Thứ tư 16/09/2026 16:18
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Hòa giải ở cơ sở số 16/2026/QH16. Luật gồm 05 chương, 35 điều, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/3/2027. Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương phát triển thiết chế giải quyết tranh chấp ngoài Tòa án, tăng cường chuyển đổi số, huy động nguồn lực xã hội, bảo đảm nguyên tắc tự nguyện, tự quyết. Đồng thời, khắc phục những vướng mắc của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013; bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật và kế thừa các quy định còn phù hợp, hiệu quả. Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 bổ sung hai nguyên tắc tổ chức, hoạt động hòa giải ở cơ sở; thiết lập hành lang pháp lý vững chắc về bảo mật thông tin; xác định rõ hơn trách nhiệm của cơ quan nhà nước trong bảo đảm nguồn lực cho công tác hòa giải ở cơ sở; mở rộng quyền lựa chọn hòa giải viên, đổi mới phương thức bầu hòa giải viên; tăng cường giá trị của hòa giải cơ sở gắn với quyền yêu cầu Tòa án ra quyết định công nhận kết quả hòa giải thành[1].

Linh hoạt hơn trong tổ chức, hoạt động hòa giải

Một trong những điểm mới của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 (Luật năm 2026) là bổ sung 02 nguyên tắc về tổ chức, hoạt động hòa giải ở cơ sở, qua đó tạo cơ sở để hoạt động hòa giải được tiến hành linh hoạt hơn, phù hợp với điều kiện thực tế và đặc điểm của từng vụ, việc.

Theo đó, khoản 6 Điều 4 Luật năm 2026 quy định, hoạt động hòa giải ở cơ sở được tiến hành linh hoạt, thuận lợi cho các bên, phù hợp với tình hình thực tế, đặc điểm của từng vụ, việc hòa giải. Quy định này thể hiện rõ yêu cầu không áp dụng một cách cứng nhắc phương thức hòa giải đối với mọi trường hợp mà cần căn cứ vào tính chất vụ việc, điều kiện của các bên và đặc điểm cụ thể tại địa bàn.

Cùng với đó, khoản 7 Điều 4 Luật bổ sung quy định: Tiếng nói, chữ viết dùng trong hòa giải là tiếng Việt; các bên có quyền sử dụng tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình. Trường hợp các bên là người khuyết tật nghe, nói hoặc khuyết tật nhìn thì được hỗ trợ để sử dụng ngôn ngữ ký hiệu, chữ dành riêng cho người khuyết tật.

Như vậy, quy định mới không chỉ làm rõ hơn cách thức tổ chức hòa giải mà còn hướng tới bảo đảm để các bên có thể tham gia đầy đủ, bình đẳng và thuận lợi vào quá trình giải quyết mâu thuẫn, tranh chấp.

Tạo hành lang pháp lý về bảo mật thông tin

Trong bối cảnh hoạt động hòa giải ngày càng được đổi mới và gắn với ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, vấn đề bảo mật thông tin được Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đặt ra một cách rõ ràng hơn. Luật bổ sung một điều riêng quy định về bảo mật thông tin trong công tác hòa giải (Điều 5). Theo đó, hòa giải viên, các bên và những người có liên quan có trách nhiệm bảo mật thông tin mà mình biết được trong quá trình hòa giải.

Việc luật hóa yêu cầu bảo mật thông tin có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên, đồng thời tạo dựng sự yên tâm, tin tưởng khi người dân lựa chọn hòa giải để giải quyết những mâu thuẫn, tranh chấp phát sinh trong đời sống. Đây cũng là yêu cầu phù hợp với quá trình chuyển đổi số, khi thông tin liên quan đến vụ việc hòa giải có thể được tiếp nhận, trao đổi và lưu trữ dưới nhiều hình thức khác nhau.

Xác định rõ hơn trách nhiệm của Nhà nước trong bảo đảm nguồn lực

Một điểm mới quan trọng của Luật năm 2026 là tại khoản 1 Điều 7 xác định rõ: “Nhà nước bảo đảm kinh phí cho công tác hòa giải ở cơ sở từ nguồn ngân sách nhà nước”.

Quy định này nhằm tăng cường trách nhiệm của các cấp chính quyền trong việc bảo đảm nguồn lực cho công tác hòa giải, đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động hòa giải ở cơ sở. Thực tiễn thời gian qua cho thấy, tại một số địa phương, công tác này chưa được quan tâm đúng mức, việc bố trí kinh phí còn hạn chế, ảnh hưởng nhất định đến điều kiện hoạt động của các tổ hòa giải và hòa giải viên.

Trong khi đó, hòa giải ở cơ sở là một trong những phương thức góp phần giải quyết mâu thuẫn, tranh chấp ngay từ cộng đồng, hạn chế phát sinh các vụ việc phức tạp. Vì vậy, việc xác định rõ trách nhiệm của Nhà nước trong bảo đảm kinh phí có ý nghĩa thiết thực, tạo nền tảng để công tác này được quan tâm, đầu tư tương xứng hơn trong thời gian tới.

Mở rộng nguồn lựa chọn và đổi mới phương thức bầu hòa giải viên

Để đáp ứng yêu cầu thực tiễn và tạo điều kiện thuận lợi cho địa phương trong việc xây dựng đội ngũ hòa giải viên, Luật năm 2026 có những thay đổi đáng chú ý về nguồn lựa chọn và phương thức bầu hòa giải viên.

Theo Điều 8 Luật năm 2026, hòa giải viên phải là người cư trú tại cơ sở, bao gồm cả người thường trú và người tạm trú, thay vì chỉ quy định là người “thường trú tại cơ sở” như Luật năm 2013. Cách quy định này mở rộng nguồn nhân lực có thể tham gia công tác hòa giải, phù hợp hơn với sự biến động về dân cư và điều kiện sinh sống tại các địa phương hiện nay.

Bên cạnh đó, tiêu chuẩn của hòa giải viên cũng được nâng lên. Người được lựa chọn phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ và không thuộc các trường hợp đang trong thời hạn xử lý kỷ luật, thi hành quyết định xử lý kỷ luật; đang trong thời gian bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính; bị truy cứu trách nhiệm hình sự; đang chấp hành án hình sự hoặc chưa được xóa án tích.

Đáng chú ý, trước yêu cầu tổ chức lại đơn vị hành chính, mở rộng thôn, tổ dân phố và trong bối cảnh công nghệ số ngày càng được ứng dụng rộng rãi, Luật bổ sung hình thức bầu hòa giải viên thông qua biểu quyết trực tuyến. Việc bầu có thể được thực hiện tại từng cụm dân cư; địa phương được chủ động quyết định hình thức bầu và có thể kết hợp các hình thức bầu hòa giải viên.

Quy định này tạo thêm sự linh hoạt cho cơ sở, đồng thời mở ra khả năng ứng dụng công nghệ trong một khâu quan trọng của tổ chức hòa giải ở cơ sở.

Có cơ chế chỉ định hòa giải viên để kịp thời kiện toàn tổ hòa giải

Bên cạnh việc đổi mới phương thức bầu, Luật còn thiết lập cơ chế chỉ định hòa giải viên. Đây là quy định mới nhằm xử lý trường hợp việc bầu hòa giải viên không đủ số lượng, không đủ thành phần theo quy định hoặc không thể tổ chức bầu do sự kiện bất khả kháng. Theo đó, người được công nhận làm hòa giải viên theo phương thức chỉ định phải được đưa ra bầu trong thời hạn 03 năm kể từ ngày được công nhận (khoản 3 Điều 11).

Cách thiết kế này vừa bảo đảm tính kịp thời trong việc kiện toàn tổ hòa giải, vừa duy trì nguyên tắc dân chủ, khách quan, minh bạch và phát huy sự tín nhiệm của cộng đồng đối với hòa giải viên. Đây cũng là giải pháp nhằm khắc phục tình trạng thiếu hòa giải viên có thể ảnh hưởng đến việc duy trì hoạt động hòa giải tại cơ sở.

Huy động tốt hơn nguồn lực xã hội tham gia hỗ trợ hòa giải

Thực tiễn cho thấy, bên cạnh hòa giải viên, nhiều cá nhân có uy tín, có kiến thức và kinh nghiệm phù hợp có thể đóng góp tích cực vào quá trình hòa giải. Điều 19 Luật năm 2026 vì vậy quy định rõ hơn cơ chế huy động những người được mời tư vấn, hỗ trợ hòa giải viên hoặc trực tiếp tham gia quá trình hòa giải.

Các quy định cụ thể về quyền và nghĩa vụ của người được mời tham gia hòa giải nhằm động viên, khuyến khích và nâng cao trách nhiệm của nhóm đối tượng này đối với công tác hòa giải ở cơ sở.

Đáng chú ý, người được mời trực tiếp tham gia hòa giải có quyền được hưởng thù lao theo vụ, việc khi tiến hành hòa giải theo quy định của pháp luật; đồng thời được hỗ trợ, tạo điều kiện để khắc phục hậu quả nếu gặp tai nạn hoặc rủi ro ảnh hưởng đến sức khỏe, tính mạng trong khi thực hiện hoạt động hòa giải (Điều 20).

Quy định mới góp phần tạo cơ chế rõ ràng hơn để huy động nguồn lực xã hội, qua đó hỗ trợ hòa giải viên xử lý tốt hơn những vụ việc đòi hỏi kiến thức, kinh nghiệm hoặc sự tham gia của những người có uy tín trong cộng đồng.

Bảo đảm mọi chủ thể đều có cơ hội tiếp cận hòa giải

Một nội dung đáng chú ý khác là Luật thiết lập cơ chế nhằm bảo đảm các chủ thể có quyền lựa chọn hòa giải ở cơ sở để giải quyết tranh chấp đều được đáp ứng về ngôn ngữ (Điều 22).

Theo đó, lần đầu tiên Luật quy định các bên là người dân tộc thiểu số có quyền sử dụng tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình; các bên là người khuyết tật có quyền sử dụng ngôn ngữ ký hiệu, chữ dành riêng cho người khuyết tật. Trường hợp các bên và hòa giải viên không hiểu ngôn ngữ của nhau thì cần có người phiên dịch; các bên có quyền lựa chọn, đề xuất, đề nghị thay đổi người phiên dịch.

Quy định này vừa thể hiện sự cụ thể hóa trách nhiệm của Nhà nước đối với thiết chế hòa giải ở cơ sở, vừa góp phần bảo đảm quyền con người, quyền công dân, tạo điều kiện để các bên thực sự tham gia vào quá trình hòa giải và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình.

Tạo cơ sở pháp lý cho chuyển đổi số trong công tác hòa giải

Chuyển đổi số là một trong những nội dung mới được Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đặt ra trực tiếp.

Lần đầu tiên, Luật tạo cơ sở pháp lý cho việc ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong công tác hòa giải ở cơ sở. Đây không chỉ là bước đổi mới phù hợp với yêu cầu phát triển hiện nay mà còn trao quyền chủ động cho địa phương, hòa giải viên và người dân trong việc lựa chọn hình thức ứng dụng công nghệ phù hợp.

Theo đó, có thể xem xét ứng dụng công nghệ thông tin trong việc bầu hòa giải viên, tổ chức hòa giải trực tuyến, ghi sổ theo dõi hoạt động hòa giải và các hoạt động có liên quan (Điều 26).

Đồng thời, việc thúc đẩy chuyển đổi số được đặt song song với yêu cầu bảo mật thông tin. Điều này giúp bảo đảm quá trình hiện đại hóa hoạt động hòa giải không làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia.

Tăng giá trị của kết quả hòa giải thành

Một điểm mới có ý nghĩa trong việc nâng cao giá trị của hoạt động hòa giải là Luật năm 2026 ghi nhận quyền của các bên yêu cầu Tòa án nhân dân có thẩm quyền công nhận kết quả hòa giải thành theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Quy định này tạo thêm cơ chế để kết quả hòa giải thành được bảo đảm bằng một thiết chế pháp lý có thẩm quyền, qua đó góp phần tăng tính ràng buộc của thỏa thuận và củng cố niềm tin của người dân đối với hòa giải ở cơ sở (Điều 30).

Bên cạnh đó, việc ghi nhận quyền yêu cầu Tòa án công nhận kết quả hòa giải thành cũng thể chế hóa chủ trương phát triển các thiết chế giải quyết tranh chấp ngoài Tòa án, khuyến khích người dân lựa chọn những phương thức giải quyết tranh chấp phù hợp ngay từ cơ sở.

Chuyển từ giải quyết mâu thuẫn sang chủ động phòng ngừa nguy cơ

Nếu như hoạt động hòa giải lâu nay chủ yếu được nhìn nhận dưới góc độ giải quyết những mâu thuẫn, tranh chấp đã phát sinh thì Luật năm 2026 thể hiện rõ hơn yêu cầu chủ động phòng ngừa nguy cơ phát sinh hậu quả. Lần đầu tiên, Luật quy định nghĩa vụ phối hợp của hòa giải viên và chính quyền cơ sở trong việc nhận diện, ngăn ngừa sớm những mâu thuẫn có nguy cơ dẫn đến bạo lực, hành vi vi phạm pháp luật, ảnh hưởng đến tính mạng, sức khỏe con người (Điều 13).

Đây là sự thay đổi đáng chú ý về tư duy trong công tác hòa giải ở cơ sở. Thay vì chỉ tập trung xử lý khi mâu thuẫn đã phát sinh, hoạt động hòa giải được đặt trong yêu cầu chủ động nhận diện, can thiệp và phòng ngừa từ sớm những nguy cơ có thể dẫn đến hậu quả nghiêm trọng. Qua đó, vai trò của hòa giải viên và chính quyền cơ sở không chỉ dừng ở việc hỗ trợ các bên giải quyết tranh chấp mà còn góp phần giữ gìn an ninh, trật tự, phòng ngừa vi phạm pháp luật, bảo vệ tính mạng, sức khỏe của người dân ngay từ cộng đồng.

Tạo nền tảng để hòa giải thực sự phát huy vai trò từ cơ sở

Có thể thấy, các quy định mới của Luật năm 2026 tập trung vào những vấn đề có tính nền tảng đối với hoạt động hòa giải, từ đội ngũ hòa giải viên, nguồn lực bảo đảm, phương thức tổ chức, cơ chế huy động sự tham gia của cộng đồng đến bảo mật thông tin, chuyển đổi số và giá trị pháp lý của kết quả hòa giải thành.

Điểm đáng chú ý là các nội dung này không được thiết kế tách rời mà có sự liên kết với nhau, cùng hướng tới mục tiêu nâng cao chất lượng, hiệu quả của hòa giải ở cơ sở và tạo điều kiện để người dân tiếp cận, lựa chọn phương thức giải quyết mâu thuẫn, tranh chấp phù hợp.

Với việc tiếp tục hoàn thiện thể chế về hòa giải ở cơ sở, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 được kỳ vọng tạo cơ sở pháp lý để hoạt động hòa giải phát huy tốt hơn vai trò giải quyết mâu thuẫn, tranh chấp từ sớm, từ cơ sở; củng cố đoàn kết cộng đồng, phòng ngừa vi phạm pháp luật và góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật ngay tại cơ sở.

[1]. DiLi (2026), Công bố 15 Luật được thông qua tại Kỳ họp không thường lệ lần thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, https://danchuphapluat.vn/cong-bo-15-luat-duoc-thong-qua-tai-ky-hop-khong-thuong-le-lan-thu-nhat-quoc-hoi-khoa-xvi-10303.html, ngày đăng tải ngày 10/9/2026.

Ảnh: quochoi.vn

Linh Đan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Khoảng trống pháp lý về ly thân tại Việt Nam - Thực trạng và một số kiến nghị hoàn thiện

Khoảng trống pháp lý về ly thân tại Việt Nam - Thực trạng và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Phản ánh mức độ can thiệp của Nhà nước vào quan hệ hôn nhân và gia đình, ly thân pháp lý cấu thành cơ chế mà theo đó, các bên vợ chồng được phép sống riêng nhưng vẫn duy trì giá trị pháp lý của hôn nhân, gắn với các quyền và nghĩa vụ được xác định rõ ràng. Tại Việt Nam, dù trở thành hiện tượng xã hội phổ biến, song, ly thân hiện chưa được pháp luật điều chỉnh, làm cho các quyền và nghĩa vụ về nhân thân, tài sản của vợ chồng trong thời gian ly thân thiếu căn cứ pháp lý để xác định. Khoảng trống pháp lý này tiềm ẩn nguy cơ xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của các bên liên quan, cũng như của chủ thể thứ ba do thiếu biện pháp pháp lý bảo đảm tương xứng. Nghiên cứu phân tích, làm rõ khoảng trống pháp lý thông qua các số liệu thực tế, kinh nghiệm quốc tế và nền tảng lý luận về quyền con người, từ đó, đề xuất xây dựng chế định ly thân trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Nâng cao hiệu quả công tác tổ chức cán bộ thi hành án dân sự thời kỳ chuyển đổi số

Nâng cao hiệu quả công tác tổ chức cán bộ thi hành án dân sự thời kỳ chuyển đổi số

Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tiến trình chuyển đổi số quốc gia, công tác tổ chức cán bộ tại các cơ quan Thi hành án dân sự (THADS) đóng vai trò then chốt quyết định hiệu lực, hiệu quả thực thi pháp luật. Sự ra đời của Luật Cán bộ, công chức năm 2025, Nghị định số 170/2025/NĐ-CP ngày 30/6/2025 của Chính phủ quy định về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức (Nghị định số 170/2025/NĐ-CP) và đặc biệt là Luật Thi hành án dân sự năm 2025 (có hiệu lực từ ngày 01/7/2026) đã tạo một khung pháp lý mới với những thay đổi mang tính đột phá. Hệ thống THADS phải có những bước chuyển mình mạnh mẽ trong công tác tuyển dụng, sắp xếp bộ máy, đánh giá và quản trị nguồn nhân lực. Bài viết phân tích thực trạng chất lượng công chức thông qua dữ liệu thực tiễn tại tỉnh Khánh Hòa tính đến tháng 5/2026, từ đó đề xuất các giải pháp trọng tâm nhằm xây dựng đội ngũ công chức THADS chuyên nghiệp, hiện đại, đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

Du lịch xanh, du lịch bền vững đã trở thành xu hướng phổ biến tại Việt Nam, nhưng để tiến tới mục tiêu "du lịch Net Zero", ngành Du lịch cần có nhiều thay đổi theo chiều sâu: từ việc xây dựng những sản phẩm xanh sang xây dựng những doanh nghiệp lữ hành thực sự bền vững. Đây là cả một quá trình bởi phát triển "du lịch Net Zero" không chỉ liên quan đến môi trường mà còn đòi hỏi sự thay đổi đồng bộ về mô hình kinh doanh, sản phẩm, công nghệ, nhân lực, quan hệ với cộng đồng và cách thức ứng xử với các giá trị văn hóa.
Hoàn thiện pháp luật về nhận biết, thu thập, cập nhật và xác minh thông tin khách hàng trong hoạt động phòng, chống rửa tiền của ngân hàng thương mại

Hoàn thiện pháp luật về nhận biết, thu thập, cập nhật và xác minh thông tin khách hàng trong hoạt động phòng, chống rửa tiền của ngân hàng thương mại

Tóm tắt: Trong hoạt động phòng, chống rửa tiền, nghĩa vụ nhận biết khách hàng của ngân hàng thương mại được đặt trong nhóm nghĩa vụ phòng ngừa tội phạm tài chính. Tính phòng ngừa thể hiện ở việc ngân hàng phải chủ động nhận diện nguy cơ ngay từ trước khi giao dịch phát sinh rủi ro. Hoạt động thu thập, cập nhật và xác minh thông tin khách hàng không chỉ để nhận biết khách hàng, mà còn nhằm phát hiện khả năng ngân hàng bị lợi dụng để thực hiện hành vi rửa tiền. Nghiên cứu phân tích làm rõ vai trò của hoạt động nhận biết thông tin khách hàng; chỉ ra một số hạn chế trong quy định pháp luật về nhận biết, cập nhật và xác minh thông tin khách hàng của ngân hàng thương mại; từ đó, kiến nghị hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật.
Nguyên tắc xác định sự thật của vụ án - Lịch sử hình thành, phát triển và định hướng hoàn thiện

Nguyên tắc xác định sự thật của vụ án - Lịch sử hình thành, phát triển và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Xác định sự thật của vụ án là nguyên tắc cơ bản, chi phối hoạt động của tất cả các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong các giai đoạn của tố tụng hình sự. Nguyên tắc này đã xác lập mục đích, hành lang pháp lý cho hoạt động của các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Nghiên cứu phân tích, làm rõ quá trình hình thành và phát triển của nguyên tắc xác định sự thật của vụ án trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam, đánh giá những bất cập, hạn chế trong các quy định liên quan đến nguyên tắc này, từ đó, đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

Du lịch Việt Nam đang đứng trước một giai đoạn phát triển mới, trong đó yêu cầu tăng trưởng không thể tách rời nhiệm vụ bảo tồn và phát huy những giá trị làm nên bản sắc dân tộc. Nếu thiên nhiên tạo nên diện mạo của đất nước thì văn hóa chính là chiều sâu, là ký ức, là “hồn cốt” để Việt Nam trở thành một điểm đến khác biệt trong mắt du khách trong nước và quốc tế. Bởi vậy, phát triển du lịch hôm nay không chỉ là câu chuyện về lượng khách, doanh thu hay số lượng cơ sở lưu trú, mà còn là câu chuyện về cách gìn giữ di sản, bảo vệ cảnh quan, duy trì lối sống cộng đồng và trao truyền những giá trị văn hóa Việt Nam cho các thế hệ mai sau. Trong câu chuyện đó, doanh nghiệp lữ hành đóng vai trò trung tâm, là “cầu nối” đưa văn hoá Việt Nam đến với du khách.
Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.
Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Với mục tiêu đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thành phố Hà Nội đặt trọng tâm vào đổi mới nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật, tăng cường ứng dụng công nghệ số và xây dựng đội ngũ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật am hiểu địa bàn, phong tục, tập quán và văn hóa của người dân nơi đây.

Theo dõi chúng tôi trên: