Thứ hai 19/01/2026 23:20
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.

Sở Tư pháp là cơ quan tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh thực hiện chức năng quản lý nhà nước trong công tác xây dựng và thi hành pháp luật; kiểm tra, xử lý, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL). Đây là nhiệm vụ trọng tâm trong công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế. Đồng thời, với vai trò, trách nhiệm thành viên Ban chỉ đạo cải cách hành chính của tỉnh, Sở Tư pháp đã chủ động triển khai đồng bộ, toàn diện, có trọng tâm, trọng điểm các nhiệm vụ trong lĩnh vực cải cách thể chế trên địa bàn tỉnh.

1. Kết quả nổi bật

1.1. Trong công tác xây dựng và thi hành pháp luật

Trong hơn 21 năm qua, chức năng, nhiệm vụ của ngành Tư pháp nói chung và Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu nói riêng không ngừng được củng cố, bổ sung, hoàn thiện và thực hiện tốt nhiệm vụ tham mưu về các vấn đề pháp lý cho hệ thống chính trị của tỉnh, xây dựng và hoàn thiện các VBQPPL của địa phương trên các lĩnh vực ngày càng hiệu quả, bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, thống nhất, phù hợp và khả thi với điều kiện thực tế phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.

Trong giai đoạn 2021 - 2025, Sở Tư pháp thường xuyên hướng dẫn, theo dõi tiến độ, đôn đốc các cơ quan được giao xây dựng các dự thảo VBQPPL trình Hội đồng nhân dân (HĐND), UBND tỉnh và đã ban hành 368 VBQPPL, gồm: 100 nghị quyết của HĐND tỉnh, 268 quyết định của UBND tỉnh; cấp huyện (khi còn tổ chức chính quyền địa phương cấp huyện) ban hành 119 VBQPPL, gồm: 03 nghị quyết của HĐND, 116 quyết định của UBND; cấp xã ban hành 32 quyết định quy phạm pháp luật.

Sở Tư pháp đã tham mưu cho UBND tỉnh ban hành các VBQPPL, trực tiếp thực hiện thẩm định gần 500 dự thảo VBQPPL (đạt 100%), tham gia ý kiến vào gần 1000 lượt dự thảo VBQPPL các loại, tạo hành lang pháp lý để triển khai thực hiện nhiệm vụ xây dựng pháp luật, đổi mới, hoàn thiện quy trình xây dựng VBQPPL và công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa VBQPPL.

Đồng thời, Sở Tư pháp đã thực hiện kiểm tra hơn 300 (đạt 100%) VBQPPL do HĐND, UBND các huyện, thành phố ban hành và gửi đến Sở Tư pháp.

Trong công tác xây dựng và thi hành pháp luật, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã tham gia góp ý, thẩm định dự thảo VBQPPL trước khi trình UBND, HĐND xem xét ban hành; triển khai nghiên cứu, tham gia ý kiến vào các dự thảo luật, pháp lệnh, văn bản hướng dẫn thi hành luật do bộ, ngành ở trung ương chủ trì soạn thảo, góp phần nâng cao chất lượng dự thảo VBQPPL, bảo đảm các VBQPPL được xây dựng, thẩm định, kiểm tra và rà soát đúng tiến độ; bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, khả thi, phù hợp với điều kiện địa phương, đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính, cải cách tư pháp.

Chính vì vậy, công tác xây dựng, ban hành văn bản pháp luật của tỉnh đã có chuyển biến mạnh mẽ, đi vào nền nếp; hệ thống văn bản pháp luật của tỉnh từng bước được hoàn thiện, góp phần bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, thống nhất, đồng bộ, khả thi, phù hợp với địa phương và bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa.

1.2. Trong công tác kiểm soát thủ tục hành chính, hành chính tư pháp, bổ trợ tư pháp, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật và trợ giúp pháp lý.

Trong các lĩnh vực công tác này, Sở đã kịp thời đề xuất UBND tỉnh xem xét, tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc về mặt pháp lý; chỉ đạo, điều hành; tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho các hoạt động kinh tế - xã hội, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trên địa bàn. Chính vì vậy, công tác kiểm soát thủ tục hành chính, hành chính tư pháp, bổ trợ tư pháp, trợ giúp pháp lý… được quan tâm thực hiện, đi vào chiều sâu, tăng cường trợ giúp pháp lý cho các đối tượng yếu thế tạo điều kiện thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp, góp phần tăng cường pháp chế, quản lý xã hội bằng pháp luật, thúc đẩy kinh tế - xã hội của tỉnh phát triển.

Trong công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, những năm qua, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã có nhiều đổi mới tích cực và đạt được kết quả quan trọng góp phần vào xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao, Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu đã nghiên cứu, lựa chọn các mô hình hoạt động phù hợp với đặc thù địa lý và tình hình thực tế địa phương. Trong đó, chú trọng đẩy mạnh công tác truyền thông, phổ biến, giáo dục pháp luật cho Nhân dân khu vực biên giới, các bản đặc biệt khó khăn và xã nghèo trên địa bàn tỉnh… Tổ chức có hiệu quả các cuộc thi “Báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật giỏi về phòng, chống tham nhũng trên địa bàn tỉnh Lai Châu”; cuộc thi “Tìm hiểu pháp luật về an toàn giao thông trên địa bàn tỉnh Lai Châu”; cuộc thi “Tìm hiểu pháp luật về hòa giải ở cơ sở trên địa bàn tỉnh Lai Châu”.

Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu đã thực hiện tốt vai trò là cơ quan Thường trực của Hội đồng phối hợp, phổ biến, giáo dục pháp luật tỉnh góp phần nâng cao nhận thức, ý thức chấp hành pháp luật của Nhân dân các dân tộc trong tỉnh.

Đồng thời, Sở Tư pháp đã tổ chức các hội nghị trực tiếp kết hợp trực tuyến từ tỉnh đến xã, tuyên truyền, phổ biến Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp, Luật Quy hoạch, Luật Xây dựng, Luật Biên phòng và các văn bản pháp luật có liên quan cho hàng nghìn đại biểu tham dự tại điểm cầu trong toàn tỉnh Lai Châu. Đối với hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo và đối tượng chính sách luôn được Sở Tư pháp quan tâm, chỉ đạo và tổ chức thực hiện, đặc biệt là trợ giúp pháp lý lưu động kết hợp với tuyên truyền, phổ biến pháp luật cho Nhân dân. Mỗi năm, Trung tâm trợ giúp pháp lý tổ chức hàng chục đợt trợ giúp pháp lý lưu động kết hợp với tuyên truyền, phổ biến pháp luật cho Nhân dân các xã vùng sâu, vùng xa giúp người dân được tiếp cận với các dịch vụ pháp lý, nâng cao trình độ nhận thức, hiểu biết pháp luật.

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới
Ảnh do Sở Tư pháp Lai Châu cung cấp.

1.3. Công tác ứng dụng công nghệ thông tin

Công tác ứng dụng công nghệ thông tin, cải cách hành chính có nhiều đột phá nhằm nâng cao hiệu quả lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị của ngành; góp phần cải thiện các chỉ số như: chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI), chỉ số cải cách hành chính (PAX - INDEX); chỉ số sự hài lòng của người dân, tổ chức đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước (SIPAS); chỉ số hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh (PAPI) của tỉnh. Đẩy mạnh xử lý văn bản, hồ sơ công việc trên môi trường mạng; sử dụng hòm thư công vụ để trao đổi công việc; thực hiện gửi, nhận văn bản điện tử trên Hệ thống Phần mềm quản lý văn bản và điều hành giữa các cơ quan nhà nước trên địa bàn tỉnh Lai Châu; tăng cường triển khai ứng dụng công nghệ thông tin, ứng dụng chữ ký số cá nhân, bảo đảm tỷ lệ xử lý văn bản, hồ sơ công việc (trừ hồ sơ mật) trên môi trường mạng đạt 100%; xây dựng quy trình nội bộ cắt giảm thời gian giải quyết 87/134 thủ tục hành chính, bình quân giảm gần 50% so với thời gian quy định.

1.4. Công tác tổ chức, bộ máy

Thực hiện chủ trương đổi mới, tinh gọn tổ chức bộ máy theo hướng hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Sở đã tham mưu, quyết liệt thực hiện việc sáp nhập, tinh gọn bộ máy. Vì thế, theo Quyết định số 1345/QĐ-UBND ngày 18/6/2025 của UBND tỉnh Lai Châu, Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu đã giảm từ 05 phòng chuyên môn và 03 đơn vị sự nghiệp với 40 cán bộ, công chức xuống còn 03 phòng chuyên môn và 02 đơn vị sự nghiệp, với tổng số 38 cán bộ, công chức. Đồng thời, chức năng thanh tra của Sở được chuyển về Thanh tra tỉnh thực hiện, bảo đảm phân công rõ ràng, giảm chồng chéo nhiệm vụ. Việc tinh gọn tổ chức không đơn thuần chỉ giảm số lượng đầu mối mà còn thể hiện quyết tâm chính trị trong cải cách hành chính, nâng cao hiệu quả công vụ, xây dựng nền hành chính phục vụ, minh bạch và hiện đại, là cơ hội để mỗi cán bộ, công chức ngành Tư pháp tỉnh nhìn lại vai trò, trách nhiệm của mình trong kỷ nguyên mới.

1.5. Đánh giá chung kết quả đạt được

Với sự nỗ lực phấn đấu không ngừng của công chức, viên chức, nhiều năm qua, Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu được Bộ Tư pháp xếp hạng A toàn quốc. Năm 2021, lần đầu tiên Sở Tư pháp vươn lên đứng đầu bảng xếp hạng về chỉ số cải cách hành chính của các sở, ban, ngành tỉnh Lai Châu (năm 2019 và 2020 xếp hạng 2). Năm 2020, Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu được Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Chủ tịch UBND tỉnh tặng cờ thi đua. Đặc biệt, trong năm 2021, Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu vinh dự được Chủ tịch nước tặng Huân chương Lao động hạng Nhì. Năm 2022 và 2023, nhiều cá nhân và tập thể Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu được Bộ trưởng Bộ Tư pháp, UBND tỉnh tặng Bằng khen vì có thành tích xuất sắc trong phong trào hoạt động của ngành, của tỉnh.

2. Một số giải pháp và phương hướng hoạt động của Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu để đáp ứng yêu cầu phát triển trong kỷ nguyên mới

Thời gian tới, để công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế được đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả, hoạt động, đáp ứng thực tiễn, Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu cần thực hiện đồng bộ các giải pháp, trong đó, tập trung vào một số nhóm giải pháp cơ bản sau:

Một là, các cấp, các ngành tiếp tục quán triệt, chỉ đạo các cơ quan, đơn vị nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò công tác xây dựng, hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; nâng cao vai trò, trách nhiệm người đứng đầu, tăng cường trách nhiệm, kỷ luật, kỷ cương trong công tác xây dựng pháp luật.

Hai là, tăng cường và tổ chức thực hiện nghiêm các quy định pháp luật về kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa VBQPPL, cụ thể: (i) tập trung tổ chức thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa VBQPPL theo đúng quy định, gắn với việc xây dựng, hoàn thiện thể chế, cơ chế, chính sách, pháp luật; (ii) xác định rõ việc rà soát văn bản là trách nhiệm, phải được tiến hành chủ động, thường xuyên của các cấp, các ngành, các địa phương; (iii) chú trọng, lồng ghép hoạt động rà soát VBQPPL trong quá trình xây dựng pháp luật nhằm phát hiện “từ sớm, từ xa” các quy định trái pháp luật, mâu thuẫn, chồng chéo hoặc khoảng trống pháp luật sau ban hành.

Ba là, tiếp tục nâng cao chất lượng, bảo đảm số lượng, tính ổn định của đội ngũ cán bộ làm công tác tư pháp, nhất là công tác xây dựng, thi hành pháp luật; đồng thời, đầu tư kinh phí, bảo đảm các điều kiện cần thiết phục vụ công tác xây dựng và thi hành pháp luật đạt chất lượng, hiệu quả cao.

Trong bối cảnh chung của đất nước, của tỉnh, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu, bước vào kỷ nguyên mới với những thời cơ, thuận lợi, nhưng cũng có khó khăn, thách thức nhất định, song với bề dày truyền thống của ngành Tư pháp, mỗi cán bộ, công chức Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu sẽ nỗ lực phát huy tinh thần trách nhiệm, sáng tạo và cống hiến để ngành Tư pháp tiếp tục khẳng định được vị thế, vai trò của mình, xứng đáng là cơ quan “gác cổng” về pháp luật đáng tin cậy ở địa phương./.

Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật ấn phẩm đặc biệt “Ngành Tư pháp - Tự hào truyền thống, vững bước tương lai”)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Việc lập và nộp hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH), đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là thủ tục bắt buộc, bảo đảm tính chặt chẽ, minh bạch và khách quan trong quá trình lựa chọn những người tiêu biểu tham gia cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Căn cứ Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND, Hội đồng bầu cử quốc gia đã ban hành mẫu biểu, hướng dẫn và quy trình tiếp nhận hồ sơ, tạo điều kiện để người được giới thiệu ứng cử và người tự ứng cử thực hiện quyền chính trị - pháp lý đúng quy định.
Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Trợ giúp pháp lý (TGPL) là một trong những chính sách xã hội có ý nghĩa nhân văn sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta trong việc bảo đảm quyền được tiếp cận công lý bình đẳng của mọi tầng lớp Nhân dân, đặc biệt là nhóm những người yếu thế trong xã hội. Thông qua các hoạt động TGPL, người yếu thế trong xã hội được cung cấp, sử dụng dịch vụ pháp lý miễn phí khi có tranh chấp, góp phần nâng cao ý thức pháp luật và phòng ngừa vi phạm pháp luật. Trong hoạt động TGPL, đội ngũ luật sư đóng vai trò then chốt, là lực lượng trực tiếp thực hiện việc tư vấn, đại diện và bào chữa cho các đối tượng yếu thế. Tuy nhiên, thực tế cho thấy công tác TGPL còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, cả về cơ chế, nguồn lực và phương thức triển khai.

Theo dõi chúng tôi trên: