Thứ ba 08/09/2026 10:55
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Nội dung tư tưởng và ảnh hưởng tích cực của Nho giáo đối với việc thực thi quyền con người ở Việt Nam hiện nay

Nho giáo được ra đời từ cuối thời Xuân Thu - Trung Quốc, do Khổng Tử (tên Khâu, tự Trọng Ni, người ấp Tưu nay thuộc Khúc Phụ, Sơn Đông, Trung Quốc) sáng lập. Sau khi ông mất, tư tưởng của ông đã được các thế hệ học trò kế thừa.

1. Nội dung tư tưởng cơ bản của nho giáo

Nho giáo được ra đời từ cuối thời Xuân Thu - Trung Quốc, do Khổng Tử (tên Khâu, tự Trọng Ni, người ấp Tưu nay thuộc Khúc Phụ, Sơn Đông, Trung Quốc) sáng lập. Sau khi ông mất, tư tưởng của ông đã được các thế hệ học trò kế thừa. Sách kinh điển của Nho giáo gồm lục kinh và tứ thư. Về Lục kinh, gồm Thi, Thư, Lễ, Nhạc, Dịch, Xuân Thu. Tuy nhiên, do cuốn Kinh Nhạc bị thất lạc và chỉ còn lại một ít làm thành một thiên ghép chung vào cuốn Kinh Lễ gọi là Nhạc ký, vì vậy, lục kinh thành ngũ kinh. Về tứ thư, gồm các cuốn Đại học, Trung dung, Luận ngữ và Mạnh Tử. Nho giáo không phải là một thứ chủ nghĩa, một ý thức hệ, bởi Khổng Tử không phải là người phát kiến ra thứ tư duy đó. Nho giáo cũng không phải một thứ tôn giáo do Khổng Tử làm đạo trưởng, kiểu như Thiên chúa giáo của Chúa Giê-su. Nho giáo là một cách sống, một triết lý sống mà theo nó thì con người cảm thấy thoải mái, thái bình: Từ chuyện nhỏ trong gia đình, trong dòng họ, chuyện ngoài làng cho tới quốc gia đại sự.


Trong quá trình phát triển, mỗi thời đại có cách hiểu riêng về Nho giáo, có nhiều trường phái Nho giáo khác nhau như Nho giáo Nguyên thủy, Hán nho, Đường nho, Tống nho, Tân nho, Cựu nho, Hàn Nho (Nho giáo hàn lâm) và Nho giáo dân gian… Khi du nhập vào Việt Nam, Nho giáo đã có sự biến đổi, theo đó, Nho giáo Việt Nam không phải là thuần Nho mà đã pha trộn với tư tưởng của Phật giáo, Lão giáo và các tín ngưỡng dân gian khác. Điều này có thể thấy qua các thành tố cấu tạo nên tư tưởng của các nhà Nho dân tộc trong lịch sử, nhiều nhà nghiên cứu đã khẳng định điều này qua câu “tam giáo đồng nguyên”, “các tư tưởng vừa có yếu tố của Nho giáo, vừa có yếu tố của Phật giáo và các yếu tố của Lão giáo. Điều này còn thấy trong các quan niệm của các nhà Nho”[1]. Tư tưởng, nội dung Nho giáo Việt Nam có thể tóm lược thành: Ngũ thường (nhân - nghĩa - lễ - trí - tín) và tam cương (ba quan hệ chủ chốt trong xã hội theo quan điểm phong kiến là: Quân - thần, phu - tử, phu - phụ).

Có thể hiểu sơ lược về ngũ thường như sau: (i) Nhân là trọng tình người, nói cách khác, điều tiết ham muốn, giữ mình theo lễ là gọi là nhân (khắc kỉ phục lễ vi nhân) và điều gì không muốn ai làm cho mình thì không nên làm cho ai (kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân). Chữ nhân trong mỗi người không chỉ là một tấm lòng, tấm lòng yêu thương con người, quê hương đất nước mà còn biết gắn cái riêng của mình vào cái chung của xã hội, với sự ràng buộc giữa người với người bằng những mối liên quan gắn kết; (ii) Nghĩa là điều đáng làm giữa cá nhân và cộng đồng, là biết sống thành tâm, biết tiết độ dục vọng cá nhân mà giữ khuôn phép, biết xấu hổ, biết sám hối để kìm chế thói xấu. Nói cách khác, mỗi cá nhân cần có trách nhiệm với đời, cũng chính vì vậy mà cần sống có trách nhiệm với quê hương đất nước, với gia đình, dòng họ; (iii) Lễ không chỉ là lễ phép, đức độ kính trên nhường dưới trong quan hệ vua tôi, cha con, vợ chồng mà còn thể hiện qua những hình thức lễ nghi truyền thống. Lễ là đối với kẻ quý thì kính, đối với người già thì hiếu thảo, đối với kẻ lớn thì thuận, đối với người trẻ thì tử, đối với kẻ hèn thì có ân huệ. Lễ là cẩn thận trong mọi hành vi, từ ăn mặc đến lời nói. Theo Tuân Tử, trọng lễ quý nghĩa thì nước trị, giản lễ rẻ nghĩa thì nước loạn; (iv) Trí là trí tuệ, kiến thức, Nho giáo đề cao kẻ sĩ. Quan điểm muốn giúp đỡ người khác, có ích trong xã hội thì cần có hiểu biết, có tài; (v) Tín được hiểu là mỗi cá nhân trong xã hội cần có uy tín với cộng đồng, uy tín sẽ tạo được lòng tin của cá nhân với các cá nhân, cộng đồng xã hội.

Về tam cương, có thể hiểu là nội dung cơ bản trong đạo làm người của Nho giáo, là nguyên tắc chi phối mọi suy nghĩ, hành động và là khuôn vàng thước ngọc để đánh giá phẩm hạnh của con người. Một mặt, đạo cương - thường góp phần điều chỉnh hành vi của con người, đưa con người vào khuôn phép theo chế độ lễ pháp của nhà Chu trước đây và các triều đại phong kiến sau này đặt ra. Cương - thường là nhân tố quan trọng làm cho xã hội ổn định theo thứ bậc, là cơ sở đảm bảo quyền thống trị của thiên tử.

Tóm lại, Nho giáo là một nền tảng cho sự tự tu tỉnh, tự tiết độ và giữ gìn liêm sỉ, tư duy trị nước truyền thống. Nho giáo xem đạo đức là nền tảng cho chính trị. Không phủ nhận vai trò của pháp luật trong giữ gìn trật tự xã hội, song Nho giáo hướng tới nguồn gốc của sự bình an hơn là dùng hình luật để đe dọa hoặc trừng phạt điều ác khi nó xảy ra. Khổng tử nói: “Lấy chính sự để dẫn dắt dân, dùng hình phạt để thực hiện sự bình đẳng thì dân sẽ tránh hình phạt nhưng không cảm thấy xấu hổ. Lấy đức để dẫn dắt dân, lấy lễ để thực hiện sự bình đẳng thì dân biết xấu hổ và sẽ tốt”.

2. Quyền con người ở Việt Nam

Ở Việt Nam, quyền con người được hiểu là “những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có và khách quan của con người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế”[2]. Nhà nước Việt Nam luôn xác định con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự nghiệp xây dựng đất nước, khẳng định con người là trung tâm của các chính sách kinh tế - xã hội, thúc đẩy và bảo vệ quyền con người là nhân tố quan trọng cho sự phát triển bền vững, bảo đảm thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Mọi chủ trương, đường lối, chính sách của Việt Nam đều nhằm phấn đấu cho mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh”, tất cả vì con người và cho con người. Theo nhận định nêu trên thì để thực thi quyền con người, về phía Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thực hiện hai nhiệm vụ chính: Thứ nhất là tham gia các công ước quốc tế có liên quan đến việc bảo đảm thực thi quyền con người, hiện nay, Việt Nam đã tham gia hầu hết các công ước quốc tế[3]; thứ hai, để áp dụng các quy định của điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên thì pháp luật của Việt Nam cũng đã nội luật hóa các quy định nêu trên, cụ thể, thông qua Hiến pháp năm 2013 và từ đó đến nay, sửa đổi, bổ sung và ban hành mới rất nhiều văn bản luật, pháp lệnh để cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp năm 2013[4].

3. Ảnh hưởng của Nho giáo đến vấn đề thực thi quyền con người ở Việt Nam hiện nay

Tại Hội nghị khoa học quốc tế nghiên cứu về Khổng Tử và Đại hội thành lập Hội liên hiệp Nho giáo học quốc tế nhân dịp kỷ niệm 2.545 năm sinh Khổng Tử diễn ra ở Bắc Kinh tháng 10/1994, nhiều đại biểu đã thừa nhận ý nghĩa tích cực của Nho giáo[5]. Lịch sử Việt Nam đã chứng minh những quy tắc đạo đức hàm chứa ý tưởng về quyền con người sau đó được đúc kết, khái quát, bổ sung và phát triển trong giáo lý các tôn giáo, trong đó có Nho giáo. Nhìn tổng thể, trong suốt quá trình phát triển quyền con người, kể cả khi quyền con người đã được pháp điển hóa trong pháp luật quốc gia và quốc tế, nó vẫn bị các phạm trù tôn giáo chi phối. Sự chi phối đó không phải lúc nào cũng bộc lộ rõ ràng mà nhiều khi lặng lẽ, ẩn tàng nhưng rất sâu sắc. Nói cách khác, trong suốt quá trình phát triển của nó, quyền con người luôn phản ánh và mang dấu ấn của các giá trị và quy tắc đạo đức, tôn giáo. Sự ảnh hưởng của Nho giáo đến vấn đề thực thi quyền con người ở Việt Nam được thể hiện xuyên suốt chiều dài lịch sử dân tộc và trong nhiều lĩnh vực, có thể nêu một số ví dụ như sau:

Thứ nhất, trong lĩnh vực chính trị, học thuyết của Nho giáo đề cao đường lối trị quốc thông qua đức trị (nhân trị, lễ trị). Nội dung chủ yếu của học thuyết này là quan tâm đến đời sống của dân thì dân mới theo, đối với dân thì bớt hình phạt, nhẹ tô thuế, phải có trách nhiệm với dân… Ngoài ra, Theo Nho giáo, đạo đức người cầm quyền có ảnh hưởng lớn đến sự hưng vong của một triều đại. Vì vậy, Khổng Tử khuyên người cầm quyền phải “tu thân” để làm tấm gương cho người dưới. Hiện nay, giá trị này vẫn còn nguyên, GS. Vũ Khiêu đã nhận xét: Nho giáo đã nhận thức được một thực tế là những người trong bộ máy nhà nước mà mất đạo đức thì không thể cai trị được nhân dân. Cho nên đạo đức là một phương tiện để tranh thủ được lòng dân. Chính sách đức trị đến nay cũng vẫn được Đảng và Nhà nước quan tâm thực hiện, biểu hiện rõ nhất là năm 2013, Quốc hội đã thông qua Hiến pháp, trong đó có nhiều quy định mới ghi nhận cụ thể về quyền của con người, sau đó các luật, pháp lệnh cũng đã được sửa đổi như Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 theo hướng giảm các hình phạt tử hình, cho phép tự sửa chữa, bồi thường thiệt hại, hòa giải để được miễn trách nhiệm hình sự[6], đây là các nội dung mới, góp phần bảo đảm hơn về quyền con người.

Bên cạnh đó, tư tưởng Nho giáo cũng ảnh hưởng phần nào đến việc tổ chức mô hình “phòng hạnh phúc” tại các trại giam. Trên thế giới, không có nhiều quốc gia cho phép phạm nhân được gặp vợ/chồng trong phòng riêng như vậy. Hiện nay, một số nước có quy định này như Hoa Kỳ (một số bang), Australia (một số bang), Brazil, Canada, Đan Mạch, Pháp, Đức, Ấn Độ, Ireland, Israel, Mexico, New Zealand, Pakistan, Nga, Arab Saudi, Tây Ban Nha và Vương quốc Anh... Tại Việt Nam, Nhà 24 giờ đầu tiên được ra đời tại trại giam Bất Bạt, Sơn Tây với 5 - 6 phòng hạnh phúc. Do thấy được mặt tích cực của mô hình này thông qua sự tiến bộ của phạm nhân, Nhà 24 giờ đã được khuyến khích áp dụng cho tất cả các trại giam. Ngày 30/6/2011, Bộ Công an đã ban hành Thông tư số 46/2011/TT-BCA quy định việc phạm nhân gặp thân nhân; nhận, gửi thư; nhận tiền, quà và liên lạc điện thoại với thân nhân đã quy định chế độ thăm gặp phạm nhân. Theo đó, phạm nhân chấp hành tốt nội quy trại giam, trại tạm giam, nhà tạm giữ hoặc lập công thì được gặp vợ hoặc chồng ở phòng riêng trong nhà thăm gặp không quá 24 giờ. Như vậy, trên cơ sở học tập kinh nghiệm nước ngoài và ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo về nghĩa vụ sinh con nối dõi tông đường, Nhà nước đã cho phép phạm nhân gặp vợ, chồng trong phòng hạnh phúc khi phạm nhân cố gắng cải tạo thật tốt và được ghi nhận bởi lãnh đạo trại giam. Quy định này mang tính nhân văn cao cả, có dấu tích của tôn giáo trong việc hình thành quy phạm này.

Thứ hai, trong lĩnh vực giáo dục, tuyển chọn nhân tài, nhà quản lý, lãnh đạo, Khổng Tử xem các bậc hiền tài lương đống của quốc gia là trụ cột của chính quyền đạo đức, muốn có hiền tài, phải có giáo dục[7]. Sách Lễ ký cho rằng, quốc gia là tài sản chung của tất cả mọi người, mọi người đều bình đẳng trên lĩnh vực chính trị cũng như kinh tế. Đồng thời, ông chủ trương chính phủ trọng dụng người tài đức nhưng không đề cập đến những nhà giàu sang, quyền quý trong công việc chung, nói cách khác, mọi người có quyền tham gia Chính phủ. Ảnh hưởng của các tư tưởng nêu trên có thể thấy trong cuộc sống xã hội. Tại các nhà trường đều có khẩu hiệu “tiên học lễ, hậu học văn”, học lễ nghĩa là học đạo đức, học làm người (theo quan điểm trọng lễ của Nho giáo). Nho giáo đã có đầy đủ lý thuyết và quy chế về giáo dục, khoa cử tất nhiên phải đảm đương nhiệm vụ lịch sử ấy. Những năm gần đây, việc lựa chọn nhân tài được dựa trên cơ sở đổi mới cách tuyển chọn lãnh đạo, quản lý cấp vụ, cấp sở, cấp phòng trên cơ sở Đề án “Thí điểm đổi mới cách tuyển chọn lãnh đạo, quản lý cấp vụ, cấp sở, cấp phòng” của Bộ Chính trị. Việc tuyển chọn này sẽ phát hiện, thu hút và trọng dụng được những người có đức, có tài, phát huy phẩm chất, trình độ, năng lực, kinh nghiệm để góp sức lực, trí tuệ cho sự phát triển bền vững của đất nước; mặt khác tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh, tránh tình trạng khép kín, cục bộ trong công tác quy hoạch, bổ nhiệm cán bộ lãnh đạo, quản lý. Đây là một trong những tác động tích cực của Nho giáo đến lĩnh vực giáo dục.

Thứ ba, trong xã hội xưa và nay, nhiều lĩnh vực của đời sống, nhiều mối quan hệ pháp luật không thể điều chỉnh hết và kịp thời, do đó, tôn giáo đóng vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh, duy trì trật tự trong xã hội và qua đó bảo vệ tốt hơn quyền của con người. Tư tưởng trọng “nhân”, “nghĩa” và “lễ” của Nho giáo giúp cá nhân nhận thức tốt hơn về quyền của bản thân, yêu thương bản thân hơn, qua đó cũng tôn trọng, bảo vệ quyền của cá nhân khác trong cộng đồng. Ví dụ, trong quan hệ giữa cha - con, tam cương của Nho giáo giúp người cha dạy bảo, định hướng và uốn nắn con của mình, về phía con, trên cơ sở văn hóa đạo đức trong tôn giáo nói chung và Nho giáo nói riêng, sẽ tôn trọng và hiếu nghĩa với cha mình, được biểu hiện qua các hành vi chào hỏi khi đi và đến. Một ví dụ khác, thể hiện rõ ảnh hưởng tư tưởng của Nho giáo, góp phần giúp cá nhân nhận thức tốt hơn về quyền của bản thân, yêu thương bản thân hơn; đồng thời, tôn trọng, bảo vệ quyền của cá nhân khác trong cộng đồng. Có thể lấy ví dụ, ngày 05/4/2016, Quốc hội khóa XIII thông qua Luật Báo chí, trong đó có quy định về các hành vi vi phạm pháp luật và xử lý vi phạm trong lĩnh vực báo chí. Tuy nhiên, thực tiễn trong thời gian qua cho thấy, có một số báo chí, phóng viên đưa tin, đăng bài không đúng sự thực khách quan của vấn đề, làm ảnh hưởng đến uy tín, danh dự và gây thiệt hại cho các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân[8]. Pháp luật đã có những quy định nhằm ngăn chặn và xử lý các hành vi vi phạm, tuy nhiên không thể điều chỉnh được hết các hành vi vi phạm. Vì vậy, các phạm trù khác, trong đó có tôn giáo - Nho giáo có chức năng giáo dục, cảnh tỉnh không chỉ các phóng viên, cơ quan báo chí trong việc nâng cao nhận thức, có tính phê bình, khách quan không vụ lợi trong việc đưa tin, đăng bài mà qua đó có thể ảnh hưởng đến quyền tiêu dùng của cá nhân, doanh thu, uy tín của doanh nghiệp.

4. Đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả công tác thực thi quyền con người tại Việt Nam

Để thực hiện các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và các quy định của pháp luật nói chung và quyền con người nói riêng thì cần thiết phải có nhiều công cụ, phương tiện để thực hiện. Trong đó, tôn giáo - Nho giáo là một loại phương tiện điều chỉnh không thể thiếu để góp phần nâng cao nhận thức, giáo dục và thực hiện có hiệu quả hơn các vấn đề về quyền con người. Nói cách khác, Nho giáo có ảnh hưởng tích cực trong việc trị quốc, đời sống xã hội và “trên chừng mực nào đó đã được cấu trí lại cho phù hợp với nội tâm thế Việt Nam”[9]. Trong năm 2017, Việt Nam đã tổ chức thành công Hội thảo “Năm APEC Việt Nam 2017: Hướng tới Cộng đồng APEC năng động, tự cường và gắn kết”, đã được cộng đồng thế giới đánh giá cao. Để tiếp tục phát huy vai trò là thành viên của Cộng đồng APEC nói riêng và thành viên của các công ước quốc tế nói chung, đặc biệt các công ước về quyền con người, tác giả cho rằng cần thiết phải quan tâm thực hiện một số nhiệm vụ sau:

Một là, ngày 18/11/2016, Quốc hội khóa XIV đã thông qua Luật Tín ngưỡng, tôn giáo. Luật này có hiệu lực từ ngày 01/01/2018, Luật quy định về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo; tổ chức tôn giáo; quyền và nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo. Trong xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, hoạt động tôn giáo trên thế giới rất đa dạng, có nhiều biến động phức tạp cũng như sức ép về các vấn đề nhân quyền, dân chủ từ các tổ chức quốc tế, các quốc gia lớn đã ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt động tôn giáo cũng như công tác quản lý nhà nước về tôn giáo ở Việt Nam. Do đó, việc ban hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo có ý nghĩa to lớn. Tuy nhiên, để bảo đảm việc đưa Luật này vào cuộc sống, cần có sự chung tay của nhiều cơ quan, tổ chức cũng như của toàn thể nhân dân. Một số nội dung cần tập trung thực hiện như: Tổ chức quán triệt, tập huấn chuyên sâu những nội dung cơ bản của Luật; tổ chức rà soát các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo; rà soát kiện toàn tổ chức, bộ máy để thực hiện...

Hai là, hoàn thiện thể chế, bảo đảm khuôn khổ pháp lý để bảo đảm, tôn trọng các quyền của con người. Bên cạnh việc triển khai thi hành có hiệu quả Luật Tín ngưỡng, tôn giáo như đã đề xuất ở trên, cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần nghiên cứu, sớm ban hành các văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật, bảo đảm nguyên tắc có cùng hiệu lực thi hành khi Luật có hiệu lực theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015.

Ba là, tôn giáo, trong đó có Nho giáo đóng vai trò quan trọng trong việc đưa pháp luật vào đời sống cũng như góp phần bảo đảm sự ổn định và điều chỉnh các hành vi của cá nhân mà pháp luật chưa điều chỉnh. Do đó, đối với các tổ chức tôn giáo, nhà tu hành, chức sắc, chức việc, cần phát huy vai trò quyền của mình trong việc tổ chức hoạt động tôn giáo, theo hướng tổ chức sinh hoạt tôn giáo lành mạnh, trong khuôn khổ và tuân thủ Hiến pháp, quy định của pháp luật, tránh tình trạng lợi dụng hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo nhằm xâm phạm quốc phòng, an ninh, chủ quyền quốc gia; trật tự, an toàn xã hội, môi trường, đạo đức xã hội; thân thể, sức khỏe, tính mạng, tài sản xúc phạm danh dự…

Trần Thị Thu Hằng

Cục Bồi thường nhà nước, Bộ Tư pháp


[1] Nguyễn Tài Thư, Một số đặc trưng cơ bản của Nho giáo Việt Nam, Tạp chí Triết học (2015).

[2] Câu hỏi số 1 - Cuốn Hỏi đáp về quyền con người, Nxb. Hồng Đức, 2011.

[3] Công ước về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa (thông qua năm 1966, có hiệu lực năm 1976); Công ước về các quyền dân sự và chính trị (thông qua năm 1966, có hiệu lực năm 1976); Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc (thông qua năm 1965, có hiệu lực năm 1969); Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (thông qua năm 1979, có hiệu lực năm 1981); Công ước về chống tra tấn (thông qua năm 1984, có hiệu lực năm 1987); Công ước về quyền trẻ em (thông qua năm 1989, có hiệu lực năm 1990); Công ước về quyền của người khuyết tật (thông qua năm 2006, có hiệu lực năm 2008); Công ước về bảo vệ quyền của lao động di cư và gia đình họ (thông qua năm 1990, có hiệu lực năm 2003).

[4] Liên quan nhiều đến đời sống cá nhân (như Luật Nhà ở năm 2014, Luật Hộ tịch năm 2014, Luật Căn cước công dân năm 2014, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2014) hoặc liên quan đến tổ chức bộ máy nhà nước (như Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014, Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014, Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 2014, Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015, Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015).

[5] Ông Lý Quang Diệu, nguyên Thủ tướng Singapore khẳng định, “từ kinh nghiệm quản lý đất nước Singapore, đặc biệt là trong những ngày gian khổ từ năm 1959 đến năm 1969, khiến tôi tin tưởng sâu sắc rằng, nếu không phải là đại bộ phận nhân dân Singapore được hun đúc qua giá trị quan của Nho học thì chúng tôi không có cách gì có thể khắc phục được những khó khăn và trở ngại đã vấp phải”.

Ông Cốc Mục, Hội trưởng Hội nghiên cứu Khổng học Trung Quốc khẳng định, “Nho học, văn hóa truyền thống cổ xưa phương Đông nay có khả năng thu được giá trị mới, gây được ảnh hưởng tích cực trong sự phát triển mới của xã hội loài người trên thế giới ở trong khu vực rộng rãi”.

[6] Khoản 3 Điều 29 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 cho phép “người thực hiện tội phạm ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng… đã tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả… thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự.

[7] Luận ngữ, tập XIX, chương XXII.

[8] Vụ việc xúc xích nhiễm khuẩn gây nguy hiểm năm 2014; vụ nước mắn nhiễm asen năm 2016…

[9]Đặng Đức Siêu, Nho giáo xưa và nay, tr. 215.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Hoàn thiện thể chế đánh giá tác động thủ tục hành chính từ khâu xây dựng pháp luật

Hoàn thiện thể chế đánh giá tác động thủ tục hành chính từ khâu xây dựng pháp luật

Ngày 26/8/2026, Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1968/QĐ-BT kèm theo Kế hoạch xây dựng dự thảo Thông tư hướng dẫn đánh giá tác động của thủ tục hành chính tại dự thảo văn bản quy phạm pháp luật. Đây là bước đi cụ thể nhằm triển khai các quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025.
Rà soát, xử lý văn bản bảo đảm phù hợp, thống nhất với Luật Tiếp cận thông tin năm 2026

Rà soát, xử lý văn bản bảo đảm phù hợp, thống nhất với Luật Tiếp cận thông tin năm 2026

Thực hiện nhiệm vụ được giao tại Kế hoạch triển khai thi hành Luật Tiếp cận thông tin của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tư pháp đã chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan ngang Bộ và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố tổ chức rà soát các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến Luật Tiếp cận thông tin nhằm bảo đảm tính thống nhất trong áp dụng pháp luật về cung cấp, công khai thông tin của cơ quan, đơn vị; kịp thời phát hiện các quy định không còn phù hợp, chồng chéo, mâu thuẫn, trùng lặp hoặc không đáp ứng yêu cầu thực tiễn quản lý nhà nước; trên cơ sở đó đề xuất phương án xử lý cụ thể đối với từng văn bản hoặc quy định (thay thế, sửa đổi, bổ sung).
Áp dụng KPI trong công tác xây dựng pháp luật: Thời hạn và tiêu chí xác định nhiệm vụ đánh giá

Áp dụng KPI trong công tác xây dựng pháp luật: Thời hạn và tiêu chí xác định nhiệm vụ đánh giá

Ngày 06/7/2026, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1205/QĐ-TTg phê duyệt Đề án thí điểm thực hiện việc đánh giá, chấm điểm về công tác xây dựng pháp luật. Để triển khai thực hiện thống nhất Đề án thí điểm nêu trên, Bộ Tư pháp đã chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ nghiên cứu, xây dựng nội dung tài liệu hướng dẫn triển khai thực hiện Đề án.
Tổ chức lại trình tự, đẩy sớm thời hạn hoàn thành tổng rà soát văn bản

Tổ chức lại trình tự, đẩy sớm thời hạn hoàn thành tổng rà soát văn bản

Nhằm bảo đảm tiến độ theo yêu cầu mới, đồng thời tăng cường chất lượng, hiệu quả của công tác tổng rà soát, nhất là khâu cho ý kiến, thẩm định và hoàn thiện các báo cáo chính thức, ngày 22/8/2026, Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật đã ban hành Quyết định số 11/QĐ-BCĐ điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung một số nội dung tại phần II Kế hoạch triển khai tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật ban hành kèm theo Quyết định số 05/QĐ-BCĐ ngày 10/4/2026 của Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (Kế hoạch số 05/QĐ-BCĐ).
Chuyển dịch phương thức chỉ đạo, điều hành dựa trên dữ liệu: Đột phá mới trong chuyển đổi số tại Bộ Tư pháp

Chuyển dịch phương thức chỉ đạo, điều hành dựa trên dữ liệu: Đột phá mới trong chuyển đổi số tại Bộ Tư pháp

Ngày 19/8/2026, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1925/QĐ-BTP về việc ban hành Quy chế quản lý, vận hành, khai thác và sử dụng Nền tảng tổng hợp, phân tích dữ liệu của Bộ Tư pháp (Quy chế). Đây là bước cụ thể hóa chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; đồng thời, đáp ứng yêu cầu xây dựng nền hành chính minh bạch, hiện đại, chuyên nghiệp, hoạt động dựa trên dữ liệu và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước.
Bộ Tư pháp định hình diện mạo mới nền hành chính số thông qua thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông

Bộ Tư pháp định hình diện mạo mới nền hành chính số thông qua thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông

Ngày 06/8/2026, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ký xác thực Văn bản hợp nhất Số:6050/2026/VBHN-NĐ-BTP quy định về thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế Một cửa, một cửa liên thông tại Bộ phận Một cửa và Cổng Dịch vụ công quốc gia. Đây là một mốc pháp lý quan trọng, không chỉ giúp hệ thống hóa toàn diện các quy định pháp luật hiện hành mà còn trực tiếp thúc đẩy tiến trình cải cách thủ tục hành chính, chuyển đổi số quốc gia một cách đồng bộ, thống nhất và thực chất.
Đôn đốc xử lý ngay "điểm nghẽn" nhiệm vụ về phát triển khoa học, công nghệ, chuyển đổi số

Đôn đốc xử lý ngay "điểm nghẽn" nhiệm vụ về phát triển khoa học, công nghệ, chuyển đổi số

Tính đến ngày 14/8/2026, kết quả triển khai Kế hoạch số 05-KH/BCĐTW[1] và Quyết định số 88/QĐ-BCĐCP[2] đã có chuyển biến nhưng chưa đồng đều, thể hiện trên các nhóm nhiệm vụ thể chế, chỉ đạo, điều hành; hạ tầng số, an toàn, an ninh mạng; dữ liệu và cơ sở dữ liệu; dịch vụ công, cắt giảm thủ tục hành chính và tái sử dụng dữ liệu; tài chính, nguồn lực. Việc triển khai còn tồn tại những điểm nghẽn cần được tập trung xử lý, giải quyết trong thời gian tới. [1] Kế hoạch hành động ngày 11/7/2026 của Ban chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số về 100 ngày xử lý các điểm nghẽn về chuyển đổi số trong hệ thống chính trị. [2] Quyết định ngày 29/7/2026 ban hành Kế hoạch hành động của Ban Chỉ đạo của Chính phủ triển khai thực hiện Thông báo số 24-TB/CQTTBCĐ, Thông báo số 25-TB/CQTTBCĐ và Kế hoạch số 05-KH/BCĐTW.
Quyết tâm đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị và mô hình chính quyền địa phương hai cấp

Quyết tâm đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị và mô hình chính quyền địa phương hai cấp

Trong bối cảnh cả hệ thống chính trị đang nỗ lực thực hiện các mục tiêu chiến lược nhằm tinh gọn bộ máy, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị, Bộ Tư pháp đã ban hành Kế hoạch triển khai Kết luận số 76-KL/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV và Nghị quyết số 221/NQ-CP của Chính phủ. Kế hoạch này là cơ sở định hướng quan trọng cho những chuyển đổi mang tính đột phá của Bộ Tư pháp trong giai đoạn tới.
Đột phá thể chế trong phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2045

Đột phá thể chế trong phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2045

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV) xác định đột phá thể chế là nền tảng của mọi cải cách lớn nhằm hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước đến năm 2045. Tư duy thể chế trong Văn kiện Đại hội XIV nhấn mạnh trực diện đến hiệu lực tổ chức thực hiện pháp luật như thước đo trung tâm của chất lượng thể chế. Trên cơ sở đó, bài viết phân tích những điểm mới về tư duy thể chế trong Văn kiện Đại hội XIV; làm rõ mối quan hệ giữa đột phá thể chế và phát triển kinh tế nhà nước; đồng thời luận giải vai trò trung tâm của Bộ Tư pháp trong thể chế hóa các nghị quyết của Đảng và tổ chức thực hiện pháp luật trong giai đoạn phát triển mới.
Diễn đàn Pháp luật ASEAN năm 2026: Thúc đẩy ứng dụng AI trong xây dựng và thi hành pháp luật

Diễn đàn Pháp luật ASEAN năm 2026: Thúc đẩy ứng dụng AI trong xây dựng và thi hành pháp luật

Từ ngày 18 - 19/8/2026, Bộ Tư pháp Việt Nam sẽ đăng cai tổ chức Diễn đàn Pháp luật ASEAN năm 2026 với chủ đề "Ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong công tác xây dựng và thi hành pháp luật trong kỷ nguyên số". Diễn đàn là cơ hội để các nước ASEAN chia sẻ kinh nghiệm, trao đổi chính sách, thúc đẩy hợp tác trong ứng dụng AI, hướng tới xây dựng hệ thống pháp luật hiện đại, hài hòa và thích ứng với yêu cầu của kỷ nguyên số. Dịp này, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh đã có cuộc trả lời phỏng vấn báo chí.
Nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong thực hiện chính quyền địa phương hai cấp

Nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong thực hiện chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Trong bối cảnh cải cách tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, hiệu lực, hiệu quả, việc triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp đặt ra yêu cầu đổi mới phương thức quản trị ở địa phương. Cùng với quá trình phân cấp, phân quyền mạnh mẽ, phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành công cụ quan trọng nhằm bảo đảm đội ngũ cán bộ, công chức và người dân hiểu đúng, thực hiện đúng pháp luật, qua đó, nâng cao chất lượng quản lý nhà nước và xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật trong xã hội. Nghiên cứu phân tích cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong điều kiện thực hiện chính quyền địa phương hai cấp, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả quản trị địa phương và bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật của người dân.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trong môi trường số

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trong môi trường số

Tóm tắt: Chuyển đổi số tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội và đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật cho người dân, nhất là người tiêu dùng. Nghiên cứu phân tích việc hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trên các nền tảng thương mại điện tử. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tham chiếu kinh nghiệm quốc tế, nghiên cứu chỉ ra những hạn chế của pháp luật hiện hành trong xác định đối tượng, nội dung, phương thức phổ biến, cơ chế phối hợp và đánh giá hiệu quả. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)1 (dự thảo Luật) theo hướng phát triển năng lực pháp lý số, góp phần nâng cao khả năng phòng ngừa rủi ro và tự bảo vệ của người tiêu dùng trong môi trường số.
Phát huy vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Phát huy vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật giữ vai trò quan trọng nhằm đưa pháp luật vào đời sống xã hội, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của người dân, xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật và bảo đảm hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước. Trong hệ thống chính quyền địa phương, Ủy ban nhân dân cấp xã là cấp chính quyền gần dân nhất, trực tiếp tiếp xúc và giải quyết các nhu cầu của người dân, đồng thời, là chủ thể giữ vai trò trung tâm trong tổ chức triển khai các hoạt động tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật tại cơ sở. Nghiên cứu tập trung phân tích cơ sở lý luận và pháp lý về vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật; đánh giá thực trạng triển khai trong thời gian qua, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật đối với lĩnh vực này.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Chính phủ số và xã hội số, việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đặt ra yêu cầu hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số. Nghiên cứu phân tích cơ sở lý luận, quy định pháp luật hiện hành, dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật) và kinh nghiệm quốc tế, từ đó chỉ ra những khoảng trống pháp lý trong chuyển đổi số hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm xây dựng hệ sinh thái phổ biến, giáo dục pháp luật số hiệu quả, đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số quốc gia.

Theo dõi chúng tôi trên: