập trung phân tích Điều luật “Quan lại nhận tiền của”, đồng thời, so sánh với Quốc triều Hình luật, Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng (UNCAC) và Bộ luật Hình sự năm 2015[III]. Nghiên cứu sử dụng phương pháp sử liệu học để thu thập tư liệu cổ luật; các phương pháp so sánh, phân tích, tổng hợp để làm rõ các yếu tố cấu thành, giá trị, giới hạn lịch sử, đồng thời, so sánh Điều luật này với các quy định có liên quan. Từ đó, nghiên cứu đưa ra một số kiến nghị, đề xuất nhằm hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam.
Xây dựng khuôn khổ pháp lý thúc đẩy thị trường bất động sản phát triển lành mạnh

Xây dựng khuôn khổ pháp lý thúc đẩy thị trường bất động sản phát triển lành mạnh

Ngày 30/10, tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI thảo luận tại hội trường về dự án Luật Kinh doanh bất động sản (sửa đổi) dưới sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Hồng Diên.
Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn: Cần chế tài đủ mạnh ngăn chặn thông đồng, dìm giá, bỏ cọc trong đấu giá tài sản

Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn: Cần chế tài đủ mạnh ngăn chặn thông đồng, dìm giá, bỏ cọc trong đấu giá tài sản

Trong khuôn khổ chương trình Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI, các đại biểu Quốc hội đã tiến hành thảo luận tại tổ về dự án Luật Đấu giá tài sản (sửa đổi). Góp ý tại phiên thảo luận ở Tổ 2 - Đoàn đại biểu Quốc hội Thành phố Hồ Chí Minh, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn nhấn mạnh, việc sửa đổi Luật phải bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật; có chế tài đủ mạnh để ngăn chặn tình trạng thông đồng, dìm giá, bỏ cọc, nhất là trong đấu giá đất. Đồng thời, cần đẩy mạnh chuyển đổi số, nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình, bảo vệ tài sản công cũng như quyền, lợi ích hợp pháp của người dân, doanh nghiệp.
Hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm pháp lý của chủ thể tham gia đấu giá tài sản trực tuyến ở Việt Nam[I]

Hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm pháp lý của chủ thể tham gia đấu giá tài sản trực tuyến ở Việt Nam[I]

Tóm tắt: Đấu giá tài sản trực tuyến đặt ra yêu cầu xác định trách nhiệm khi nghiệp vụ đấu giá và vận hành kỹ thuật do các chủ thể khác nhau thực hiện. Bằng phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu làm rõ quy định của pháp luật Việt Nam về trách nhiệm của các chủ thể trong cuộc đấu giá tài sản trực tuyến do tổ chức hành nghề đấu giá tài sản thực hiện, đồng thời, so sánh tham khảo kinh nghiệm quốc tế. Các vấn đề trọng tâm gồm phân định trách nhiệm, bảo mật và cung cấp dữ liệu điện tử, xử lý sự cố và bồi thường thiệt hại. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đánh giá các quy định liên quan trong dự thảo Luật Đấu giá tài sản (sửa đổi)[II] (dự thảo Luật) và dự thảo Nghị định quy định chi tiết một số điều của Luật Đấu giá tài sản (dự thảo Nghị định)[III]. Kết quả nghiên cứu cho thấy, cần cụ thể hóa cơ chế phối hợp, tiếp cận dữ liệu và xác minh sự cố trong văn bản quy định chi tiết để thực hiện trách nhiệm theo đúng căn cứ pháp luật.
Đưa thể chế kinh tế từ điểm nghẽn trở thành lợi thế cạnh tranh quốc gia

Đưa thể chế kinh tế từ điểm nghẽn trở thành lợi thế cạnh tranh quốc gia

Ngày 29/10, Trường Đại học Luật Hà Nội phối hợp với Viện Chiến lược và Khoa học pháp lý (Bộ Tư pháp) và Trường Đại học Kinh tế - Luật (Đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh) tổ chức Hội thảo khoa học trọng điểm "Hệ thống pháp luật kinh tế Việt Nam 40 năm đổi mới (1986 - 2026).
Phát triển công nghiệp văn hóa: Hoàn thiện chính sách, khơi thông nguồn lực sáng tạo

Phát triển công nghiệp văn hóa: Hoàn thiện chính sách, khơi thông nguồn lực sáng tạo

Dự án Luật Phát triển công nghiệp văn hóa đang được cho ý kiến tại Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI. Các ý kiến nhấn mạnh yêu cầu hoàn thiện khuôn khổ pháp lý theo hướng tạo thuận lợi cho sáng tạo, huy động nguồn lực xã hội, đồng thời bảo đảm hiệu quả quản lý nhà nước và sử dụng đúng mục đích các nguồn lực công.
Thúc đẩy ứng dụng trí tuệ nhân tạo có trách nhiệm trong giáo dục đại học

Thúc đẩy ứng dụng trí tuệ nhân tạo có trách nhiệm trong giáo dục đại học

Ngày 29/10, Trường Đại học Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội tổ chức Tọa đàm khoa học "Thực hành trí tuệ nhân tạo có trách nhiệm trong lĩnh vực giáo dục: Khung đạo đức quốc gia, quản trị rủi ro và thực tiễn ứng dụng".
Phát triển nhà ở cho thuê gắn với mục tiêu bảo đảm an sinh xã hội

Phát triển nhà ở cho thuê gắn với mục tiêu bảo đảm an sinh xã hội

Chiều ngày 28/10, tại Nhà Quốc hội, dưới sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Khắc Định, Quốc hội thảo luận tại hội trường về dự án Luật Nhà ở (sửa đổi). Trong đó, một số đại biểu đề nghị chuyển mạnh tư duy phát triển nhà ở từ gia tăng nguồn cung sang đáp ứng đúng nhu cầu và khả năng chi trả của người dân; hoàn thiện cơ chế phát triển nhà ở xã hội, nhà ở cho thuê và kiểm soát giá để các chính sách ưu đãi thực sự đến được với người thụ hưởng.
Hoàn thiện pháp luật về đấu giá tài sản đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Hoàn thiện pháp luật về đấu giá tài sản đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Đấu giá tài sản là phương thức quan trọng nhằm bảo đảm tính công khai, minh bạch trong chuyển dịch tài sản, khai thác hiệu quả các nguồn lực và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức, cá nhân. Sau gần 10 năm thi hành, một số nội dung của Luật Đấu giá tài sản năm 2016[I], phát sinh bất cập như không còn phù hợp với thực tiễn, mâu thuẫn, chồng chéo với một số quy định trong các luật mới được ban hành gần đây. Trên cơ sở phân tích chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và những vấn đề phát sinh trong thực tiễn, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết phải hoàn thiện và đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật về đấu giá tài sản theo hướng đồng bộ, minh bạch, khả thi, chi phí tuân thủ thấp, phát huy hiệu quả nguồn lực tài sản và nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước.
Thu thập dữ liệu điện tử làm nguồn chứng cứ trong giải quyết vụ án hình sự - Kinh nghiệm quốc tế và gợi mở đối với Việt Nam

Thu thập dữ liệu điện tử làm nguồn chứng cứ trong giải quyết vụ án hình sự - Kinh nghiệm quốc tế và gợi mở đối với Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh các vụ án xâm phạm an ninh mạng[I] ngày càng gia tăng với tính chất phức tạp, xuyên biên giới và phụ thuộc nhiều vào môi trường số, dữ liệu điện tử trở thành nguồn chứng cứ quan trọng trong giải quyết vụ án hình sự. Tuy nhiên, việc thu thập dữ liệu điện tử làm nguồn chứng cứ trong các vụ án đặt ra nhiều thách thức về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, tính toàn vẹn của dữ liệu và bảo vệ quyền riêng tư. Nghiên cứu phân tích quy định pháp luật của Trung Quốc, Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu về thu thập dữ liệu điện tử bằng việc phân tích cơ sở pháp lý, phương thức thu thập, cơ chế hợp tác xuyên biên giới và bảo đảm quyền con người; đồng thời, phân tích, so sánh, đánh giá thực trạng pháp luật Việt Nam; từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định về thu thập chứng cứ từ nguồn dữ liệu điện tử, góp phần nâng cao hiệu quả đấu tranh, phòng, chống các hành vi xâm phạm an ninh mạng trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật kinh tế đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số và chuyển đổi xanh

Hoàn thiện pháp luật kinh tế đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số và chuyển đổi xanh

Ngày 26/10/2026, Đại học Kinh tế Quốc dân phối hợp với Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật tổ chức Hội thảo khoa học quốc gia “Pháp luật kinh tế Việt Nam trong kỷ nguyên số và chuyển đổi xanh”. Hội thảo tập trung trao đổi, làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn đặt ra đối với hệ thống pháp luật kinh tế trước sự phát triển của công nghệ số và xu hướng chuyển đổi xanh, qua đó, đề xuất các định hướng hoàn thiện thể chế, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và phát triển bền vững.
Sử dụng đất kết hợp đa mục đích cho phát triển điện mặt trời tại Việt Nam - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Sử dụng đất kết hợp đa mục đích cho phát triển điện mặt trời tại Việt Nam - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Nghị quyết số 70-NQ/TW[1] xác định năng lượng tái tạo là ưu tiên chiến lược trong chuyển dịch cơ cấu năng lượng quốc gia. Trong bối cảnh điện mặt trời cần diện tích đất hoặc mặt nước lớn, cơ chế sử dụng đất kết hợp đa mục đích tại Điều 218 Luật Đất đai năm 2024 được kỳ vọng góp phần khai thác hiệu quả quỹ đất. Nghiên cứu đánh giá mức độ đồng bộ, tính khả thi và khả năng dự báo của khung pháp lý đất đai hiện hành, trong mối liên hệ với pháp luật về xây dựng, môi trường và điện lực đối với mô hình này. Bằng phương pháp phân tích quy phạm kết hợp phân tích thể chế liên ngành, nghiên cứu làm rõ việc cụ thể hóa hai yêu cầu tại điểm a và điểm b khoản 2 Điều 218 Luật Đất đai năm 2024 đối với dự án phát điện thương mại có vòng đời kéo dài hàng chục năm, nhận diện bốn nhóm bất cập về quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đồng thời, đề xuất định hướng hoàn thiện theo ba giai đoạn ngắn hạn, trung hạn và dài hạn.
Xây dựng đạo luật mới tạo đòn bẩy, động lực tăng trưởng kinh tế văn hóa

Xây dựng đạo luật mới tạo đòn bẩy, động lực tăng trưởng kinh tế văn hóa

Tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI, sáng ngày 24/10, các đại biểu nghe Bộ trưởng Văn hóa, Thể thao và Du lịch trình bày Tờ trình dự án Luật Phát triển công nghiệp văn hóa và Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa và Xã hội trình bày Báo cáo thẩm tra dự án Luật. Đây là đạo luật mới nhằm kịp thời thể chế hóa các chủ trương của Đảng, Nghị quyết của Bộ Chính trị, tạo đòn bẩy đưa công nghiệp văn hóa trở thành động lực tăng trưởng mới của đất nước.
Thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất theo Luật Đất đai năm 2024 - Bất cập và kiến nghị

Thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất theo Luật Đất đai năm 2024 - Bất cập và kiến nghị

Tóm tắt: Thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất là biện pháp hành chính quan trọng nhằm xử lý các trường hợp cấp giấy chứng nhận không đúng quy định của pháp luật được đề cập cụ thể tại Điều 152 Luật Đất đai năm 2024. Nghiên cứu phân tích thực trạng thẩm quyền thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất, ranh giới giữa cơ chế bảo vệ người thứ ba ngay tình tại khoản 4 Điều 152 Luật Đất đai năm 2024 với nguyên tắc chiếm hữu ngay tình trong Bộ luật Dân sự năm 2015 và cơ chế phối hợp giữa cơ quan hành chính với Tòa án. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trọng tâm là sửa đổi Nghị quyết số 254/2025/QH15 và Nghị định số 49/2026/NĐ-CP theo hướng thống nhất trình tự, thủ tục thu hồi giấy chứng nhận tại Việt Nam.
Hoàn thiện pháp luật về xử lý trường hợp trúng đấu giá quyền sử dụng đất nhưng vi phạm nghĩa vụ tài chính

Hoàn thiện pháp luật về xử lý trường hợp trúng đấu giá quyền sử dụng đất nhưng vi phạm nghĩa vụ tài chính

Tóm tắt: Tình trạng người trúng đấu giá quyền sử dụng đất không thực hiện nghĩa vụ tài chính và hành vi thao túng đấu giá gây thất thu ngân sách, làm sai lệch giá đất, ảnh hưởng đến tính minh bạch của thị trường bất động sản. Nghiên cứu đánh giá thực trạng pháp luật Việt Nam về xử lý các hành vi này trên cơ sở phân tích quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng. Bằng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh quy phạm pháp luật và nghiên cứu tình huống, kết quả nghiên cứu cho thấy, pháp luật còn những bất cập về xử lý tiền đặt trước, hủy kết quả trúng đấu giá, xác định thời hạn cấm tham gia đấu giá, kiểm soát hành vi né tránh chế tài thông qua pháp nhân trung gian và giải quyết hậu quả sau khi hủy kết quả đấu giá. Từ đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện quy định về căn cứ, điều kiện và hậu quả pháp lý của các biện pháp xử lý; tăng cường kiểm soát lịch sử vi phạm, bảo đảm tính minh bạch và cạnh tranh trong đấu giá quyền sử dụng đất.

Theo dõi chúng tôi trên: