Thứ năm 08/10/2026 13:58
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.

Sở Tư pháp là cơ quan tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh thực hiện chức năng quản lý nhà nước trong công tác xây dựng và thi hành pháp luật; kiểm tra, xử lý, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL). Đây là nhiệm vụ trọng tâm trong công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế. Đồng thời, với vai trò, trách nhiệm thành viên Ban chỉ đạo cải cách hành chính của tỉnh, Sở Tư pháp đã chủ động triển khai đồng bộ, toàn diện, có trọng tâm, trọng điểm các nhiệm vụ trong lĩnh vực cải cách thể chế trên địa bàn tỉnh.

1. Kết quả nổi bật

1.1. Trong công tác xây dựng và thi hành pháp luật

Trong hơn 21 năm qua, chức năng, nhiệm vụ của ngành Tư pháp nói chung và Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu nói riêng không ngừng được củng cố, bổ sung, hoàn thiện và thực hiện tốt nhiệm vụ tham mưu về các vấn đề pháp lý cho hệ thống chính trị của tỉnh, xây dựng và hoàn thiện các VBQPPL của địa phương trên các lĩnh vực ngày càng hiệu quả, bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, thống nhất, phù hợp và khả thi với điều kiện thực tế phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.

Trong giai đoạn 2021 - 2025, Sở Tư pháp thường xuyên hướng dẫn, theo dõi tiến độ, đôn đốc các cơ quan được giao xây dựng các dự thảo VBQPPL trình Hội đồng nhân dân (HĐND), UBND tỉnh và đã ban hành 368 VBQPPL, gồm: 100 nghị quyết của HĐND tỉnh, 268 quyết định của UBND tỉnh; cấp huyện (khi còn tổ chức chính quyền địa phương cấp huyện) ban hành 119 VBQPPL, gồm: 03 nghị quyết của HĐND, 116 quyết định của UBND; cấp xã ban hành 32 quyết định quy phạm pháp luật.

Sở Tư pháp đã tham mưu cho UBND tỉnh ban hành các VBQPPL, trực tiếp thực hiện thẩm định gần 500 dự thảo VBQPPL (đạt 100%), tham gia ý kiến vào gần 1000 lượt dự thảo VBQPPL các loại, tạo hành lang pháp lý để triển khai thực hiện nhiệm vụ xây dựng pháp luật, đổi mới, hoàn thiện quy trình xây dựng VBQPPL và công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa VBQPPL.

Đồng thời, Sở Tư pháp đã thực hiện kiểm tra hơn 300 (đạt 100%) VBQPPL do HĐND, UBND các huyện, thành phố ban hành và gửi đến Sở Tư pháp.

Trong công tác xây dựng và thi hành pháp luật, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã tham gia góp ý, thẩm định dự thảo VBQPPL trước khi trình UBND, HĐND xem xét ban hành; triển khai nghiên cứu, tham gia ý kiến vào các dự thảo luật, pháp lệnh, văn bản hướng dẫn thi hành luật do bộ, ngành ở trung ương chủ trì soạn thảo, góp phần nâng cao chất lượng dự thảo VBQPPL, bảo đảm các VBQPPL được xây dựng, thẩm định, kiểm tra và rà soát đúng tiến độ; bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, khả thi, phù hợp với điều kiện địa phương, đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính, cải cách tư pháp.

Chính vì vậy, công tác xây dựng, ban hành văn bản pháp luật của tỉnh đã có chuyển biến mạnh mẽ, đi vào nền nếp; hệ thống văn bản pháp luật của tỉnh từng bước được hoàn thiện, góp phần bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, thống nhất, đồng bộ, khả thi, phù hợp với địa phương và bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa.

1.2. Trong công tác kiểm soát thủ tục hành chính, hành chính tư pháp, bổ trợ tư pháp, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật và trợ giúp pháp lý.

Trong các lĩnh vực công tác này, Sở đã kịp thời đề xuất UBND tỉnh xem xét, tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc về mặt pháp lý; chỉ đạo, điều hành; tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho các hoạt động kinh tế - xã hội, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trên địa bàn. Chính vì vậy, công tác kiểm soát thủ tục hành chính, hành chính tư pháp, bổ trợ tư pháp, trợ giúp pháp lý… được quan tâm thực hiện, đi vào chiều sâu, tăng cường trợ giúp pháp lý cho các đối tượng yếu thế tạo điều kiện thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp, góp phần tăng cường pháp chế, quản lý xã hội bằng pháp luật, thúc đẩy kinh tế - xã hội của tỉnh phát triển.

Trong công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, những năm qua, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã có nhiều đổi mới tích cực và đạt được kết quả quan trọng góp phần vào xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao, Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu đã nghiên cứu, lựa chọn các mô hình hoạt động phù hợp với đặc thù địa lý và tình hình thực tế địa phương. Trong đó, chú trọng đẩy mạnh công tác truyền thông, phổ biến, giáo dục pháp luật cho Nhân dân khu vực biên giới, các bản đặc biệt khó khăn và xã nghèo trên địa bàn tỉnh… Tổ chức có hiệu quả các cuộc thi “Báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật giỏi về phòng, chống tham nhũng trên địa bàn tỉnh Lai Châu”; cuộc thi “Tìm hiểu pháp luật về an toàn giao thông trên địa bàn tỉnh Lai Châu”; cuộc thi “Tìm hiểu pháp luật về hòa giải ở cơ sở trên địa bàn tỉnh Lai Châu”.

Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu đã thực hiện tốt vai trò là cơ quan Thường trực của Hội đồng phối hợp, phổ biến, giáo dục pháp luật tỉnh góp phần nâng cao nhận thức, ý thức chấp hành pháp luật của Nhân dân các dân tộc trong tỉnh.

Đồng thời, Sở Tư pháp đã tổ chức các hội nghị trực tiếp kết hợp trực tuyến từ tỉnh đến xã, tuyên truyền, phổ biến Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp, Luật Quy hoạch, Luật Xây dựng, Luật Biên phòng và các văn bản pháp luật có liên quan cho hàng nghìn đại biểu tham dự tại điểm cầu trong toàn tỉnh Lai Châu. Đối với hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo và đối tượng chính sách luôn được Sở Tư pháp quan tâm, chỉ đạo và tổ chức thực hiện, đặc biệt là trợ giúp pháp lý lưu động kết hợp với tuyên truyền, phổ biến pháp luật cho Nhân dân. Mỗi năm, Trung tâm trợ giúp pháp lý tổ chức hàng chục đợt trợ giúp pháp lý lưu động kết hợp với tuyên truyền, phổ biến pháp luật cho Nhân dân các xã vùng sâu, vùng xa giúp người dân được tiếp cận với các dịch vụ pháp lý, nâng cao trình độ nhận thức, hiểu biết pháp luật.

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới
Ảnh do Sở Tư pháp Lai Châu cung cấp.

1.3. Công tác ứng dụng công nghệ thông tin

Công tác ứng dụng công nghệ thông tin, cải cách hành chính có nhiều đột phá nhằm nâng cao hiệu quả lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị của ngành; góp phần cải thiện các chỉ số như: chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI), chỉ số cải cách hành chính (PAX - INDEX); chỉ số sự hài lòng của người dân, tổ chức đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước (SIPAS); chỉ số hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh (PAPI) của tỉnh. Đẩy mạnh xử lý văn bản, hồ sơ công việc trên môi trường mạng; sử dụng hòm thư công vụ để trao đổi công việc; thực hiện gửi, nhận văn bản điện tử trên Hệ thống Phần mềm quản lý văn bản và điều hành giữa các cơ quan nhà nước trên địa bàn tỉnh Lai Châu; tăng cường triển khai ứng dụng công nghệ thông tin, ứng dụng chữ ký số cá nhân, bảo đảm tỷ lệ xử lý văn bản, hồ sơ công việc (trừ hồ sơ mật) trên môi trường mạng đạt 100%; xây dựng quy trình nội bộ cắt giảm thời gian giải quyết 87/134 thủ tục hành chính, bình quân giảm gần 50% so với thời gian quy định.

1.4. Công tác tổ chức, bộ máy

Thực hiện chủ trương đổi mới, tinh gọn tổ chức bộ máy theo hướng hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Sở đã tham mưu, quyết liệt thực hiện việc sáp nhập, tinh gọn bộ máy. Vì thế, theo Quyết định số 1345/QĐ-UBND ngày 18/6/2025 của UBND tỉnh Lai Châu, Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu đã giảm từ 05 phòng chuyên môn và 03 đơn vị sự nghiệp với 40 cán bộ, công chức xuống còn 03 phòng chuyên môn và 02 đơn vị sự nghiệp, với tổng số 38 cán bộ, công chức. Đồng thời, chức năng thanh tra của Sở được chuyển về Thanh tra tỉnh thực hiện, bảo đảm phân công rõ ràng, giảm chồng chéo nhiệm vụ. Việc tinh gọn tổ chức không đơn thuần chỉ giảm số lượng đầu mối mà còn thể hiện quyết tâm chính trị trong cải cách hành chính, nâng cao hiệu quả công vụ, xây dựng nền hành chính phục vụ, minh bạch và hiện đại, là cơ hội để mỗi cán bộ, công chức ngành Tư pháp tỉnh nhìn lại vai trò, trách nhiệm của mình trong kỷ nguyên mới.

1.5. Đánh giá chung kết quả đạt được

Với sự nỗ lực phấn đấu không ngừng của công chức, viên chức, nhiều năm qua, Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu được Bộ Tư pháp xếp hạng A toàn quốc. Năm 2021, lần đầu tiên Sở Tư pháp vươn lên đứng đầu bảng xếp hạng về chỉ số cải cách hành chính của các sở, ban, ngành tỉnh Lai Châu (năm 2019 và 2020 xếp hạng 2). Năm 2020, Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu được Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Chủ tịch UBND tỉnh tặng cờ thi đua. Đặc biệt, trong năm 2021, Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu vinh dự được Chủ tịch nước tặng Huân chương Lao động hạng Nhì. Năm 2022 và 2023, nhiều cá nhân và tập thể Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu được Bộ trưởng Bộ Tư pháp, UBND tỉnh tặng Bằng khen vì có thành tích xuất sắc trong phong trào hoạt động của ngành, của tỉnh.

2. Một số giải pháp và phương hướng hoạt động của Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu để đáp ứng yêu cầu phát triển trong kỷ nguyên mới

Thời gian tới, để công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế được đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả, hoạt động, đáp ứng thực tiễn, Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu cần thực hiện đồng bộ các giải pháp, trong đó, tập trung vào một số nhóm giải pháp cơ bản sau:

Một là, các cấp, các ngành tiếp tục quán triệt, chỉ đạo các cơ quan, đơn vị nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò công tác xây dựng, hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; nâng cao vai trò, trách nhiệm người đứng đầu, tăng cường trách nhiệm, kỷ luật, kỷ cương trong công tác xây dựng pháp luật.

Hai là, tăng cường và tổ chức thực hiện nghiêm các quy định pháp luật về kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa VBQPPL, cụ thể: (i) tập trung tổ chức thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa VBQPPL theo đúng quy định, gắn với việc xây dựng, hoàn thiện thể chế, cơ chế, chính sách, pháp luật; (ii) xác định rõ việc rà soát văn bản là trách nhiệm, phải được tiến hành chủ động, thường xuyên của các cấp, các ngành, các địa phương; (iii) chú trọng, lồng ghép hoạt động rà soát VBQPPL trong quá trình xây dựng pháp luật nhằm phát hiện “từ sớm, từ xa” các quy định trái pháp luật, mâu thuẫn, chồng chéo hoặc khoảng trống pháp luật sau ban hành.

Ba là, tiếp tục nâng cao chất lượng, bảo đảm số lượng, tính ổn định của đội ngũ cán bộ làm công tác tư pháp, nhất là công tác xây dựng, thi hành pháp luật; đồng thời, đầu tư kinh phí, bảo đảm các điều kiện cần thiết phục vụ công tác xây dựng và thi hành pháp luật đạt chất lượng, hiệu quả cao.

Trong bối cảnh chung của đất nước, của tỉnh, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu, bước vào kỷ nguyên mới với những thời cơ, thuận lợi, nhưng cũng có khó khăn, thách thức nhất định, song với bề dày truyền thống của ngành Tư pháp, mỗi cán bộ, công chức Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu sẽ nỗ lực phát huy tinh thần trách nhiệm, sáng tạo và cống hiến để ngành Tư pháp tiếp tục khẳng định được vị thế, vai trò của mình, xứng đáng là cơ quan “gác cổng” về pháp luật đáng tin cậy ở địa phương./.

Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật ấn phẩm đặc biệt “Ngành Tư pháp - Tự hào truyền thống, vững bước tương lai”)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Ngày 19/8/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 326/2026/NĐ-CP quy định về định danh địa điểm, đánh dấu bước chuyển quan trọng trong việc thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng về chuyển đổi số quốc gia, hiện đại hóa quản lý đất đai, số hóa dữ liệu trên hệ thống quản lý của Nhà nước. Đây là bước đi mang tầm chiến lược, lấy dữ liệu làm nền tảng, người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ. Nghị định số 326/2026/NĐ-CP gồm 04 chương với 18 điều, thiết lập một khung khổ pháp lý đồng bộ, toàn diện cho việc định danh các địa điểm cụ thể trên toàn lãnh thổ quốc gia. Nghị định đã chứa đựng nhiều điểm mới có tính đột phá về tư duy lập pháp và tư duy quản trị hiện đại.
Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Với định hướng xây dựng Thủ đô phát triển hiện đại, văn minh, có chất lượng sống ngày càng cao, Luật Thủ đô năm 2026 đã dành 01 điều riêng quy định về những cơ chế, chính sách trong lĩnh vực y tế và an sinh xã hội (Điều 17). Với các quy định tại Điều 17 của Luật đã tạo cơ sở pháp lý để Hà Nội chủ động hơn trong việc tổ chức các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ người dân và từng bước hoàn thiện mạng lưới an sinh xã hội theo hướng toàn diện, bền vững.
Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Luật Thủ đô năm 2026 dành một cơ chế riêng cho Hà Nội trong việc thí điểm các cơ chế, chính sách mới, qua đó tạo thêm không gian để thành phố chủ động xử lý những vấn đề phát sinh từ thực tiễn. Tuy nhiên, quyền thí điểm không phải là quyền "làm khác" không giới hạn, mà được đặt trong khuôn khổ pháp lý với những yêu cầu cụ thể về phạm vi, thời gian, đánh giá tác động, kiểm soát rủi ro và trách nhiệm của cơ quan thực hiện.
Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.

Theo dõi chúng tôi trên: