Công tác tổ chức, cán bộ đóng vai trò quan trọng, là nền tảng vững chắc, yếu tố quyết định góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp. Vì thế, trong hành trình 80 năm xây dựng và phát triển, Bộ, ngành Tư pháp luôn chủ động xây dựng, sắp xếp tổ chức bộ máy, cán bộ tinh gọn, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước. Đồng thời, Bộ, ngành Tư pháp tập trung đào tạo, phát triển nguồn nhân lực pháp luật chất lượng cao, có tinh thần trách nhiệm, kỷ luật nghiêm minh, bản lĩnh chính trị vững vàng và chuyên môn sâu, đáp ứng kịp thời các yêu cầu của Đảng, Nhà nước trong công cuộc xây dựng, phát triển và đổi mới, hội nhập quốc tế của đất nước.
Giai đoạn 2015 - 2025, công tác tổ chức bộ máy, cán bộ của Bộ, ngành Tư pháp có bước phát triển toàn diện cả về số lượng và chất lượng, nhân tố quyết định việc thực hiện thắng lợi nhiệm vụ của Bộ, ngành Tư pháp được Đảng, Nhà nước giao.
1. Thực trạng tổ chức bộ máy, nhân lực của Bộ, ngành Tư pháp
Thứ nhất, ở trung ương.
Bộ Tư pháp là cơ quan của Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về công tác xây dựng, tổ chức thi hành pháp luật; thi hành án dân sự; thi hành án hành chính; hành chính tư pháp; bổ trợ tư pháp; pháp chế và các dịch vụ sự nghiệp công trong các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ. Hiện, Bộ Tư pháp có 24 đơn vị trực thuộc, gồm 07 vụ và tương đương[1], 08 cục và 09 đơn vị sự nghiệp công lập. Thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII “Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả” (Nghị quyết số 18-NQ/TW) nhằm tinh gọn bộ máy, nâng cao hiệu quả hoạt động, Bộ đã sắp xếp giảm đầu mối tổ chức: (i) giảm 06/30 đơn vị[2] (tương ứng 20%); giảm từ 133 còn 112 phòng (tương ứng 15,8%); (ii) tinh giản biên chế giai đoạn 2015 - 2021: giảm 1.102 biên chế công chức (10,32%), vượt chỉ tiêu theo Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 25/10/2017 Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về tiếp tục đổi mới hệ thống tổ chức, quản lý, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập (Nghị quyết số 19-NQ/TW); biên chế viên chức giảm 589 người (57,8%), vượt chỉ tiêu theo Nghị quyết số 19-NQ/TW; giai đoạn 2022 - 2026, tiếp tục giảm 5% biên chế công chức, giảm 10% biên chế viên chức hưởng lương từ ngân sách nhà nước và nâng cao mức độ tự chủ đơn vị sự nghiệp; (iii) xã hội hóa dịch vụ công một số lĩnh vực công chứng, luật sư, giám định tư pháp, đấu giá tài sản... giúp giảm áp lực nhân sự, tăng số Văn phòng công chứng, nhiều trung tâm dịch vụ đấu giá đã tự chủ một phần tài chính; (iv) sắp xếp, bố trí nhân sự hợp lý và bảo đảm các chế độ cho người lao động[3].
Tính đến ngày 31/12/2024, Bộ Tư pháp có 9.904 công chức, viên chức; trong đó, có 550 công chức hành chính, 1.028 viên chức sự nghiệp và 8.326 công chức thuộc hệ thống cơ quan thi hành án dân sự. Đội ngũ cán bộ đã cơ bản được chuẩn hóa theo tiêu chuẩn chức danh, đáp ứng yêu cầu về năng lực, trình độ chuyên môn và hình thành đội ngũ cán bộ trẻ có chuyên môn sâu về pháp luật[4]. Việc đào tạo, bồi dưỡng được chú trọng, gắn với quy hoạch cán bộ, đổi mới nội dung và phương pháp đào tạo theo hướng hiện đại, ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số. Đặc biệt, việc đào tạo, bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh, chú trọng cán bộ trẻ có năng lực, ngoại ngữ, bản lĩnh chính trị vững vàng được triển khai hiệu quả. Công tác đánh giá cán bộ bảo đảm sát thực, có sàng lọc những cán bộ yếu kém; đồng thời, có chính sách đãi ngộ, giữ chân và thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao nhằm kịp thời thể chế Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng pháp luật và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 197/2025/QH15 ngày 17/5/2025 của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách đặc biệt tạo đột phá trong công tác xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật (Nghị quyết số 197/2025/QH15), góp phần nâng cao năng lực, chất lượng nguồn nhân lực của Bộ, ngành Tư pháp.
Thứ hai, ở địa phương.
Theo Nghị định số 150/2025/NĐ-CP ngày 12/6/2025 của Chính phủ quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và Ủy ban nhân dân xã, phường, đặc khu thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Sở Tư pháp là cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, thực hiện chức năng tham mưu quản lý nhà nước về các lĩnh vực tư pháp[5]. Giai đoạn từ tháng 10/2024 đến tháng 3/2025, tiếp tục thực hiện sắp xếp theo Nghị quyết số 18-NQ/TW, toàn quốc đã giảm 33 phòng chuyên môn thuộc Sở Tư pháp; việc tinh gọn tổ chức tiếp tục được thực hiện theo Kết luận số 134-KL/TW ngày 28/3/2025 của Bộ Chính trị, Ban Bí thư về Đề án sắp xếp hệ thống cơ quan thanh tra tinh, gọn, mạnh, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả, trong đó, Thanh tra Sở kết thúc hoạt động và chuyển về Thanh tra tỉnh. Thực hiện Kết luận số 127-KL/TW ngày 28/02/2025 của Bộ Chính trị, Ban Bí thư về triển khai nghiên cứu, đề xuất tiếp tục sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị và Nghị quyết số 60-NQ/TW ngày 12/4/2025 Hội nghị lần thứ 11 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, Phòng Tư pháp là cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện[6] kết thúc hoạt động từ ngày 01/7/2025, để phù hợp với yêu cầu tổ chức lại bộ máy của hệ thống chính trị khi không còn tổ chức hành chính cấp huyện. Ở cấp xã, công chức tư pháp - hộ tịch, hiện đảm nhiệm 07 nhóm nhiệm vụ theo Nghị định số 33/2023/NĐ-CP ngày 10/6/2023 của Chính phủ quy định về cán bộ, công chức cấp xã và người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, ở thôn, tổ dân phố. Từ ngày 01/7/2025, khi thực hiện sáp nhập đơn vị hành chính cấp xã, không còn đơn vị hành chính cấp huyện, các nhiệm vụ trong lĩnh vực tư pháp sẽ do Văn phòng Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp xã đảm nhiệm, bảo đảm duy trì hiệu quả công tác tư pháp tại cơ sở trong điều kiện tổ chức bộ máy mới.
2. Yêu cầu về tổ chức bộ máy, nhân lực của Bộ, ngành Tư pháp trong kỷ nguyên mới
Thứ nhất, khẳng định và tiếp tục phát huy vị trí, vai trò “nòng cốt” của Bộ, ngành Tư pháp trong kỷ nguyên mới.
Trước yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới, Bộ, ngành Tư pháp cần tiếp tục khẳng định vai trò “nòng cốt” trong tham mưu xây dựng hệ thống pháp luật chất lượng, đồng bộ, khả thi; đẩy mạnh sắp xếp tổ chức bộ máy tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả; đổi mới tư duy và tạo đột phá trong xây dựng, thi hành pháp luật theo tinh thần Nghị quyết số 66-NQ/TW và Nghị quyết số 197/2025/QH15. Thúc đẩy xã hội hóa các lĩnh vực bổ trợ tư pháp, phát triển cơ chế giải quyết tranh chấp ngoài Tòa án và tăng cường phân quyền, phân cấp gắn với trách nhiệm giải trình và bảo đảm các nguồn lực để thực hiện. Trong kỷ nguyên hội nhập và chuyển đổi số, pháp luật phải trở thành động lực đổi mới sáng tạo, tạo lợi thế cạnh tranh và phát triển bền vững. Bộ Tư pháp cần tiếp tục chủ động, thực hiện các chủ trương của Đảng, Nhà nước, nhất là chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm, Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ, góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam vững mạnh trong thời kỳ mới.
Thứ hai, kiện toàn tổ chức bộ máy tinh - gọn - mạnh - hiệu năng - hiệu lực - hiệu quả là nhiệm vụ chủ yếu, cần thiết của Bộ, ngành Tư pháp trong giai đoạn mới.
Đối với Bộ, ngành Tư pháp, yêu cầu đặt ra là xây dựng bộ máy tinh, gọn, rõ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền; phân công hợp lý, khắc phục tình trạng chồng chéo, phân tán nguồn lực; thực hiện phân quyền, phân cấp mạnh mẽ, đồng bộ với bảo đảm điều kiện thực thi, tránh chồng lấn giữa trung ương và địa phương, nhất là trong bối cảnh triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Củng cố tổ chức pháp chế tại các bộ, ngành, địa phương theo hướng chuyên nghiệp, thống nhất, góp phần nâng cao chất lượng công tác xây dựng pháp luật theo tinh thần Nghị quyết số 66-NQ/TW và Nghị quyết số 197/2025/QH15. Tăng cường năng lực nghiên cứu chiến lược, chính sách, pháp luật, đặc biệt, trong lĩnh vực pháp luật quốc tế, bảo đảm tính khoa học, tính dự báo trong xây dựng và thi hành pháp luật là điều kiện tiên quyết, thời cơ để Bộ, ngành Tư pháp phát triển trong giai đoạn mới.
Thứ ba, phát triển đội ngũ cán bộ, đặc biệt, đội ngũ cán bộ xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật chất lượng cao, bản lĩnh, gắn kết giữa lý luận và thực tiễn là yếu tố “then chốt” giúp Bộ, ngành Tư pháp thực hiện hiệu quả nhiệm vụ; chú trọng phát triển hệ thống đào tạo ngành luật đạt chuẩn khu vực, nâng cao chất lượng nghiên cứu chính sách, pháp luật, hướng tới xây dựng các trung tâm nghiên cứu trọng điểm quốc gia… đáp ứng yêu cầu đổi mới công tác xây dựng pháp luật và hội nhập quốc tế trong giai đoạn mới.
![]() |
| Ảnh do Vụ Tổ chức cán bộ cung cấp. |
3. Một số giải pháp kiện toàn tổ chức bộ máy, nhân lực của Bộ, ngành Tư pháp trong kỷ nguyên mới
3.1. Kiện toàn tổ chức bộ máy
Một là, tiếp tục rà soát, sắp xếp tổ chức bộ máy phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ trong kỷ nguyên mới, bảo đảm hoạt động hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả. Tập trung chỉ đạo thực hiện nghiêm các nghị quyết, kết luận của Đảng, Quốc hội và Chính phủ về sắp xếp tổ chức bộ máy. Tiếp tục rà soát, hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức của Bộ và các đơn vị, thu gọn đầu mối tránh chồng chéo, nâng cao hiệu quả. Với đơn vị sự nghiệp công lập, chỉ giữ lại các đơn vị phục vụ nhiệm vụ chính trị, đáp ứng tiêu chí thành lập và quy hoạch; thúc đẩy chuyển đổi sang công ty cổ phần khi đủ điều kiện; nâng cao hiệu lực, hiệu quả và mức độ tự chủ tài chính. Rà soát, sắp xếp tổ chức bên trong đơn vị phù hợp với chủ trương tinh gọn bộ máy và quy định pháp luật...
Hai là, đẩy mạnh phân quyền, phân cấp giữa Bộ Tư pháp và chính quyền địa phương liên quan đến thực hiện các nhiệm vụ trong lĩnh vực tư pháp, là trọng tâm trong kiện toàn tổ chức Bộ, ngành Tư pháp nhằm nâng cao tính tự chủ, trách nhiệm và hiệu quả thực thi nhiệm vụ. Bộ Tư pháp tiếp tục rà soát, hoàn thiện cơ chế phân quyền, phân cấp rõ ràng, đồng bộ cho Ủy ban nhân dân các cấp, bảo đảm phương châm “địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm”. Phân quyền, phân cấp gắn với nâng cao trách nhiệm người đứng đầu, khắc phục tình trạng đùn đẩy, né tránh trách nhiệm, tạo môi trường linh hoạt trong công vụ. Thiết lập cơ chế phối hợp, kiểm tra, giám sát chặt chẽ giữa Bộ và chính quyền địa phương để bảo đảm thực hiện đúng chức năng, tránh hình thức và lãng phí. Xử lý nghiêm các hành vi lợi dụng phân quyền để trục lợi hoặc vi phạm pháp luật.
Ba là, tiếp tục xã hội hóa mạnh mẽ các lĩnh vực có cơ sở pháp lý và thực tiễn thuận lợi như công chứng, luật sư, trọng tài thương mại, giám định tư pháp, đấu giá tài sản, thi hành án dân sự…, phù hợp với quy hoạch phát triển được phê duyệt. Bộ Tư pháp cần tăng cường kiểm tra, giám sát hoạt động hành nghề, bảo đảm các hoạt động xã hội hóa vẫn đặt dưới sự quản lý nhà nước chặt chẽ và thống nhất. Phát triển tổ chức hành nghề phải gắn với chuẩn hóa, nâng cao năng lực chuyên môn, đạo đức nghề nghiệp và trách nhiệm xã hội, tránh thương mại hóa vượt kiểm soát, gây ảnh hưởng đến quyền lợi người dân.
3.2. Phát triển, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ của Bộ, ngành Tư pháp
Một là, tuyển dụng, thu hút, bố trí, sử dụng cán bộ. Xây dựng cơ chế tuyển chọn, tạo liên thông giữa các cơ quan trong ngành Tư pháp và xã hội nhằm thu hút, tiếp nhận chuyên gia, nhà khoa học pháp lý, luật gia, luật sư giỏi, người có tài năng vào làm việc trong ngành; đồng thời, luân chuyển cán bộ tư pháp đến các bộ, ngành, địa phương và tổ chức hành nghề như luật sư, công chứng, giám định… để tích lũy kinh nghiệm thực tiễn. Phân công, bố trí cán bộ phù hợp với chuyên môn, năng lực, sở trường. Công việc được giao phải rõ nhiệm vụ, quyền hạn, gắn với trách nhiệm. Thực hiện đánh giá thường xuyên, khen thưởng kịp thời cán bộ tận tâm, xuất sắc và sàng lọc, loại bỏ cán bộ không đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ, xử lý nghiêm cán bộ vi phạm, thiếu trách nhiệm. Xây dựng tiêu chí đánh giá cụ thể, gắn với vị trí việc làm. Nâng cao chất lượng công tác quy hoạch, luân chuyển, điều động gắn với đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quy hoạch hằng năm. Chú trọng xây dựng đội ngũ chuyên gia đầu ngành; phát hiện, tạo nguồn cán bộ trẻ, có triển vọng để đào tạo, bồi dưỡng, bổ nhiệm, bảo đảm kế thừa và phát triển đội ngũ lãnh đạo các cấp cho nhiệm kỳ tiếp theo.
Hai là, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ. Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức bảo đảm đủ phẩm chất, năng lực, thực sự chuyên nghiệp, liêm chính, có văn hóa tuân thủ pháp luật, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong kỷ nguyên mới; đặc biệt, tập trung cho đội ngũ cán bộ làm công tác xây dựng pháp luật, nghiên cứu chiến lược, khoa học pháp lý và phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số[7].
Tiếp tục đổi mới nội dung, phương pháp đào tạo theo hướng lấy người học làm trung tâm, tăng tính chủ động, cập nhật kiến thức, kỹ năng mới. Rà soát, cập nhật, hoàn thiện các chương trình đào tạo, bồi dưỡng, trong đó, tập trung xây dựng chương trình đào tạo chuyên sâu về xây dựng pháp luật cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức tham gia công tác xây dựng pháp luật. Nâng cao chất lượng đào tạo luật và đào tạo các chức danh tư pháp, phát triển Trường Đại học Luật Hà Nội, Học viện Tư pháp vươn tầm khu vực và thế giới. Đẩy mạnh liên kết với các trường đại học, viện nghiên cứu, tổ chức quốc tế uy tín để tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho Bộ, ngành Tư pháp. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong đào tạo, tăng cường đào tạo trực tuyến, kết nối với giảng viên có trình độ cao trong và ngoài nước; xây dựng học liệu điện tử để hỗ trợ tự học, nghiên cứu. Tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng; kịp thời biểu dương, khen thưởng công chức, viên chức có thành tích trong học tập, tự bồi dưỡng và đóng góp cho Bộ, ngành Tư pháp.
Ba là, chính sách cán bộ. Tập trung tổ chức thực hiện các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội cho đội ngũ cán bộ tham gia công tác xây dựng pháp luật theo yêu cầu của trung ương và quy định của Quốc hội, Chính phủ. Xây dựng môi trường làm việc thân ái, dân chủ, văn minh; tiếp tục hoàn thiện, thực hiện cơ chế, chính sách tạo động lực cho cán bộ, công chức, viên chức trong ngành phấn đấu, toàn tâm, toàn ý với công việc, thu hút, giữ chân người tài và phát huy năng lực đội ngũ cán bộ tinh hoa.
3.3. Đổi mới phương thức làm việc để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác
Một là, ngành Tư pháp cần chuyển đổi từ tư duy thụ động sang tư duy chủ động, kiến tạo, phục vụ, lấy hiệu quả thực chất trong thi hành pháp luật làm trọng tâm[8]. Để tạo đột phá thể chế, Bộ, ngành Tư pháp phải nâng cao chất lượng xây dựng pháp luật, bảo đảm tiến độ, phân định rõ trách nhiệm người đứng đầu, tăng cường phối hợp liên ngành và tham vấn chính sách.
Hai là, đổi mới cách thức, phương pháp làm việc nhằm nâng cao hiệu quả các nhiệm vụ được giao. Theo đó, cần quán triệt tư duy làm việc chuyên nghiệp, tận tụy, trách nhiệm với công việc và Nhân dân; tạo môi trường khuyến khích cán bộ, công chức, viên chức chủ động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, lấy hiệu quả công việc làm thước đo đánh giá. Đổi mới phương pháp làm việc gắn với vị trí việc làm, chức năng, nhiệm vụ cụ thể của từng đơn vị, hướng tới tăng cường kỷ luật, kỷ cương, tinh thần trách nhiệm và khát vọng cống hiến. Đồng thời, cần khắc phục tình trạng sợ sai, né tránh trách nhiệm; phát huy vai trò người đứng đầu trong tổ chức, điều hành, tạo sự đồng thuận trong nội bộ cơ quan, đơn vị. Việc đổi mới cách làm cần đặt trong tổng thể chiến lược hiện đại hóa nền hành chính và xây dựng nền tư pháp chuyên nghiệp, liêm chính, phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân, đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới./.
Vụ Tổ chức cán bộ, Bộ Tư pháp
[1]. Thanh tra Bộ Tư pháp đã kết thúc hoạt động theo chủ trương tinh gọn bộ máy của hệ thống chính trị.
[2]. Gồm 03 cục, 01 vụ, Thanh tra Bộ và 01 đơn vị sự nghiệp.
[3]. Theo Nghị định số 178/2024/NĐ-CP ngày 31/12/2024 của Chính phủ về chính sách, chế độ đối với cán bộ, công chức, viên chức, người lao động và lực lượng vũ trang trong thực hiện sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị (Nghị định số 178/2024/NĐ-CP) và Nghị định số 67/2025/NĐ-CP ngày 15/3/2025 của Chính phủ sửa đổi Nghị định số 178/2024/NĐ-CP.
[4]. Cơ cấu ngạch công chức gồm 6,7% chuyên viên cao cấp, 24,7% chuyên viên chính và 63% chuyên viên; học hàm, học vị có 02 Giáo sư, 31 Phó Giáo sư, 163 Tiến sĩ, 815 Thạc sĩ và 524 cử nhân đại học; 288 cán bộ có trình độ cao cấp lý luận chính trị, 455 trung cấp (không tính hệ thống thi hành án dân sự).
[5]. Gồm: công tác xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật; theo dõi việc thi hành văn bản quy phạm pháp luật; kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật; phổ biến, giáo dục pháp luật, hòa giải ở cơ sở; hộ tịch; quốc tịch; nuôi con nuôi; luật sư, tư vấn pháp luật; trợ giúp pháp lý; công chứng, chứng thực; giám định tư pháp; đấu giá tài sản; trọng tài thương mại; hòa giải thương mại; quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản và hoạt động hành nghề quản lý, thanh lý tài sản; thừa phát lại; đăng ký biện pháp bảo đảm; bồi thường nhà nước; pháp chế; quản lý công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính và công tác tư pháp khác theo quy định của pháp luật.
[6]. Gồm: công tác xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật, theo dõi thi hành pháp luật, kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật, phổ biến, giáo dục pháp luật, hòa giải ở cơ sở, trợ giúp pháp lý, nuôi con nuôi, hộ tịch, chứng thực, quản lý công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính và các công tác tư pháp khác theo quy định của pháp luật.
[7]. Theo Nghị quyết số 27-NQ/TW, Nghị quyết số 66-NQ/TW, Nghị quyết số 57-NQ/TW, Nghị quyết số 197/2025/QH15, Quyết định số 1155/QĐ-TTg ngày 30/9/2022 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án “Tiếp tục xây dựng Học viện Tư pháp thành trung tâm lớn đào tạo các chức danh tư pháp” và Quyết định số 1156/QĐ-TTg ngày 30/9/2022 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án tổng thể “Tiếp tục xây dựng Trường Đại học Luật Hà Nội và Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh thành các trường trọng điểm đào tạo cán bộ về pháp luật”.
[8]. Theo Thông báo số 108/TB-VPTW ngày 18/11/2024 của Văn phòng Trung ương Đảng về Kết luận của đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm tại buổi làm việc với Ban Cán sự Đảng Bộ Tư pháp và Nghị quyết số 66-NQ/TW.
(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật ấn phẩm đặc biệt “Ngành Tư pháp - Tự hào truyền thống, vững bước tương lai”)