Từ khóa: phổ biến, giáo dục pháp luật; môi trường số; bảo vệ người tiêu dùng; thương mại điện tử; nền tảng số; năng lực pháp lý số.
Abstract: Digital transformation affects all aspects of social life and necessitates the urgent need to innovate the legal dissemination and education for citizens, especially consumers. This study analyzes the improvement of legislation on the legal dissemination and education to protect consumers on ecommerce platforms. Using comparative legal analysis and referencing international experience, the study identifies the limitations of current legislation in defining the target audience, content, methods of dissemination, coordination mechanisms, and effectiveness evaluation. Based on this, the study proposes improvements to the draft Law on Legal Dissemination and Education (amended) (draft Law) towards developing digital legal capacity, contributing to enhancing the risk prevention and selfprotection capabilities of consumers in the digital environment.
Keywords: Legal dissemination and education; digital environment; consumer protection; ecommerce; digital platforms; digital legal capacity.
Đặt vấn đề
Trong bối cảnh chuyển đổi số và sự phát triển mạnh mẽ của thương mại điện tử, người tiêu dùng có nhiều cơ hội tiếp cận hàng hóa, dịch vụ, tuy nhiên, cũng đối mặt với các rủi ro như không cân xứng thông tin, quảng cáo sai sự thật, giao dịch xuyên biên giới và khó khăn trong bảo vệ quyền lợi khi phát sinh tranh chấp.
Do đó, bảo vệ người tiêu dùng không chỉ phụ thuộc vào các quy định về trách nhiệm của thương nhân, nền tảng số hay cơ chế giải quyết tranh chấp mà đòi hỏi người tiêu dùng có khả năng nhận diện rủi ro, hiểu và vận dụng pháp luật để tự bảo vệ mình. Trong bối cảnh đó, phổ biến, giáo dục pháp luật cần được đổi mới theo hướng phát triển năng lực pháp lý số cho người dân, thay vì chỉ truyền đạt thông tin pháp luật.
Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 được Quốc hội thông qua khi nền kinh tế số và thương mại điện tử chưa phát triển như hiện nay. Trong khi đó, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, Luật Giao dịch điện tử năm 2023 và Luật Thương mại điện tử năm 2025 đặt ra yêu cầu bảo đảm quyền lợi của người tiêu dùng trong môi trường số. Điều này đòi hỏi pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật phải được sửa đổi theo hướng giúp người tiêu dùng tiếp cận và sử dụng hiệu quả các quy định pháp luật trong thực tiễn.
Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích các quy định của pháp luật hiện hành và dự thảo Luật, tham chiếu kinh nghiệm quốc tế nhằm đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng phát triển năng lực pháp lý số, góp phần nâng cao khả năng phòng ngừa rủi ro và tự bảo vệ của người tiêu dùng trong môi trường số.
1. Một số vấn đề về phát triển năng lực pháp lý số nhằm bảo vệ người tiêu dùng
Yêu cầu phát triển năng lực pháp lý số nhằm bảo vệ người tiêu dùng được hình thành từ ba phương diện: (i) khái niệm và các cấu phần của năng lực pháp lý số; (ii) cơ sở pháp lý từ các quy định về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, giao dịch điện tử và thương mại điện tử; (iii) rủi ro pháp lý đặc thù của giao dịch trên môi trường số. Đây là cơ sở để đánh giá mức độ đáp ứng của pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với yêu cầu bảo vệ người tiêu dùng trong bối cảnh chuyển đổi số.
1.1 Khái niệm và cấu phần của năng lực pháp lý số
Năng lực pháp lý số không đồng nhất với hiểu biết pháp luật thông thường và kỹ năng công nghệ. Khái niệm năng lực pháp lý số là sự kết hợp giữa khả năng nhận thức quyền, nghĩa vụ với kỹ năng sử dụng thiết bị, dữ liệu, hướng đến kết quả cụ thể là dùng pháp luật để ra quyết định và thực hiện quyền trong môi trường số. Trong phạm vi nghiên cứu này, năng lực pháp lý số được hiểu là khả năng của cá nhân trong tiếp cận, hiểu, đánh giá và vận dụng thông tin, quy tắc và công cụ pháp lý để phòng ngừa, xử lý rủi ro và thực hiện quyền trong các quan hệ phát sinh trên môi trường số.
Năng lực pháp lý số gồm bốn cấu phần: (i) năng lực tiếp cận thể hiện ở việc tìm và nhận diện nguồn chính thống; (ii) năng lực hiểu và đánh giá giúp phân biệt thông tin pháp lý với quảng cáo, nhận diện rủi ro và dự liệu hậu quả; (iii) năng lực vận dụng thể hiện ở việc kiểm tra người bán, điều kiện giao dịch, phương thức thanh toán và dữ liệu; (iv) năng lực thực hiện quyền gồm lưu chứng cứ, phản ánh, khiếu nại, yêu cầu bồi thường và tiếp cận giải quyết tranh chấp.
Bảo vệ người tiêu dùng trong môi trường số là mục tiêu cuối cùng, phát triển năng lực pháp lý số là kết quả trực tiếp và là điều kiện để người tiêu dùng sử dụng cơ chế bảo vệ. Năng lực pháp lý số không thay thế trách nhiệm của Nhà nước, thương nhân, nền tảng hoặc chuyển gánh nặng tuân thủ sang người tiêu dùng mà chỉ bổ sung hiệu quả phòng ngừa và chủ động cho hệ thống bảo vệ.
1.2. Cơ sở pháp lý của yêu cầu phát triển năng lực pháp lý số
Phát triển năng lực pháp lý số xuất phát từ những thay đổi của pháp luật hiện hành về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023 mở rộng trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh. Trách nhiệm này gồm cung cấp thông tin, bảo đảm minh bạch hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung và bảo vệ người tiêu dùng trong giao dịch từ xa. Trên môi trường số, chấp nhận điều khoản thường được thực hiện qua thao tác “đồng ý”, “đặt hàng” hoặc “thanh toán”, trong khi đó, người tiêu dùng có thể chưa nhận thức đầy đủ hệ quả pháp lý. Vì vậy, phổ biến, giáo dục pháp luật cần trang bị, giúp người tiêu dùng khả năng nhận diện điều khoản bất lợi, đánh giá tính minh bạch của điều kiện giao dịch và dự liệu rủi ro trước khi xác lập giao dịch.
Luật Giao dịch điện tử năm 2023 thừa nhận giá trị pháp lý của thông điệp dữ liệu, chữ ký điện tử, hợp đồng điện tử và các hình thức giao dịch điện tử2. Dữ liệu điện tử có thể là căn cứ xác lập, thực hiện và chứng minh quyền, nghĩa vụ. Vì vậy, người tiêu dùng không chỉ biết quy định, mà còn phải có khả năng lưu giữ, quản lý và sử dụng dữ liệu để bảo vệ quyền lợi. Hóa đơn điện tử, xác nhận đơn hàng, nội dung trao đổi với người bán, thông tin quảng cáo, chính sách đổi trả và lịch sử khiếu nại trở thành những nguồn chứng cứ quan trọng. Kỹ năng quản lý các dữ liệu này là bộ phận của năng lực pháp lý số.
Thực tiễn xét xử cũng cho thấy ý nghĩa của việc trang bị năng lực pháp lý số. Án lệ số 42/2021/AL đề cập quyền lựa chọn Tòa án khi hợp đồng theo mẫu có thỏa thuận trọng tài. Án lệ cho thấy, người tiêu dùng cần nhận diện hệ quả của điều khoản giải quyết tranh chấp ngay từ thời điểm giao kết3. Giá trị của án lệ không chỉ khẳng định quyền lựa chọn cơ chế giải quyết tranh chấp, mà còn gợi mở yêu cầu phổ biến pháp luật theo tình huống cụ thể, gắn với điều khoản mẫu, chứng cứ giao dịch và khả năng thực hiện quyền trên thực tế.
1.3. Rủi ro pháp lý của giao dịch trong môi trường số
Trong giao dịch truyền thống, người tiêu dùng có thể trực tiếp kiểm tra hàng hóa, nhận diện người bán và trao đổi về điều kiện giao dịch. Trong môi trường số, quyết định giao dịch được hình thành trong kiến trúc thông tin do nền tảng tổ chức. Kết quả tìm kiếm, vị trí quảng cáo, đánh giá trực tuyến, nội dung do người có ảnh hưởng cung cấp, thuật toán gợi ý và giao diện đặt hàng đều có thể tác động đến sự lựa chọn của người tiêu dùng. Rủi ro pháp lý không chỉ bắt nguồn từ việc thiếu kiến thức về quy định, mà từ hạn chế trong khả năng nhận diện nguồn thông tin, đánh giá tính minh bạch và dự liệu hệ quả pháp lý của thao tác trên giao diện.
Rủi ro pháp lý có thể được nhận diện theo ba giai đoạn: (i) trước giao dịch, người tiêu dùng có thể không kiểm tra được danh tính người bán, nhầm lẫn quảng cáo với nội dung độc lập hoặc bị dẫn dắt bởi thiết kế giao diện; (ii) trong quá trình giao kết hợp đồng, người tiêu dùng có thể chấp nhận điều khoản mẫu, đồng ý xử lý dữ liệu hoặc chuyển giao thanh toán mà không hiểu đầy đủ hậu quả pháp lý; (iii) sau giao dịch, khó khăn thường nằm ở việc lưu giữ chứng cứ, xác định kênh khiếu nại, yêu cầu hoàn tiền và lựa chọn cơ chế giải quyết tranh chấp.
Đặc điểm này làm thay đổi yêu cầu của phổ biến, giáo dục pháp luật. Thông tin pháp luật chỉ có giá trị khi được cung cấp đúng thời điểm, gắn với tình huống và giúp người dùng thực hiện một hành vi cụ thể. Người tiêu dùng biết mình có quyền khiếu nại nhưng không biết lưu xác nhận đơn hàng, chụp lại quảng cáo hoặc tìm đúng cơ quan tiếp nhận vẫn khó có khả năng tự bảo vệ. Vì thế, kết quả của hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật không chỉ dừng ở nhận thức, mà còn gồm khả năng hành động bằng pháp luật.
2. Thực trạng pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong bảo vệ người tiêu dùng trên môi trường số
Đối chiếu với yêu cầu phát triển năng lực pháp lý số đã phân tích, nghiên cứu cho thấy, pháp luật hiện hành về phổ biến, giáo dục pháp luật còn tồn tại ba nhóm hạn chế chủ yếu: (i) quy định đối tượng và nội dung phổ biến, giáo dục pháp luật chưa được thiết kế trên cơ sở các rủi ro pháp lý trong môi trường số; (ii) hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật và trách nhiệm của các chủ thể trong môi trường số chưa đáp ứng yêu cầu tương tác và hỗ trợ người tiêu dùng; (iii) cơ chế đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật còn thiên về quá trình thực hiện, số lượng hoạt động, chưa phản ánh đầy đủ kết quả hoạt động và tác động thay đổi nhận thức của người dân.
2.1. Hạn chế trong quy định đối tượng và nội dung phổ biến, giáo dục pháp luật chưa được thiết kế trên cơ sở các rủi ro pháp lý trong môi trường số
Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 xác định các nhóm đối tượng ưu tiên chủ yếu dựa trên đặc điểm nhân thân, điều kiện kinh tế xã hội, địa bàn cư trú hoặc hoàn cảnh đặc thù. Cách tiếp cận này chưa phản ánh đầy đủ mức độ dễ bị tổn thương của người tiêu dùng trong môi trường số. Trên thực tế, những người không thuộc nhóm yếu thế truyền thống vẫn có thể đối mặt với rủi ro pháp lý cao nếu thiếu khả năng kiểm chứng thông tin, nhận diện hành vi thao túng trên nền tảng số, bảo vệ dữ liệu cá nhân hoặc lưu giữ chứng cứ điện tử. Mặc dù, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023 và Luật Thương mại điện tử năm 2025 đã nhận diện nhiều rủi ro mới phát sinh trong giao dịch trực tuyến, các rủi ro này chưa được chuyển hóa thành căn cứ xác định nhu cầu và đối tượng ưu tiên trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.
Bên cạnh đó, hiện, nội dung phổ biến, giáo dục pháp luật chủ yếu tập trung vào giới thiệu quy định pháp luật và nâng cao ý thức chấp hành, trong khi chưa chú trọng trang bị các kỹ năng pháp lý cần thiết để người tiêu dùng tự bảo vệ trong môi trường số. Người tiêu dùng cần được hướng dẫn cách kiểm tra thông tin người bán, nhận diện quảng cáo và điều khoản bất lợi, quản lý dữ liệu cá nhân, lưu giữ chứng cứ điện tử, cũng như thực hiện quyền phản ánh, khiếu nại và lựa chọn cơ chế giải quyết tranh chấp phù hợp. Những nội dung này chưa được coi là bộ phận của hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật, việc phổ biến pháp luật mới chỉ giúp người dân biết quy định, mà chưa vận dụng quy định để phòng ngừa và xử lý rủi ro trong thực tiễn.
Những hạn chế này làm giảm hiệu quả phòng ngừa của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Nguồn lực có thể chưa được phân bổ đến đúng nhóm có nguy cơ cao, trong khi nội dung tuyên truyền dù chính xác vẫn chưa đáp ứng nhu cầu pháp lý phát sinh tại thời điểm người tiêu dùng đưa ra quyết định giao dịch.
2.2. Hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật và trách nhiệm của các chủ thể trong môi trường số chưa đáp ứng yêu cầu tương tác và hỗ trợ người tiêu dùng
Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 quy định nhiều hình thức phổ biến pháp luật như thông qua internet, trang thông tin điện tử, phương tiện thông tin đại chúng và các hình thức phù hợp với từng nhóm đối tượng; đồng thời, yêu cầu cơ quan nhà nước công khai thông tin pháp luật trên trang thông tin điện tử của mình4. Tuy nhiên, các quy định này chủ yếu tiếp cận internet như một kênh truyền tải thông tin, chưa coi môi trường số là không gian tương tác, hỗ trợ người tiêu dùng tiếp cận, sử dụng và thực hiện quyền trong từng tình huống pháp lý cụ thể.
Cách tiếp cận trên làm giảm hiệu quả của hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trong môi trường số. Thông tin pháp luật thường được trình bày dưới dạng văn bản dài, ngôn ngữ chuyên môn và tách rời bối cảnh giao dịch nên khó tiếp cận đối với người tiêu dùng. Trong khi đó, các nền tảng số và công cụ trí tuệ nhân tạo có khả năng hỗ trợ cá nhân hóa nội dung và tương tác theo nhu cầu của người dùng, tuy nhiên, tiềm ẩn rủi ro về tính chính xác của thông tin, bảo vệ dữ liệu cá nhân và trách nhiệm đối với kết quả tư vấn nếu thiếu cơ chế kiểm chứng và giám sát phù hợp. Bên cạnh đó, pháp luật chuyên ngành, đặc biệt, Luật Thương mại điện tử năm 2025 quy định trách nhiệm của nền tảng trong xác thực người bán, công khai thông tin, tiếp nhận phản ánh, giải quyết khiếu nại và xử lý nội dung vi phạm. Tuy nhiên, các quy định này chủ yếu nhằm bảo đảm an toàn giao dịch và bảo vệ người tiêu dùng trong từng quan hệ thương mại cụ thể. Các trách nhiệm này thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật chuyên ngành và không cần được chuyển thành nghĩa vụ mới của doanh nghiệp nền tảng trong dự thảo Luật. Vấn đề cần xử lý trong pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật là chất lượng, cách thức tổ chức và khả năng tiếp cận nội dung pháp luật số để người tiêu dùng nhận diện rủi ro và sử dụng đúng các cơ chế bảo vệ đã có.
Như vậy, hạn chế của pháp luật hiện hành không phải thiếu trách nhiệm của các nền tảng số, mà chủ yếu ở nội dung và hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật chưa gắn chặt với tình huống giao dịch số và các cơ chế bảo vệ theo pháp luật chuyên ngành. Khoảng trống này làm giảm hiệu quả hỗ trợ người tiêu dùng trong quá trình phòng ngừa và xử lý rủi ro pháp lý. Việc khắc phục cần tập trung vào văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành (sau khi dự thảo Luật được Quốc hội thông qua) (văn bản hướng dẫn thi hành Luật), không bổ sung trách nhiệm mới cho doanh nghiệp nền tảng.
2.3. Hạn chế trong đánh giá chất lượng và hiệu quả hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật
Điều 25 Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 chủ yếu quy định về xây dựng kế hoạch, xác định nội dung và hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật mà chưa thiết lập hệ thống tiêu chí đánh giá dựa trên kết quả và tác động của hoạt động này. Do đó, hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật được phản ánh chủ yếu thông qua số lượng hoạt động đã thực hiện, thay vì mức độ hình thành năng lực pháp lý số và khả năng sử dụng pháp luật của người dân trong thực tiễn. Như vậy, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và thực tiễn tổ chức thực hiện chủ yếu đánh giá hiệu quả hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua các chỉ số định lượng như số lượng hội nghị, lớp tập huấn, tài liệu phát hành hoặc lượt truy cập trên môi trường mạng. Các chỉ số này phản ánh quy mô triển khai nhưng chưa cho thấy người được phổ biến pháp luật có hiểu, vận dụng được quy định của pháp luật và thay đổi hành vi hay không. Vì vậy, cơ chế đánh giá hiện nay thiên về đầu vào và số lượng hoạt động hơn là kết quả và tác động thực chất.
Trong bối cảnh chuyển đổi số, cách tiếp cận này bộc lộ nhiều hạn chế. Hiệu quả của hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật không chỉ thể hiện ở lượng thông tin được truyền tải, mà còn ở khả năng người dân và chủ thể kinh doanh nhận diện rủi ro, sử dụng công cụ pháp lý và thực hiện quyền trong môi trường số. Trong nghiên cứu, những khả năng này được khái quát bằng khái niệm “năng lực pháp lý số” với tính chất là một luận điểm khoa học. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa thiết lập các tiêu chí đánh giá phản ánh mức độ đạt được của các năng lực này, như khả năng kiểm tra thông tin người bán, lưu giữ chứng cứ điện tử, nhận diện điều khoản bất lợi, thực hiện quyền khiếu nại hoặc tuân thủ nghĩa vụ công khai thông tin. Đây là khoảng trống của pháp luật cần được khắc phục nhằm chuyển từ đánh giá quá trình sang đánh giá kết quả và tác động của hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.
3. Kinh nghiệm quốc tế và giá trị tham khảo đối với Việt Nam
Pháp luật và thực tiễn của nhiều quốc gia trên thế giới cho thấy, xu hướng chuyển từ cơ chế bảo vệ người tiêu dùng dựa chủ yếu vào giải quyết tranh chấp sang tăng cường phòng ngừa rủi ro thông qua nâng cao năng lực pháp lý số của người tiêu dùng ngay từ giai đoạn tiếp cận thông tin, ra quyết định và thực hiện giao dịch. Những cách tiếp cận này cung cấp kinh nghiệm quan trọng để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc trong quá trình hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật.
3.1. Chuẩn mực của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) và Liên hợp quốc về phát triển năng lực pháp lý số của người tiêu dùng
Khuyến nghị của OECD nhấn mạnh yêu cầu bảo vệ người tiêu dùng trong giao dịch trực tuyến không thấp hơn giao dịch truyền thống, đồng thời, đề cao minh bạch thông tin, cơ chế khiếu nại, nâng cao nhận thức, năng lực số của người tiêu dùng5. Báo cáo thực thi năm 2022 của OECD tiếp tục ghi nhận thách thức trong giáo dục người tiêu dùng và doanh nghiệp, nhất là trong bối cảnh nền tảng, quảng cáo trực tuyến, dữ liệu và giao dịch xuyên biên giới phát triển nhanh6. Hướng dẫn của Liên hợp quốc về bảo vệ người tiêu dùng coi giáo dục, thông tin, cơ chế bồi thường và hợp tác quốc tế là trụ cột bảo vệ người tiêu dùng7. Các khuyến nghị này đều thống nhất coi phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao năng lực pháp lý số cho người tiêu dùng là biện pháp phòng ngừa rủi ro trước khi tranh chấp phát sinh.
3.2. Kinh nghiệm của Liên minh châu Âu về trách nhiệm của nền tảng số
Liên minh châu Âu xây dựng khuôn khổ pháp lý đa tầng nhằm kiểm soát các rủi ro từ thiết kế và hoạt động của nền tảng số8. Đạo luật Dịch vụ số của Liên minh châu Âu cấm thiết kế giao diện thao túng người dùng, yêu cầu minh bạch quảng cáo, công khai thông số chính của hệ thống gợi ý và xác minh thông tin thương nhân trên sàn giao dịch trực tuyến9. Các quy định này cho thấy, hiệu quả cung cấp thông tin pháp lý phụ thuộc trực tiếp vào cách nền tảng thiết kế giao diện, tổ chức thông tin và hỗ trợ người dùng thực hiện quyền.
3.3. Kinh nghiệm của Hoa Kỳ về thông báo và chấp thuận trong giao dịch trực tuyến
Trong vụ Nguyen v. Barnes & Noble Inc., Tòa phúc thẩm liên bang Khu vực số 9 cho rằng, website chỉ đặt đường dẫn đến điều khoản sử dụng theo mô hình browsewrap (điều khoản chấp nhận bằng việc tiếp tục sử dụng website), dù đường dẫn xuất hiện trên các trang của website, nhưng không có thông báo hợp lý và không yêu cầu người dùng thực hiện hành vi xác nhận đồng ý là chưa đủ để ràng buộc người dùng vào điều khoản trọng tài. Án lệ này cho thấy, phổ biến, giáo dục pháp luật trong môi trường số không chỉ dừng ở công khai văn bản pháp luật mà cần bảo đảm người dùng hiểu được hậu quả pháp lý của các hành vi như chấp nhận điều khoản, đặt hàng hoặc thanh toán10. Thực tiễn xét xử của Hoa Kỳ khẳng định, thông tin pháp lý chỉ phát huy giá trị khi người tiêu dùng thực sự được thông báo và có khả năng nhận thức hệ quả pháp lý của hành vi giao dịch. Vụ việc không thiết lập nghĩa vụ phổ biến, giáo dục pháp luật nhưng cho thấy thông tin pháp lý chỉ có giá trị thực tế khi được trình bày nổi bật, đúng thời điểm và gắn với hành vi có hậu quả pháp lý.
3.4. Giá trị tham khảo đối với Việt Nam
Từ kinh nghiệm của các quốc gia trên thế giới, Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc ba vấn đề trong hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật để bảo vệ người tiêu dùng trên môi trường số: (i) phổ biến, giáo dục pháp luật trong môi trường số cần được thiết kế theo hướng phòng ngừa rủi ro, thay vì chỉ giải thích quyền sau khi tranh chấp phát sinh; (ii) các quy định về giao diện, dữ liệu, quảng cáo, thanh toán và cơ chế khiếu nại theo pháp luật chuyên ngành là nguồn tham khảo để thiết kế nội dung phổ biến pháp luật theo tình huống, không phải căn cứ bổ sung nghĩa vụ mới cho doanh nghiệp nền tảng trong dự thảo Luật; (iii) hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật phải được đánh giá theo khả năng nâng cao nhận thức, kỹ năng và thay đổi hành vi pháp lý, không chỉ theo số lượng tài liệu hoặc lượt truy cập.
Tuy nhiên, Việt Nam không nên tiếp thu theo hướng sao chép mô hình pháp luật nước ngoài, mà cần nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc phù hợp với điều kiện thực tế trong nước. Cụ thể, kinh nghiệm OECD và Liên hợp quốc có thể được tiếp thu trong xây dựng nội dung phổ biến pháp luật theo hướng phòng ngừa rủi ro và nâng cao năng lực người tiêu dùng. Kinh nghiệm của Liên minh châu Âu gợi mở việc xác lập trách nhiệm của nền tảng số trong hiển thị cảnh báo, minh bạch thông tin và hỗ trợ cơ chế khiếu nại. Thực tiễn xét xử của Hoa Kỳ cho thấy, việc công khai điều khoản trên môi trường số chỉ có ý nghĩa khi người dùng được thông báo hợp lý và có khả năng hiểu hệ quả pháp lý của hành vi chấp nhận.
4. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm phát triển năng lực pháp lý số và bảo vệ người tiêu dùng
Trên cơ sở lý luận, thực trạng pháp luật Việt Nam và tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm quốc tế, việc hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật cần hướng tới phát triển năng lực pháp lý số và nâng cao hiệu quả bảo vệ người tiêu dùng trong môi trường số. Theo đó, nghiên cứu đề xuất ba nhóm kiến nghị: (i) hoàn thiện quy định về đối tượng và nội dung phổ biến, giáo dục pháp luật; (ii) đổi mới hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật và trách nhiệm phối hợp giữa các chủ thể trong môi trường số; (iii) hoàn thiện cơ chế đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.
Thứ nhất, cụ thể hóa quy định về đối tượng và nội dung phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng tiếp cận rủi ro pháp lý số.
Dự thảo Luật đã có bước tiến khi thiết kế lại nhóm “đối tượng đặc thù”, đồng thời, quy định chính sách hỗ trợ và trách nhiệm phổ biến, giáo dục pháp luật đối với nhóm này. Điều 16 xác định đối tượng đặc thù, trong đó, khoản 8 giao Chính phủ quy định đối với “đối tượng khác có khó khăn, hạn chế trong tiếp cận pháp luật”; Điều 17 quy định chính sách dành cho đối tượng đặc thù và Điều 18 xác định trách nhiệm của cơ quan, tổ chức trong tổ chức thực hiện. Tuy nhiên, tiêu chí nhận diện chủ yếu kế thừa cách tiếp cận theo đặc điểm nhân thân và điều kiện xã hội của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012, chưa phản ánh đầy đủ các dạng rủi ro pháp lý phát sinh trong môi trường số.
Vì vậy, văn bản hướng dẫn thi hành Luật cần quy định chi tiết khoản 8 Điều 16 dự thảo Luật.
Chính phủ cần xác định người tiêu dùng và chủ thể kinh doanh có mức độ rủi ro pháp lý cao trong môi trường số là nhóm đối tượng khác có khó khăn, hạn chế trong tiếp cận pháp luật cần được ưu tiên phổ biến, giáo dục pháp luật. Cách tiếp cận này không mở rộng đối tượng một cách cơ học, mà chuyển trọng tâm từ tiêu chí nhân thân sang mức độ rủi ro pháp lý thực tế. Việc xác định đối tượng theo rủi ro cũng tạo cơ sở để phân loại nội dung, lựa chọn phương thức và phân bổ nguồn lực phù hợp.
Theo đó, văn bản hướng dẫn thi hành Luật cần quy định chi tiết khoản 8 Điều 16 nhóm người tiêu dùng và chủ thể kinh doanh có nguy cơ cao bị xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp trong môi trường số. Đồng thời, khi quy định chi tiết Điều 17, Chính phủ cần xác định các chính sách hỗ trợ phù hợp, như cung cấp thông tin theo tình huống, hướng dẫn nhận diện rủi ro, sử dụng công cụ pháp lý và tiếp cận kênh hỗ trợ trực tuyến. Cách cụ thể hóa này bám sát dự thảo Luật, không làm thay đổi kết cấu nhưng vẫn tạo cơ sở để hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật nâng cao khả năng tự bảo vệ cho người tiêu dùng.
Thứ hai, đổi mới hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật trong môi trường số.
Dự thảo Luật bước đầu phân định các hình thức phổ biến pháp luật trong môi trường số. Điều 11 quy định chung về hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật. Điều 12 điều chỉnh hoạt động trên cổng, trang thông tin điện tử, báo chí và phương tiện thông tin đại chúng. Điều 13 quy định việc ứng dụng công nghệ số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để đổi mới phương thức phổ biến pháp luật. Tuy nhiên, các quy định trên chủ yếu xác định kênh truyền tải, còn tiêu chuẩn đối với học liệu pháp luật số, chất lượng thông tin và trách nhiệm kiểm soát nội dung cần được cụ thể hóa trong văn bản hướng dẫn thi hành Luật, trọng tâm là khoản 5 Điều 13. Theo đó, văn bản hướng dẫn thi hành Luật cần cụ thể hóa yêu cầu về tính chính xác, rõ ràng, dễ hiểu theo nguyên tắc tại Điều 5, đồng thời, quy định yêu cầu về nguồn trích dẫn, cập nhật kịp thời và cảnh báo khi văn bản hết hiệu lực hoặc được sửa đổi. Nội dung số cũng phải bảo đảm khả năng tiếp cận của người hạn chế kỹ năng số. Bên cạnh đó, văn bản hướng dẫn thi hành Luật có thể hướng dẫn sử dụng các công cụ hỗ trợ như ứng dụng di động, hệ thống học trực tuyến, video, infographic, podcast, trợ lý pháp luật ảo, công cụ tự đánh giá rủi ro và chuyên mục cảnh báo pháp lý. Đối với nội dung được tạo lập hoặc cung cấp bằng trí tuệ nhân tạo, cần có cơ chế xác thực, tiếp nhận phản hồi và xử lý thông tin sai lệch.
Thứ ba, cụ thể hóa tiêu chí đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.
Điều 37 dự thảo Luật đã bổ sung đánh giá hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật. Việc đánh giá được thực hiện định kỳ hoặc đột xuất, gắn với các tiêu chí về tiếp cận pháp luật, sự hài lòng của đối tượng thụ hưởng và các nội dung khác phù hợp. Tuy nhiên, quy định này mới xác lập nguyên tắc chung, chưa xác định đầy đủ chỉ số phản ánh hiệu quả thực chất, đặc biệt đối với hoạt động được thực hiện trong môi trường số.
Vì vậy, văn bản hướng dẫn thi hành Luật cần quy định chi tiết khoản 3 Điều 37. Chính phủ cần quy định theo hướng đánh giá dựa trên kết quả và tác động thực tế. Tiêu chí đánh giá gồm mức độ tiếp cận nguồn thông tin chính thống, khả năng hiểu và đánh giá thông tin pháp luật. Kỹ năng vận dụng pháp luật trong tình huống cụ thể và sự thay đổi hành vi sau hoạt động phổ biến cũng phải được đo lường. Đối với người tiêu dùng trong môi trường số, cần đánh giá khả năng nhận diện rủi ro, kiểm tra điều khoản giao dịch và bảo vệ dữ liệu cá nhân. Các kỹ năng lưu giữ chứng cứ, phản ánh, khiếu nại và tiếp cận cơ chế giải quyết tranh chấp cũng cần được xem xét. Đồng thời, cần thiết lập cơ chế thu thập phản hồi trực tuyến, bảo đảm dữ liệu khách quan, có thể kiểm chứng và được sử dụng để điều chỉnh nội dung, hình thức phổ biến pháp luật.
Kết luận
Bảo vệ người tiêu dùng trong môi trường số đặt ra yêu cầu đổi mới pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng phát triển năng lực pháp lý số. Trên cơ sở phân tích thực trạng pháp luật Việt Nam và tiếp thu có chọn lọc các chuẩn mực, kinh nghiệm quốc tế, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các quy định về đối tượng, nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật, cơ chế phối hợp giữa các chủ thể và đánh giá hiệu quả theo năng lực, hành vi pháp lý. Những kiến nghị này góp phần hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao khả năng tự bảo vệ của người tiêu dùng và tăng cường hiệu quả bảo vệ người tiêu dùng trong môi trường số.
TS. Võ Thị Thanh Linh
Phó trưởng Phòng Tổ chức Hành chính, Giảng viên chính Khoa Luật, Trường Đại học Đà Lạt
Nguyễn Thị Diễm Quỳnh
Văn phòng Công chứng Lâm Đồng
1. Dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi) trình Quốc hội kèm theo Tờ trình số 431/TTr-CP ngày 24/7/2026.
2. Điều 7, Điều 8 và Điều 10 Luật Giao dịch điện tử năm 2023.
3. Tòa án nhân dân tối cao (2021), Án lệ số 42/2021/AL về quyền lựa chọn Tòa án giải quyết tranh chấp của người tiêu dùng trong trường hợp hợp đồng theo mẫu có thỏa thuận trọng tài, công bố theo Quyết định số 42/QĐ-CA ngày 12/3/2021.
4. Điều 11 Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012.
5. OECD (2016), Recommendation of the Council on Consumer Protection in E-commerce, OECD/LEGAL/0422, adopted 24 March 2016.
6. OECD (2022), Report on the Implementation of the Recommendation of the Council on Consumer Protection in Eco mmerce, paras. 15, 3135 and 6572.
7. United Nations Conference on Trade and Development (UNCTAD), United Nations Guidelines for Consumer Protection, as revised by UN General Assembly Resolution 70/186 of 22 December 2015.
8. Xhelita, O., & Manthos, A. (2025), Dark Patterns on the Internet Under the EU Consumer Law, Springer Proceedings in Business and Economics, tr. 863871, https://doi.org/10.1007/9783031819629_93.
9. European Parliament and Council, Regulation (EU) 2022/2065 of 19 October 2022 on a Single Market for Digital Services (Digital Services Act), Articles 25, 26, 27 and 30.
10. Nguyen v. Barnes & Noble Inc., 763 F.3d 1171 (9th Cir. 2014), Tòa phúc thẩm liên bang Khu vực số 9 của Hoa Kỳ xác định người dùng không có thông báo hợp lý về Terms of Use và không biểu thị rõ ràng sự chấp thuận đối với điều khoản trọng tài khi website chỉ đặt đường dẫn theo mô hình browsewrap.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. European Parliament and Council (2022),Regulation (EU) 2022/2065 of 19 October 2022 on a Single Market for Digital Services and amending Directive 2000/31/EC (Digital Services Act), Official Journal of the European Union.
2. Goetzinger, P., & Spremic, M. (2024),Crossborder ecommerce and its implications for consumer protection (20192024): A systematic literature review, European Journal of Economics, 5(1), 116.
3. Guo, Y., & Zhang, C. (2024), Study on the legal collaborative effect of consumer protection in crossborder ecommerce from the perspective of educational philosophy, International Journal of Social Science and Education Research, 7(10), 97102.
4. Nguyen v. Barnes & Noble Inc., 763 F.3d1171 (9th Cir. 2014).
5. OECD (2016), Recommendation of the Council on Consumer Protection in Ecommerce (OECD/LEGAL/0422), OECD Publishing.
6. OECD (2022), Report on the implementation of the Recommendation of the Council on Consumer Protection in Ecommerce, OECD Publishing.
7. Tòa án nhân dân tối cao (2021), Án lệ số 42/2021/AL về quyền lựa chọn Tòa án giải quyết tranh chấp của người tiêu dùng trong trường hợp hợp đồng theo mẫu có thỏa thuận trọng tài (Công bố theo Quyết định số 42/QĐCA ngày 12/3/2021 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao).
8. United Nations General Assembly (2015),United Nations Guidelines for Consumer Protection (Resolution 70/186, adopted 22 December 2015).
9. Xhelita, O., & Manthos, A. (2025), Dark patterns on the Internet under the EU consumer law, In Springer Proceedings in Business and Economics, Springer, https://doi.org/10.1007/9783031819629_93.
(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số Kỳ 1 (458) tháng 8/2026)
Ảnh: Internet