Thứ ba 11/08/2026 23:33
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đột phá thúc đẩy các đô thị động lực

Phát biểu giải trình tại phiên thảo luận Quốc hội sáng ngày 11/8, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hoàng Thanh Tùng nhấn mạnh, dự án Luật Phát triển đô thị hướng tới tạo lập một hành lang pháp lý ổn định, có tính đột phá nhằm tháo gỡ các điểm nghẽn về thể chế, hạ tầng và nguồn lực, qua đó thúc đẩy các đô thị động lực. Quan điểm xuyên suốt trong quá trình xây dựng dự án Luật là thể chế hóa kịp thời, đầy đủ chủ trương của Đảng; chuyển từ tư duy quản lý chặt sang kiến tạo phát triển; thực hiện phân quyền triệt để theo phương châm “địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm”.
Tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đột phá thúc đẩy các đô thị động lực
Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hoàng Thanh Tùng nhấn mạnh, dự án Luật Phát triển đô thị hướng tới tạo lập một hành lang pháp lý ổn định, có tính đột phá nhằm tháo gỡ các điểm nghẽn về thể chế, hạ tầng và nguồn lực, qua đó thúc đẩy các đô thị động lực. (Ảnh: Quochoi.vn)

Sáng ngày 11/8, trong Chương trình Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI, dưới sự chủ trì của Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn và sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Khắc Định, các đại biểu Quốc hội thảo luận tại hội trường về dự án Luật Phát triển đô thị.

Mở rộng thẩm quyền của thành phố là đô thị đặc biệt trong xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật

Dự thảo Luật Phát triển đô thị gồm 05 chương, 66 điều, tập trung vào 02 nhóm chính sách lớn: (i) Đẩy mạnh phân quyền cho thành phố là đô thị đặc biệt và chính sách đặc thù thúc đẩy thành phố là đô thị đặc biệt; (ii) Thiết lập các cơ chế, chính sách đặc thù để thúc đẩy phát triển khu kinh tế đặc biệt; ngoài ra, có cơ chế để thúc đẩy phát triển các thành phố chưa được công nhận là đô thị đặc biệt.

Trên cơ sở đó, dự thảo Luật đề xuất mở rộng thẩm quyền của thành phố là đô thị đặc biệt trong xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật nhằm quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành và xử lý các vấn đề đặc thù phát sinh từ thực tiễn quản lý, phát triển đô thị. Cơ chế phân quyền được thiết kế đồng bộ với các yêu cầu về giám sát, thanh tra, kiểm tra và trách nhiệm giải trình nhằm kiểm soát chặt chẽ trong quá trình thực hiện, bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật; đồng thời, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, cho phép điều chỉnh quy trình, thẩm quyền giải quyết theo hướng đơn giản, thuận lợi hơn cho người dân và doanh nghiệp.

Dự thảo Luật cũng tạo cơ sở pháp lý để phát triển các lĩnh vực có vai trò động lực đối với tăng trưởng như trung tâm tài chính quốc tế, khu thương mại tự do, logistics, kinh tế biển, hạ tầng năng lượng, giáo dục, y tế, du lịch, thu hút nhà đầu tư chiến lược, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; hoàn thiện cơ chế, chính sách phát triển khu kinh tế đặc biệt, gồm các quy định về quy hoạch, xây dựng, phát triển kết cấu hạ tầng, huy động nguồn lực, phát triển kinh tế biển, khu phi thuế quan và hoạt động kinh doanh hàng miễn thuế, tạo điều kiện hình thành các cực tăng trưởng mới.

Đáng chú ý, dự thảo Luật thiết lập cơ chế kiểm soát quyền lực chặt chẽ thông qua thanh tra, kiểm tra, giám sát và trách nhiệm giải trình; đồng thời có quy định khuyến khích, bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung và xử lý nghiêm các hành vi tham nhũng, trục lợi, lạm dụng chính sách.

Hoàn thiện các cơ chế thúc đẩy sự phát triển của đô thị đặc biệt và khu kinh tế đặc biệt

Cho ý kiến về phát triển hệ thống y tế, an sinh xã hội tại Điều 27 dự thảo Luật, đại biểu Lê Thị Hoài Chung (Đoàn đại biểu quốc hội tỉnh Nghệ An) đề nghị, dự thảo Luật không chỉ tiếp cận y tế như một nhóm dịch vụ an sinh, mà cần xác định y tế là một cấu phần thiết yếu của hạ tầng đô thị và là điều kiện quan trọng để bảo đảm chất lượng sống của người dân. Đại biểu nhấn mạnh, quy hoạch đô thị cần bảo đảm người dân được tiếp cận công bằng, thuận tiện, kịp thời và có chất lượng đối với các dịch vụ chăm sóc sức khỏe. Đồng thời tăng cường năng lực y tế dự phòng, cấp cứu ngoại viện, phòng chống dịch bệnh, ứng phó thảm họa và các tình huống y tế khẩn cấp.

Tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đột phá thúc đẩy các đô thị động lực
Đại biểu Lê Thị Hoài Chung (Đoàn đại biểu quốc hội tỉnh Nghệ An) đề nghị, dự thảo Luật không chỉ tiếp cận y tế như một nhóm dịch vụ an sinh, mà cần xác định y tế là một cấu phần thiết yếu của hạ tầng đô thị và là điều kiện quan trọng để bảo đảm chất lượng sống của người dân. (Ảnh: Quochoi.vn)

Thảo luận về cơ chế tháo gỡ cho các dự án chậm triển khai quy định tại dự thảo Luật, theo đại biểu Nguyễn Ngọc Sơn (Đoàn đại biểu quốc hội thành phố Hải Phòng), đây là hướng tiếp cận cần thiết nhằm giải phóng nguồn lực đất đai đang bị “đóng băng”. Tuy nhiên, để cơ chế này vận hành hiệu quả và không bị “biến tướng”, đại biểu đề xuất bổ sung cơ chế kiểm soát chặt chẽ. Theo đó, cần xác định đầy đủ nghĩa vụ tài chính khi cho phép tiếp tục dự án phải rà soát, để Nhà nước không thất thu nhưng cũng không xác lập lại nghĩa vụ đã được thực hiện hợp pháp, tránh biến việc giải phóng nguồn lực thành cơ chế hợp thức hóa lợi ích phát sinh từ dự án kéo dài. Với dự án có giá trị đất đai, tài sản công hoặc nghĩa vụ tài chính lớn, phức tạp cần qua thẩm định liên ngành.

Thảo luận tại phiên họp, đại biểu Nguyễn Đại Thắng (Đoàn đại biểu quốc hội tỉnh Hưng Yên) cho rằng, việc giao Hội đồng nhân dân thành phố quyết định chính sách thu nhập đối với người làm việc tại một số cơ quan Trung ương trên địa bàn cần cân nhắc kỹ để tránh ảnh hưởng đến tính thống nhất của chế độ công vụ; cần quy định rõ nguồn kinh phí do ngân sách địa phương bảo đảm, không sử dụng ngân sách Trung ương; đồng thời, cần làm rõ mối quan hệ giữa cơ chế thử nghiệm với các quy định của pháp luật chuyên ngành về đất đai, điện lực, đầu tư, quy hoạch...; quy định nguyên tắc bảo vệ cán bộ trong trường hợp đã làm đúng quy trình nhưng phát sinh rủi ro khách quan.

Bên cạnh đó, đại biểu Phạm Văn Thịnh (Đoàn đại biểu quốc hội tỉnh Bắc Ninh) nhận định, việc bắt buộc thành phố chưa là đô thị đặc biệt phải có “chủ trương của cấp có thẩm quyền” và chờ “quy định phạm vi của Chính phủ” mới được áp dụng một số cơ chế sẽ tạo ra rào cản hành chính. Do đó, cơ quan chủ trì soạn thảo cần nghiên cứu cho phép các thành phố này được thực hiện ngay một số chính sách trong Luật; ngoài ra, cần sửa quy định để cho phép các địa phương này được ban hành thủ tục hành chính thực hiện nhiệm vụ được phân cấp, tránh tình trạng được phân cấp nhưng không thể triển khai vì thiếu thủ tục…

Tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đột phá thúc đẩy các đô thị động lực
Đại biểu Phạm Văn Thịnh (Đoàn đại biểu quốc hội tỉnh Bắc Ninh) cho rằng, việc bắt buộc thành phố chưa là đô thị đặc biệt phải có “chủ trương của cấp có thẩm quyền” và chờ “quy định phạm vi của Chính phủ” mới được áp dụng một số cơ chế sẽ tạo ra rào cản hành chính. (Ảnh: Doãn Tấn - TTXVN)

Theo đại biểu Trịnh Xuân An (Đoàn đại biểu quốc hội tỉnh Đồng Nai), dự thảo Luật không chỉ luật hóa một số cơ chế, chính sách đặc thù đã được thực tiễn kiểm nghiệm mà còn hình thành khuôn khổ thể chế mới cho quản trị, phát triển đô thị. Đó là chuyển mạnh từ quản lý sang kiến tạo phát triển; từ việc từng địa phương phải “xin” cơ chế đặc thù sang phân quyền mạnh, ổn định, minh bạch và có trách nhiệm. Bên cạnh đó, đại biểu đề nghị quy định trực tiếp trong Luật cơ chế áp dụng đối với thành phố Đồng Nai, bởi, Nghị quyết của Bộ Chính trị đã xác định Đồng Nai được áp dụng một số cơ chế, chính sách đặc thù tương đồng với Thành phố Hồ Chí Minh trên nhiều lĩnh vực như đầu tư, tài chính, ngân sách, đất đai, quy hoạch, đô thị, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, nguồn nhân lực...

Thực hiện phân quyền triệt để theo phương châm “địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm”

Phát biểu giải trình tại phiên thảo luận, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hoàng Thanh Tùng nhấn mạnh, dự án Luật Phát triển đô thị hướng tới tạo lập một hành lang pháp lý ổn định, có tính đột phá nhằm tháo gỡ các điểm nghẽn về thể chế, hạ tầng và nguồn lực, qua đó thúc đẩy các đô thị động lực. Quan điểm xuyên suốt trong quá trình xây dựng dự án Luật là thể chế hóa kịp thời, đầy đủ chủ trương của Đảng; chuyển từ tư duy quản lý chặt sang kiến tạo phát triển; thực hiện phân quyền triệt để theo phương châm “địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm”.

Bộ trưởng cho biết, dự thảo Luật được thiết kế là một đạo luật khung về phân quyền, chỉ quy định những vấn đề có tính nguyên tắc thuộc thẩm quyền của Quốc hội, đồng thời gắn chặt việc trao quyền với cơ chế kiểm soát quyền lực và trách nhiệm giải trình. Theo đó, dự thảo Luật giao Chính phủ quyết định việc áp dụng cơ chế đặc thù đối với các thành phố chưa được công nhận là đô thị đặc biệt, với điều kiện phải có chủ trương của cấp có thẩm quyền được xác định là Bộ Chính trị, cùng các điều kiện khác quy định tại khoản 3 Điều 1.

Đối với những cơ chế đặc thù nhằm phát huy tiềm năng, thế mạnh của địa phương, thành phố chưa phải đô thị đặc biệt và chưa được quy định trong Luật, khoản 5 Điều 1 dự thảo Luật quy định Chính phủ phải báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội trước khi ban hành và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất.

Theo dự thảo Luật, các thành phố thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật không được ban hành văn bản quy định khác hoặc thí điểm cơ chế, chính sách trong các lĩnh vực quốc phòng, an ninh, đối ngoại và tôn giáo. Thủ tướng Chính phủ có quyền đình chỉ, bãi bỏ văn bản của địa phương nếu xét thấy văn bản đó ảnh hưởng đến lợi ích quốc gia, quốc phòng, an ninh. Trong lĩnh vực quy hoạch, việc lập, điều chỉnh quy hoạch tổng thể thành phố và các quy hoạch không gian đặc thù, gồm không gian ngầm, không gian tầm thấp và tầm cao, bắt buộc phải lấy ý kiến và có sự thống nhất bằng văn bản của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an.

Đáng chú ý, Bộ trưởng Hoàng Thanh Tùng cho rằng, cơ chế kiểm soát quyền lực cần gắn với kiểm soát đa tầng, đáp ứng đúng yêu cầu “có van, có khóa”. Cụ thể, tại Điều 3 và Điều 4, các “van” điều tiết được thiết kế nhằm bảo đảm ổn định vĩ mô. Việc phân quyền không được làm ảnh hưởng đến an toàn tài chính quốc gia và phải tôn trọng các quy luật của thị trường. Trong xây dựng thể chế, Điều 7 quy định ngay cả trường hợp đô thị đặc biệt ban hành văn bản khác với quy định của Trung ương cũng vẫn phải tuân thủ quy trình chặt chẽ về đánh giá tác động, tham vấn ý kiến các Bộ, ngành; đồng thời báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Chính phủ trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày ban hành.

Đối với cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) tại Điều 8 và Điều 30, dự thảo Luật đặt ra “khóa” về thời gian. Thời gian thí điểm tối đa là 05 năm; trường hợp gia hạn cũng không được quá 05 năm. Chính quyền thành phố phải tạm dừng ngay việc thí điểm nếu phát sinh tác động tiêu cực vượt quá dự báo.

Trong quản lý tài chính và đầu tư, việc huy động vốn, phát hành trái phiếu và vay nợ phải nằm trong hạn mức nợ công được phê duyệt, bảo đảm rủi ro thuộc trách nhiệm của địa phương. Đối với các dự án lớn, Chính phủ vẫn giữ quyền quyết định mức bổ sung ngân sách có mục tiêu, qua đó bảo đảm vai trò chủ đạo của ngân sách Trung ương.

Với các dự án chậm triển khai tại Điều 33 dự án Luật, chính sách đặc biệt chỉ được áp dụng khi đã có kết luận thanh tra hoặc bản án có hiệu lực pháp luật. Dự thảo Luật nghiêm cấm việc lợi dụng cơ chế đặc thù để hợp pháp hóa những sai phạm do tham nhũng, trục lợi.

Trên cơ sở các nội dung được thảo luận, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hoàng Thanh Tùng khẳng định, Bộ Tư pháp sẽ phối hợp với cơ quan thẩm tra rà soát toàn diện dự thảo Luật, tiếp thu tối đa những ý kiến xác đáng, tâm huyết, trách nhiệm của đại biểu Quốc hội; tiếp tục hoàn thiện các cơ chế đặc thù theo hướng vừa tạo không gian phát triển, vừa bảo đảm kỷ luật, kỷ cương và khả năng kiểm soát quyền lực trong tổ chức thực hiện.

Thùy Dung

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện cơ chế bồi thường, bảo đảm tốt hơn quyền lợi người bị thiệt hại

Hoàn thiện cơ chế bồi thường, bảo đảm tốt hơn quyền lợi người bị thiệt hại

Tiếp tục chương trình Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI, chiều ngày 10/8, Quốc hội thảo luận tại Hội trường về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.
Hoàn thiện Quy chế truyền thông chính sách của Bộ, ngành Tư pháp

Hoàn thiện Quy chế truyền thông chính sách của Bộ, ngành Tư pháp

Ngày 11/8, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Ngọc làm việc với Cục Phổ biến, giáo dục pháp luật và Trợ giúp pháp lý về việc hoàn thiện Quy chế truyền thông chính sách của Bộ, ngành Tư pháp.
Xác định rõ "điểm dừng" để hòa giải không cản trở quyền tiếp cận công lý

Xác định rõ "điểm dừng" để hòa giải không cản trở quyền tiếp cận công lý

Trước yêu cầu làm rõ giới hạn của hòa giải ở cơ sở, một số đại biểu Quốc hội đề nghị xác định cụ thể quyền của các bên, "điểm dừng pháp lý" và những trường hợp phải chuyển vụ việc cho cơ quan có thẩm quyền; đồng thời cân nhắc cơ chế bầu, chỉ định hòa giải viên và hòa giải trực tuyến để bảo đảm phù hợp thực tiễn.
Sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật hướng mạnh tới yêu cầu lấy người dân làm trung tâm

Sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật hướng mạnh tới yêu cầu lấy người dân làm trung tâm

Trong khuôn khổ chương trình kỳ họp không thường lệ thứ nhất, Quốc hội khóa XVI, chiều 09/8, dưới sự điều hành của Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Khắc Định, Quốc hội tiến hành thảo luận tại Hội trường về dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi).
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.
Xã hội hóa công tác phổ biến, giáo dục pháp luật - Kinh nghiệm từ Trung Quốc và gợi mở đối với Việt Nam

Xã hội hóa công tác phổ biến, giáo dục pháp luật - Kinh nghiệm từ Trung Quốc và gợi mở đối với Việt Nam

Tóm tắt: Xã hội hóa công tác phổ biến, giáo dục pháp luật đóng vai trò quan trọng trong việc thu hút các nguồn lực xã hội vào thực hiện, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Hoàn thiện cơ chế xã hội hóa công tác phổ biến, giáo dục pháp luật là yêu cầu đặt ra trong quá trình sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 nhằm huy động hiệu quả nguồn lực xã hội và đáp ứng yêu cầu đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật theo tinh thần Nghị quyết số 66-NQ/TW[I]. Trên cơ sở phân tích dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)[II] (dự thảo Luật) và tham khảo kinh nghiệm của Trung Quốc, nghiên cứu nhận diện những bất cập trong cơ chế xã hội hóa, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện.
Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh ngân hàng số phát triển, thông tin chưa được kiểm chứng có thể tác động nhanh đến tâm lý và hành vi của người gửi tiền. Nghiên cứu phân tích quy định pháp luật và thực tiễn phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hoạt động này chưa chú trọng đầy đủ đến mức độ hiểu và khả năng vận dụng pháp luật của người gửi tiền; nội dung còn thiên về tính chuyên môn; phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật và cơ chế cung cấp thông tin kịp thời còn hạn chế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá, tích hợp thông tin pháp luật ngắn gọn vào dịch vụ ngân hàng số và tăng cường cung cấp thông tin chính thức, kịp thời nhằm bảo vệ người gửi tiền và củng cố niềm tin vào hệ thống ngân hàng.
Đổi mới tư duy, xây dựng quy trình lập pháp, lập quy hiện đại, chuyên nghiệp

Đổi mới tư duy, xây dựng quy trình lập pháp, lập quy hiện đại, chuyên nghiệp

Sáng ngày 07/8, Bộ Tư pháp tổ chức Hội thảo Luật về văn bản quy phạm pháp luật. Thứ trưởng Bộ Tư pháp Đặng Hoàng Oanh chủ trì Hội thảo. Đồng chủ trì có Vụ trưởng Vụ Công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật Nguyễn Quốc Hoàn.
Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Quyền con người phản ánh sự kết tinh những giá trị nhân phẩm cao quý của nhân loại. Nghiên cứu công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người là phân tích, đánh giá phương thức thể chế hóa các chủ trương của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời, đề xuất giải pháp khắc phục những hạn chế của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 trước thách thức mới từ công nghệ số. Trên cơ sở tổng hợp và so sánh luật học, nghiên cứu phân tích, đánh giá vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người và thực trạng thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012. Đồng thời, nghiên cứu đánh giá tính phù hợp, khả thi của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Từ đó, kiến nghị và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi) - Từ đổi mới chính sách đến yêu cầu tổ chức thực hiện

Dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi) - Từ đổi mới chính sách đến yêu cầu tổ chức thực hiện

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Tuy nhiên, trước yêu cầu đổi mới công tác xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật, chuyển đổi số quốc gia, tổ chức chính quyền địa phương theo mô hình hai cấp và hội nhập quốc tế, nhiều quy định của Luật đã bộc lộ hạn chế, bất cập cần được sửa đổi, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích bối cảnh và thực tiễn thi hành, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết sửa đổi Luật; phân tích 06 chính sách lớn và những điểm mới của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* ( dự thảo Luật), đồng thời, đề xuất một số yêu cầu, giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả tổ chức thi hành Luật.
Nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong thực hiện chính quyền địa phương hai cấp

Nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong thực hiện chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Trong bối cảnh cải cách tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, hiệu lực, hiệu quả, việc triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp đặt ra yêu cầu đổi mới phương thức quản trị ở địa phương. Cùng với quá trình phân cấp, phân quyền mạnh mẽ, phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành công cụ quan trọng nhằm bảo đảm đội ngũ cán bộ, công chức và người dân hiểu đúng, thực hiện đúng pháp luật, qua đó, nâng cao chất lượng quản lý nhà nước và xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật trong xã hội. Nghiên cứu phân tích cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong điều kiện thực hiện chính quyền địa phương hai cấp, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả quản trị địa phương và bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật của người dân.
Hoàn thiện quy định của pháp luật về hòa giải ở cơ sở đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong giai đoạn mới

Hoàn thiện quy định của pháp luật về hòa giải ở cơ sở đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong giai đoạn mới

Trong khuôn khổ Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI, sáng ngày 05/8, thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hoàng Thanh Tùng trình bày Tờ trình về dự án Luật Hòa giải ở cơ sở (sửa đổi) và Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội Nguyễn Đắc Vinh trình bày Báo cáo thẩm tra về dự án Luật.
Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 quy định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy mà không tự nguyện cai nghiện. Mặc dù không được xem là biện pháp xử lý hành chính nhưng biện pháp này mang tính cách ly người bị áp dụng khỏi cộng đồng. Để bảo vệ quyền của người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, pháp luật cho phép các chủ thể liên quan khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định quyền khởi kiện hay kháng cáo đối với quyết định này. Nghiên cứu phân tích bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, đồng thời, đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng biện pháp này.
Xác định pháp luật là công cụ hiện thực hóa các mục tiêu phát triển của Đảng và Nhà nước

Xác định pháp luật là công cụ hiện thực hóa các mục tiêu phát triển của Đảng và Nhà nước

Chiều ngày 06/8, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hoàng Thanh Tùng làm việc với Viện Chiến lược và Khoa học pháp lý về Đề án "Chiến lược hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam trong kỷ nguyên mới". Tham dự buổi làm việc có Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tú; đại diện Lãnh đạo một số đơn vị thuộc Bộ Tư pháp cùng các chuyên gia, nhà khoa học.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trong môi trường số

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trong môi trường số

Tóm tắt: Chuyển đổi số tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội và đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật cho người dân, nhất là người tiêu dùng. Nghiên cứu phân tích việc hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trên các nền tảng thương mại điện tử. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tham chiếu kinh nghiệm quốc tế, nghiên cứu chỉ ra những hạn chế của pháp luật hiện hành trong xác định đối tượng, nội dung, phương thức phổ biến, cơ chế phối hợp và đánh giá hiệu quả. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)1 (dự thảo Luật) theo hướng phát triển năng lực pháp lý số, góp phần nâng cao khả năng phòng ngừa rủi ro và tự bảo vệ của người tiêu dùng trong môi trường số.

Theo dõi chúng tôi trên: