Thứ hai 17/08/2026 23:42
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

"Tầm nhìn mới, tư duy mới, hành động mới" - Động lực xây dựng chính quyền Thủ đô Hà Nội kiến tạo, phục vụ

Ngày 23/3/2026, Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội đã ban hành Chỉ thị số 09-CT/TU về nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực thi công vụ; siết chặt kỷ luật, kỷ cương và trách nhiệm của cán bộ, nhất là người đứng đầu trong giai đoạn phát triển mới của Thủ đô Hà Nội (Chỉ thị số 09-CT/TU). Theo đó, Thành phố xác định rõ việc định vị hình ảnh và giá trị cốt lõi của Thủ đô với 09 đặc trưng "Thủ đô văn hiến - kết nối toàn cầu - thanh lịch, hào hoa - phát triển hài hòa - thanh bình, thịnh vượng - chính quyền phục vụ - doanh nghiệp cống hiến - xã hội niềm tin - người dân hạnh phúc", lấy "Văn hiến - bản sắc - sáng tạo" làm trục giá trị xuyên suốt.

Chỉ thị số 09-CT/TU yêu cầu các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội từ Thành phố đến cơ sở tập trung lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện nghiêm túc các nội dung sau[1]:

Thứ nhất, nâng cao nhận thức, đổi mới tư duy; hình thành “tầm nhìn mới, tư duy mới, hành động mới”.

Các cấp ủy, tổ chức đảng, địa phương, cơ quan, đơn vị và cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu, phải chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức; nắm vững chức năng, thẩm quyền, nhiệm vụ và quyền hạn, trách nhiệm; hiểu rõ yêu cầu, những điểm mới, khâu đột phá về ứng dụng khoa học, công nghệ và chuyển đổi số của Thành phố, đặc biệt là yêu cầu về nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực thi công vụ; siết chặt kỷ luật, kỷ cương; đề cao trách nhiệm cá nhân, nhất là trách nhiệm của người đứng đầu trong giai đoạn phát triển mới của Thủ đô. Xác định đây là yêu cầu có tính chất nền tảng, lâu dài, là bước chuyển quan trọng về nhận thức và hành động của đội ngũ cán bộ Thành phố.

Thống nhất hình thành “tầm nhìn mới, tư duy mới, hành động mới”, chuyển từ quản lý hành chính sang quản trị hiện đại; từ chú trọng quy trình sang chú trọng kết quả; từ điều hành theo kinh nghiệm sang điều hành dựa trên dữ liệu và chuyển đổi số toàn diện. Đây là điều kiện tiên quyết để thực hiện hiệu quả phân cấp, ủy quyền, trao quyền và cụ thể hóa trách nhiệm trong toàn hệ thống chính trị thành phố, góp phần xây dựng, phát triển Thủ đô “Văn hiến - Văn minh - Hiện đại - Hạnh phúc”.

Nội dung này thể hiện quyết tâm của Thành ủy Hà Nội trong việc tạo dựng một nền hành chính hiện đại, chuyên nghiệp, liêm chính và phục vụ, lấy hiệu quả thực chất làm thước đo năng lực thực thi công vụ. Không chỉ dừng lại ở yêu cầu đổi mới tư duy, Chỉ thị số 09-CT/TU còn hướng đến xây dựng đội ngũ cán bộ có bản lĩnh, trách nhiệm, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung; phát huy tinh thần đổi mới, sáng tạo, thích ứng với yêu cầu quản trị đô thị trong kỷ nguyên số.

Thứ hai, về phân cấp, ủy quyền, trao quyền, giao nhiệm vụ, bố trí nguồn lực gắn với kiểm tra, giám sát và trách nhiệm thực thi.

Thành phố thực hiện chủ trương phân cấp, ủy quyền, trao quyền, giao nhiệm vụ và tạo điều kiện thuận lợi để cán bộ, nhất là người đứng đầu, chủ động, sáng tạo tổ chức thực hiện nhiệm vụ theo đúng thẩm quyền. Việc phân cấp, ủy quyền, trao quyền phải gắn với bảo đảm đầy đủ, đồng bộ các nguồn lực, điều kiện thực thi; bố trí nhân lực theo vị trí việc làm, bảo đảm đúng người, đúng việc, đủ năng lực và rõ trách nhiệm; bố trí vật lực, gồm cơ sở vật chất, hạ tầng kỹ thuật, công nghệ, kinh phí, trang thiết bị và phương tiện cần thiết; hoàn thiện cơ chế, chính sách, quy định, quy trình, quy hoạch, quy chuẩn, tiêu chuẩn, định mức, đơn giá; phân cấp, ủy quyền cụ thể.

Đồng thời, cần đề cao tính chủ động, bản lĩnh và trách nhiệm cá nhân trong tổ chức thực hiện nhiệm vụ; cán bộ, nhất là người đứng đầu bám sát phương châm “3 trước”: đánh giá, nhận định trước; chuẩn bị trước; hành động trước, chủ động đánh giá, nhận định tình hình từ sớm từ xa; chuẩn bị đầy đủ điều kiện thực hiện; hành động kịp thời, dám quyết, dám làm, dám chịu trách nhiệm đến cùng và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ giải trình đối với quyết định của mình.

Cùng với việc phân cấp, ủy quyền, trao quyền, Thành phố triển khai công tác kiểm tra, giám sát ngay từ đầu, theo dõi thường xuyên trong quá trình tổ chức thực hiện; coi đây vừa là biện pháp kiểm soát chặt chẽ, vừa là đồng hành, hỗ trợ, hướng dẫn, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, nhất là đối với nhiệm vụ mới, việc khó, việc phức tạp, nhạy cảm. Công tác kiểm tra, giám sát phải thực chất, đúng trọng tâm, trọng điểm, thực hiện hậu kiểm, kiểm tra đột xuất khi thực sự cần thiết.

Nội dung này thể hiện rõ quan điểm chỉ đạo xuyên suốt của Thành phố là phân cấp, ủy quyền phải đi đôi với trao quyền thực chất, giao nhiệm vụ rõ ràng và bảo đảm đầy đủ các điều kiện để tổ chức thực hiện. Khi quyền hạn được giao tương xứng với nguồn lực và trách nhiệm, mỗi cấp, mỗi ngành và mỗi cán bộ sẽ có điều kiện phát huy tính chủ động, sáng tạo, rút ngắn quy trình xử lý công việc, nâng cao hiệu quả phục vụ người dân và doanh nghiệp. Điểm nhấn của Chỉ thị số 09-CT/TU là yêu cầu đề cao trách nhiệm cá nhân, nhất là người đứng đầu, với phương châm “3 trước”. Đây không chỉ là yêu cầu về tác phong công vụ mà còn là thước đo năng lực lãnh đạo, điều hành trong bối cảnh Thủ đô đang đứng trước nhiều yêu cầu phát triển mới. Mỗi quyết định phải được cân nhắc kỹ lưỡng, hành động phải kịp thời, dứt khoát, đồng thời gắn với trách nhiệm giải trình rõ ràng, minh bạch.

Thứ ba, đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo, điều hành; xây dựng mô hình quản trị hiện đại của Thủ đô.

Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý, điều hành theo hướng toàn diện, có trọng tâm, trọng điểm theo nguyên tắc “6 rõ, 1 xuyên suốt”: rõ việc, rõ người, rõ thẩm quyền, rõ trách nhiệm, rõ thời gian, rõ sản phẩm; mỗi nhiệm vụ chỉ có một đầu mối chủ trì, một cá nhân chịu trách nhiệm chính đến cùng; bảo đảm sự lãnh đạo thống nhất, đồng bộ, xuyên suốt từ thành phố đến cơ sở.

Hoàn thiện mô hình lãnh đạo và quản trị hiện đại của Thủ đô theo định hướng “Đảng bộ số - chính quyền kiến tạo - doanh nghiệp tiên phong - xã hội đồng thuận”. Trong đó, Đảng bộ Thành phố lãnh đạo bằng định hướng chiến lược, kỷ luật, kỷ cương và dữ liệu; chính quyền chuyển mạnh từ quản lý hành chính sang kiến tạo phát triển, phục vụ Nhân dân và doanh nghiệp; doanh nghiệp giữ vai trò tiên phong trong đổi mới sáng tạo, nâng cao năng lực cạnh tranh; xã hội đồng thuận, tham gia giám sát và thụ hưởng thành quả phát triển; lấy mức độ hài lòng và niềm tin của Nhân dân làm thước đo cao nhất.

Quán triệt nguyên tắc thể chế, quy hoạch đi trước một bước, bảo đảm đồng bộ giữa định hướng phát triển và tổ chức thực hiện; phấn đấu “3 thông”: thể chế thông thoáng, quản trị thông minh, tư tưởng thông suốt, với “3 quy”: quy hoạch, quy chế, quy chuẩn - tiêu chuẩn đồng bộ, bảo đảm mọi hoạt động được vận hành trong khuôn khổ rõ ràng, minh bạch, thống nhất, tạo nền tảng cho phát triển bền vững.

Tiếp tục tập trung lãnh đạo, chỉ đạo giải quyết kịp thời các nhiệm vụ cấp bách, các vấn đề lớn, khó, phức tạp; thường xuyên rà soát, đánh giá các nhiệm vụ chậm trễ, tồn đọng; xác định rõ nguyên nhân và trách nhiệm của từng tổ chức, cá nhân. Đồng thời, rà soát, bổ sung, hoàn thiện quy chế làm việc, làm rõ mối quan hệ công tác giữa tập thể và cá nhân, giữa người đứng đầu với cấp phó, giữa các địa phương, cơ quan, đơn vị trong phối hợp giải quyết công việc.

Nội dung này thể hiện quyết tâm của Thành phố trong việc xây dựng một mô hình quản trị hiện đại, lấy hiệu quả công việc và sự hài lòng của người dân làm thước đo. Với nguyên tắc “6 rõ, 1 xuyên suốt”, cùng định hướng “Đảng bộ số - chính quyền kiến tạo - doanh nghiệp tiên phong - xã hội đồng thuận” thể hiện tư duy quản trị mới của Hà Nội. Theo đó, Đảng bộ lãnh đạo bằng tư duy chiến lược và chuyển đổi số; chính quyền chuyển mạnh từ quản lý hành chính sang kiến tạo phát triển, lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ. Doanh nghiệp được khuyến khích phát huy vai trò động lực của đổi mới sáng tạo. Người dân vừa là đối tượng thụ hưởng, vừa trực tiếp tham gia giám sát, đồng hành cùng chính quyền trong quá trình phát triển Thủ đô.

Thứ tư, đẩy mạnh đổi mới sáng tạo, ứng dụng khoa học công nghệ và chuyển đổi số.

Xây dựng hệ thống dữ liệu “đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất, dùng chung” phục vụ công tác lãnh đạo, chỉ đạo trong toàn hệ thống chính trị Thành phố; chuyển mạnh từ tư duy quản lý hành chính sang quản trị dựa trên mục tiêu và kết quả, thống nhất 100% nhiệm vụ được cập nhật, theo dõi trên hệ thống quản lý điện tử (trừ các nhiệm vụ thuộc phạm vi bí mật nhà nước theo quy định); từng bước áp dụng OKR, KPI và bảng điều hành điện tử (Dashboard) trong quản trị công vụ, chuyển từ “phát hiện - xử lý” sang “phòng ngừa - cảnh báo sớm”, nâng cao hiệu quả công vụ.

Tăng cường cơ chế giám sát thông minh, cảnh báo sớm nguy cơ chậm trễ, sai phạm; kết nối kênh phản ánh của người dân, doanh nghiệp trên môi trường số và công khai tiến độ xử lý, kết quả giải quyết để kịp thời điều chỉnh, khắc phục ngay từ đầu, từ xa, từ sớm, nhằm thực hiện sâu sắc, hiệu quả phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”.

Nội dung này, Thành ủy Hà Nội yêu cầu tập trung đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ và chuyển đổi số. Việc xây dựng hệ thống dữ liệu đồng bộ, áp dụng các công cụ quản trị hiện đại và tăng cường giám sát trên môi trường số sẽ góp phần đưa hoạt động điều hành từ bị động sang chủ động, từ xử lý sang phòng ngừa. Đồng thời, việc công khai tiến độ giải quyết công việc và kết nối kênh phản ánh của người dân, doanh nghiệp cũng sẽ tăng cường tính minh bạch, trách nhiệm giải trình, qua đó củng cố niềm tin của Nhân dân, xây dựng nền hành chính hiện đại, công khai và phục vụ.

Thứ năm, nâng cao trách nhiệm nêu gương, bản lĩnh và năng lực thực thi của cán bộ, nhất là người đứng đầu.

Mỗi cấp ủy viên, cán bộ lãnh đạo, quản lý, nhất là người đứng đầu, phải gương mẫu, đi đầu về bản lĩnh chính trị, tinh thần trách nhiệm, tính chuyên nghiệp và ý thức phục vụ Nhân dân; kiên quyết khắc phục tình trạng “trên nóng, dưới lạnh”, “nói nhiều - làm ít”. Thực hiện nghiêm 3 nguyên tắc trong thực thi công vụ: “thượng tôn pháp luật, luôn luôn lắng nghe, thái độ phục vụ” và đề cao 6 phấn đấu trong đội ngũ cán bộ “nhận thức đầy đủ; tầm nhìn dài hạn; tư duy sáng tạo; giải pháp thông minh; hành động quyết liệt; kết quả thực chất”; coi đây là hệ tiêu chuẩn hành vi và năng lực thực thi trong giai đoạn phát triển mới của Thủ đô.

Thực hiện nghiêm chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm: “Hà Nội đã nói là làm, làm nhanh, làm đúng, làm hiệu quả, làm đến cùng”, gắn với xây dựng văn hóa lãnh đạo, quản lý và văn hóa liêm chính trong thực thi công vụ. Đồng thời, tích cực học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Chủ tịch Hồ Chí Minh: “cần, kiệm, liêm chính, chí công vô tư”, “việc gì có lợi cho dân ta phải hết sức làm, việc gì có hại đến dân ta phải hết sức tránh”, thường xuyên “tự soi, tự sửa”, chủ động nhận diện và khắc phục các biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

Người đứng đầu chịu trách nhiệm trực tiếp, toàn diện và cuối cùng đối với kết quả thực hiện nhiệm vụ của địa phương, cơ quan, đơn vị; chịu trách nhiệm khi để xảy ra mất đoàn kết nội bộ; hoặc cán bộ thuộc quyền vi phạm kỷ luật, pháp luật. Trách nhiệm phải được cá thể hóa, lượng hóa theo bộ tiêu chí do Ban Thường vụ Thành ủy ban hành, gắn với kết quả thực hiện các mục tiêu, chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội, tiến độ giải ngân đầu tư công, cải cách hành chính, chuyển đổi số, giải quyết đơn thư, công tác giải phóng mặt bằng, giải quyết 5 điểm nghẽn lớn, dự án tồn đọng… và mức độ hài lòng của người dân, doanh nghiệp.

Tiếp tục khuyến khích, bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung; phân biệt rõ giữa hành vi né tránh, thiếu trách nhiệm với những sai sót phát sinh trong quá trình dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung để có hình thức xem xét, đánh giá phù hợp.

Nội dung này nhấn mạnh yêu cầu xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là người đứng đầu, thực sự gương mẫu, bản lĩnh, dám nghĩ, dám làm và dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. Chỉ thị số 09-CT/TU đề cao trách nhiệm nêu gương, đồng thời đặt ra những tiêu chí cụ thể để đánh giá hiệu quả thực thi công vụ, gắn trách nhiệm cá nhân với kết quả phát triển của địa phương, cơ quan, đơn vị và mức độ hài lòng của người dân, doanh nghiệp. Đồng thời, việc khuyến khích, bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo sẽ góp phần tạo động lực đổi mới, xây dựng đội ngũ cán bộ có đủ năng lực, bản lĩnh và tinh thần cống hiến, đáp ứng yêu cầu phát triển của Thủ đô trong giai đoạn mới.

Thứ sáu, siết chặt kỷ luật, kỷ cương; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát và xử lý, thay thế cán bộ yếu kém.

Siết chặt kỷ luật, kỷ cương và đạo đức công vụ trong toàn hệ thống chính trị Thành phố, coi đây là yêu cầu bắt buộc và chuẩn mực hành động của mỗi cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra, nhất là kiểm tra đột xuất việc chấp hành nội quy, quy chế, quy trình giải quyết công việc, tinh thần và thái độ phục vụ Nhân dân; đẩy mạnh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; lấy kết quả thực hiện nhiệm vụ làm thước đo chủ yếu.

Thực hiện nghiêm nguyên tắc tuyển dụng, bố trí, điều động, thay thế cán bộ theo phương châm “vì việc tìm người”, “có vào - có ra, có lên - có xuống”; coi đây là hoạt động bình thường trong công tác cán bộ, từng bước hình thành văn hóa công vụ, bảo đảm công bằng, minh bạch, tạo động lực phấn đấu; xây dựng đội ngũ cán bộ có bản lĩnh, phẩm chất, trách nhiệm và tinh thần phụng sự Nhân dân. Đồng thời, quan tâm đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, sử dụng cán bộ đúng người, đúng việc.

Kiên quyết điều chuyển, thay thế cán bộ, nhất là người đứng đầu, không đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, năng lực hạn chế, thiếu tinh thần trách nhiệm, để lĩnh vực, địa bàn phụ trách trì trệ, kém hiệu quả; tín nhiệm thấp, mất đoàn kết nội bộ hoặc có nhiều phản ánh tiêu cực. Xử lý kịp thời các hành vi nhũng nhiễu, gây phiền hà, lợi dụng quy trình để trì hoãn công việc; đặc biệt xử lý nghiêm trường hợp đã được phân cấp, trao quyền, bảo đảm đầy đủ điều kiện nhưng vẫn thiếu chủ động, chậm tổ chức thực hiện, né tránh, đùn đẩy hoặc thực hiện kém hiệu quả.

Nội dung này của Chỉ thị số 09- CT/TU thể hiện quyết tâm xây dựng nền hành chính kỷ cương, liêm chính, hành động và phục vụ. Việc siết chặt kỷ luật, tăng cường kiểm tra, giám sát và lấy kết quả thực hiện nhiệm vụ làm thước đo sẽ góp phần nâng cao trách nhiệm của mỗi cán bộ, công chức, nhất là người đứng đầu. Đặc biệt, chủ trương “có vào - có ra, có lên - có xuống”, “vì việc tìm người” cùng với việc kiên quyết thay thế những cán bộ yếu kém, né tránh trách nhiệm, trì trệ trong thực thi công vụ cho thấy quyết tâm tạo dựng đội ngũ cán bộ thực sự đủ năng lực, phẩm chất và tinh thần cống hiến. Nội dung này nếu được thực hiện hiệu quả sẽ góp phần củng cố kỷ cương hành chính, tăng cường niềm tin của Nhân dân đối với chính quyền Thủ đô.

Thứ bảy, đổi mới mạnh mẽ công tác đánh giá cán bộ; sử dụng kết quả đánh giá trong công tác cán bộ.

Đổi mới mạnh mẽ công tác đánh giá, xếp loại cán bộ theo hướng thực chất, liên tục, đa chiều, định lượng và dựa trên dữ liệu; đánh giá theo sản phẩm, tiến độ và hiệu quả cụ thể, bảo đảm phản ánh đúng kết quả thực hiện nhiệm vụ, năng lực tổ chức thực thi và trách nhiệm cá nhân, nhất là người đứng đầu; chấm dứt tình trạng đánh giá hình thức, nể nang, cào bằng.

Áp dụng ứng dụng công nghệ số trong theo dõi, tổng hợp và phân tích kết quả thực hiện nhiệm vụ; triển khai quản lý theo mục tiêu (OKR), chỉ số đánh giá hiệu quả (KPI) và hệ thống bảng điều hành điện tử (Dashboard); bảo đảm mọi nhiệm vụ được cập nhật, giám sát và cảnh báo kịp thời trên môi trường số.

Sử dụng kết quả đánh giá xuyên suốt trong công tác cán bộ; là căn cứ quan trọng trong quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, giới thiệu tái cử, thi đua, khen thưởng và xem xét trách nhiệm.

Chỉ thị số 09-CT/TU đã đặt ra yêu cầu đối với việc đánh giá cán bộ cần có sự chuyển biến rõ rệt trong tư duy quản lý, từ đánh giá cảm tính sang đánh giá bằng kết quả sản phẩm và dữ liệu cụ thể. Việc ứng dụng các công cụ quản trị hiện đại như OKR, KPI, Dashboard nhằm nâng cao tính khách quan, minh bạch; giúp theo dõi, đo lường hiệu quả thực thi công vụ một cách liên tục, chính xác. Khi kết quả đánh giá trở thành căn cứ trong quy hoạch, bổ nhiệm, khen thưởng,… sẽ tạo động lực để mỗi cán bộ không ngừng nâng cao năng lực, tinh thần trách nhiệm, góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ của Thủ đô thực sự “đúng người, đúng việc”.

Như vậy, Chỉ thị số 09-CT/TU của Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội thể hiện quyết tâm chính trị cao trong việc xây dựng nền hành chính Thủ đô hiện đại, chuyên nghiệp, kỷ cương, liêm chính và phục vụ. Việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực thi công vụ, đề cao trách nhiệm người đứng đầu, đẩy mạnh phân cấp, ủy quyền gắn với kiểm tra, giám sát sẽ tạo động lực mới cho sự phát triển của Hà Nội trong giai đoạn tới. Thông qua việc đổi mới tư duy quản trị, ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số, xây dựng đội ngũ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, Thành phố hướng tới mô hình chính quyền kiến tạo, lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ.

Để hiện thực hóa các mục tiêu đề ra, các cấp ủy, chính quyền, cơ quan, đơn vị Thành phố cần quán triệt sâu sắc tinh thần của Chỉ thị số 09-CT/TU, cụ thể hóa thành chương trình, kế hoạch hành động phù hợp với chức năng, nhiệm vụ được giao. Mỗi cán bộ, công chức, viên chức, nhất là người đứng đầu, phải không ngừng nâng cao trách nhiệm, năng lực thực thi, chủ động đổi mới, sáng tạo, lấy kết quả công việc và sự hài lòng của Nhân dân làm thước đo. Qua đó, góp phần xây dựng Thủ đô Hà Nội phát triển nhanh, bền vững, xứng đáng là Thủ đô “văn hiến - bản sắc - sáng tạo” của cả nước./.


[1] Từ điểm 1 đến điểm 7 Chỉ thị số 09-CT/TU ngày 23/3/2026 của Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội về nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực thi công vụ; siết chặt kỷ luật, kỷ cương và trách nhiệm của cán bộ, nhất là người đứng đầu trong giai đoạn phát triển mới của Thủ đô Hà Nội.

QV

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Ngày 16/6/2022, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIII ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW về "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao" (Nghị quyết số 18-NQ/TW). Để hiện thực hóa mục tiêu đưa đất nước trở thành nước phát triển có thu nhập cao, trong thời điểm hiện tại, nhằm phù hợp với sự phát triển chung của đất nước, Hội nghị lần thứ ba, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIV đã đưa ra những quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan tại Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 (Nghị quyết số 21-NQ/TW) làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động sửa đổi chính sách pháp luật sau này. Nghị quyết số 21-NQ/TW đã thể hiện những điểm mới trong chủ trương của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.
Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026 được Quốc hội thông qua ngày 23/4/2026 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm xây dựng và phát triển Thủ đô. Đáng chú ý, tại Điều 26 của Luật đã thiết lập khung chính sách tương đối toàn diện về thu hút đầu tư, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư và phát triển doanh nghiệp, mở rộng cơ hội cho nhiều dự án trên địa bàn Thành phố được tiếp cận các chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng, hạ tầng, phát triển nhân lực và đổi mới sáng tạo.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.
Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh ngân hàng số phát triển, thông tin chưa được kiểm chứng có thể tác động nhanh đến tâm lý và hành vi của người gửi tiền. Nghiên cứu phân tích quy định pháp luật và thực tiễn phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hoạt động này chưa chú trọng đầy đủ đến mức độ hiểu và khả năng vận dụng pháp luật của người gửi tiền; nội dung còn thiên về tính chuyên môn; phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật và cơ chế cung cấp thông tin kịp thời còn hạn chế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá, tích hợp thông tin pháp luật ngắn gọn vào dịch vụ ngân hàng số và tăng cường cung cấp thông tin chính thức, kịp thời nhằm bảo vệ người gửi tiền và củng cố niềm tin vào hệ thống ngân hàng.
Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Quyền con người phản ánh sự kết tinh những giá trị nhân phẩm cao quý của nhân loại. Nghiên cứu công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người là phân tích, đánh giá phương thức thể chế hóa các chủ trương của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời, đề xuất giải pháp khắc phục những hạn chế của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 trước thách thức mới từ công nghệ số. Trên cơ sở tổng hợp và so sánh luật học, nghiên cứu phân tích, đánh giá vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người và thực trạng thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012. Đồng thời, nghiên cứu đánh giá tính phù hợp, khả thi của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Từ đó, kiến nghị và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 quy định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy mà không tự nguyện cai nghiện. Mặc dù không được xem là biện pháp xử lý hành chính nhưng biện pháp này mang tính cách ly người bị áp dụng khỏi cộng đồng. Để bảo vệ quyền của người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, pháp luật cho phép các chủ thể liên quan khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định quyền khởi kiện hay kháng cáo đối với quyết định này. Nghiên cứu phân tích bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, đồng thời, đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng biện pháp này.
Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã xác định rõ trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách tư pháp và chuyển đổi số quốc gia, vai trò này ngày càng trở nên quan trọng. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý, thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Tòa án nhân dân; trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động này trong hệ thống Tòa án nhân dân.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Sự phát triển của nền tảng số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang làm thay đổi phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật, đồng thời, đặt ra nhiều thách thức trong kiểm soát thông tin pháp luật trên môi trường số. Bên cạnh việc mở rộng khả năng tiếp cận pháp luật của người dân, tình trạng lan truyền thông tin pháp luật sai lệch, thiếu kiểm chứng hoặc được tạo sinh bởi hệ thống trí tuệ nhân tạo đang ảnh hưởng đến hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật và quyền tiếp cận thông tin pháp luật chính xác. Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam, nghiên cứu phân tích bất cập trong kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm chính xác của thông tin pháp luật trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

(Cập nhật bởi LuatVietnam.vn)
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Tóm tắt: Mô hình chính quyền địa phương hai cấp được triển khai ở Việt Nam từ ngày 01/7/2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quá trình đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, tăng cường phân quyền, phân cấp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị địa phương. Nghiên cứu phân tích các cơ hội và thách thức trong quá trình triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam, làm rõ những vấn đề đặt ra trong hoàn thiện thể chế, bảo đảm nguồn lực và nâng cao năng lực quản trị địa phương, từ đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam thời gian tới.
Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ và Nhân dân. Tuy nhiên, trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số và hoàn thiện thể chế theo chủ trương, định hướng của Đảng, nhiều quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 bộc lộ những hạn chế, bất cập. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, tổng kết thực tiễn thi hành và bối cảnh phát triển đất nước giai đoạn mới, nghiên cứu làm rõ những bất cập về tổ chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật, đối tượng đặc thù, nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật và sự không thống nhất của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 với một số luật liên quan. Từ đó, kiến nghị sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong bối cảnh hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Tóm tắt: Việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 là cấp thiết trước yêu cầu khắc phục tình trạng tuyên truyền thiên về hình thức, chưa gắn chặt với những vấn đề pháp lý mà người dân thực sự cần được hỗ trợ. Nghiên cứu phân tích khoảng cách giữa nguyên tắc phù hợp với nhu cầu và cơ chế nhận diện, phản ánh, đáp ứng, đo lường nhu cầu pháp lý trong dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật[1] (dự thảo Luật). Trên cơ sở phân tích quy phạm, bình luận chính sách và tiếp cận liên ngành về nhu cầu pháp lý, năng lực pháp lý, tiếp cận công lý, nghiên cứu tập trung vào các quy định về nguyên tắc, nội dung, hình thức, hướng dẫn và giải đáp pháp luật, đối tượng đặc thù, giáo dục pháp luật trong cơ sở giáo dục, trách nhiệm tổ chức thực hiện, cơ chế cấp xã, chuyển đổi số và đánh giá hiệu quả. Kết quả nghiên cứu cho thấy, dự thảo Luật đã có nhiều định hướng tích cực nhưng thiếu cơ chế khảo sát nhu cầu, thiết kế nội dung theo tình huống, chuyển tuyến hỗ trợ pháp lý và đánh giá khả năng hiểu, vận dụng pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các cơ chế bảo đảm cách tiếp cận lấy nhu cầu pháp lý của người dân làm trung tâm.
Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh, mạnh mẽ của không gian mạng đang tác động sâu sắc đến đời sống xã hội, đồng thời, đặt ra nhiều rủi ro đối với người chưa thành niên. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật cho nhóm đối tượng này. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết của chuyển đổi số trong phổ biến, giáo dục pháp luật đối với người chưa thành niên; đánh giá thực trạng triển khai tại Việt Nam, chỉ ra những hạn chế, bất cập, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập

Tóm tắt: Pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập là một bộ phận của pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật, có vai trò quan trọng trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trên cơ sở làm rõ khái niệm, đặc trưng và các tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện, nghiên cứu phân tích thực trạng pháp luật hiện hành, chỉ ra những kết quả đạt được và các hạn chế. Từ đó, nghiên cứu đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Hoàn thiện pháp luật để thúc đẩy hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số cho người cao tuổi

Hoàn thiện pháp luật để thúc đẩy hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số cho người cao tuổi

Tóm tắt: Chuyển đổi số đặt ra yêu cầu cấp thiết cần đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật, nhất là đối với các nhóm đối tượng đặc thù có năng lực số hạn chế. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số trên cơ sở chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước và yêu cầu của chuyển đổi số; đánh giá thực trạng quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Thông qua trường hợp cảnh báo về “hợp đồng kỳ nghỉ”, nghiên cứu làm rõ những hạn chế trong việc tiếp cận thông tin pháp luật của người cao tuổi trên môi trường số, từ đó, chỉ ra những bất cập của pháp luật hiện hành. Trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm quốc tế, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các quy định pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số.

Theo dõi chúng tôi trên: