Từ khóa: xác định sự thật; vụ án; tố tụng hình sự.
Nhận bài: 26/8/2025 Hoàn thành biên tập: 13/5/2026 Duyệt đăng: 18/5/2026
PRINCIPLES FOR DETERMINING THE TRUTH OF A CASE - HISTORY OF FORMATION, DEVELOPMENT, AND ORIENTATION FOR IMPROVEMENT
Abstract: Determining the truth of a case is a fundamental principle that governs the activities of all competent authorities conducting criminal proceedings at all stages. This principle has established the purpose and legal framework for the activities of competent authorities conducting criminal proceedings. This study analyzes and clarifies the formation and development of the principle of determining the truth of a case in Vietnamese criminal procedural law, assesses the shortcomings and limitations in the regulations related to this principle, and proposes some directions for improving the law.
Keywords: Determining the truth; case; criminal proceedings.
Article received: 26/8/2025 Editing completed: 13/5/2026 Approved for publication: 18/5/2026
Đặt vấn đề
Xác định sự thật của vụ án là giai đoạn đầu tiên của hoạt động áp dụng pháp luật, là hoạt động bắt buộc phải tiến hành trong quá trình tố tụng, bởi đó là cơ sở quan trọng để giải quyết vụ án đúng pháp luật. Do đó, xác định sự thật của vụ án được quy định là nguyên tắc cơ bản trong tố tụng hình sự Việt Nam từ Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988. Trải qua quá trình phát triển, nguyên tắc này tiếp tục được ghi nhận trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 và nay là Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung các năm 2021, 2025 (Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015). Điều này không chỉ thể hiện ý nghĩa quan trọng của nguyên tắc, mà còn khẳng định giá trị thực tiễn và sự phù hợp của nguyên tắc với tình hình chính trị, kinh tế, xã hội hiện nay. Nguyên tắc này giữ vai trò quan trọng trong định hướng hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng và các chủ thể tiến hành tố tụng, bảo đảm hoạt động tố tụng đạt được mục đích xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
1. Quá trình hình thành và phát triển của nguyên tắc xác định sự thật của vụ án trong tố tụng hình sự Việt Nam
Quá trình hình thành và phát triển của nguyên tắc xác định sự thật của vụ án trong tố tụng hình sự Việt Nam trải qua hai giai đoạn chính, gồm:
1.1. Giai đoạn trước khi ban hành Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015
Trong thời kỳ từ năm 1958 đến trước khi ban hành Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988, những nguyên tắc chung của thủ tục tố tụng hình sự được đề cập trong Hiến pháp năm 1959 và một số văn bản pháp luật như Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 1960, Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1960, Thông tư số 556-TTg ngày 24/12/1958 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường sự lãnh đạo đối với việc bắt giữ, truy tố và xét xử… Mặc dù nguyên tắc xác định sự thật của vụ án chưa được quy định nhưng các văn bản pháp luật trên đã đề cập đến nhiệm vụ của cơ quan công an, Viện kiểm sát và Tòa án trong giải quyết vụ án[1]. Có thể thấy, trong thời kỳ này, nguyên tắc xác định sự thật của vụ án chỉ được xem xét ở những khía cạnh nhất định. Những nội dung căn bản, cốt lõi nhất của nguyên tắc xác định sự thật của vụ án chưa được thể hiện rõ trong quy định pháp luật.
Nguyên tắc xác định sự thật của vụ án lần đầu được ghi nhận trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988. Sự hình thành nguyên tắc xác định sự thật của vụ án là cơ sở nền tảng giải quyết vụ án khách quan, công bằng. Nguyên tắc này có nguồn gốc từ Điều 20 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1961 của Liên bang Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô Viết: “Tòa án, kiểm sát trưởng, trinh tra viên và điều tra viên có nhiệm vụ áp dụng mọi biện pháp mà luật pháp đã quy định để điều tra những tình tiết của vụ án một cách toàn diện, đầy đủ và khách quan, làm sáng tỏ cả những tình tiết chứng minh bị can có tội và cả những tình tiết chứng minh bị can vô tội, cũng như là những tình tiết tăng nặng tội và giảm nhẹ tội cho bị can. Tòa án, kiểm sát trưởng, trinh tra viên và điều tra viên không có quyền chuyển trách nhiệm chứng minh cho bị can. Cấm bức cung đối với bị can bằng bạo lực, đe dọa hoặc bằng mọi biện pháp phi pháp khác”[2].
Từ sự tương đồng giữa mô hình tố tụng của nước Nga Xô Viết và Việt Nam đều là mô hình thẩm vấn với mục đích tìm ra sự thật và đạt được sự công bằng trong tố tụng[3]. Điều 11 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988 của Việt Nam quy định: “Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án phải áp dụng mọi biện pháp hợp pháp để xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ, làm rõ những chứng cứ xác định có tội và chứng cứ xác định vô tội, những tình tiết tăng nặng và những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm của bị can, bị cáo. Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc các cơ quan tiến hành tố tụng. Bị can, bị cáo có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội”.
Nguyên tắc xác định sự thật của vụ án được tái khẳng định trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, là minh chứng rõ nét giá trị và sự phù hợp của nguyên tắc với mô hình tố tụng hình sự Việt Nam. Nguyên tắc xác định sự thật của vụ án nằm trong hệ tư tưởng chính trị pháp luật tố tụng hình sự xã hội chủ nghĩa, vốn đề cao yếu tố công, bảo vệ lợi ích công, vai trò, trách nhiệm trước hết thuộc về cơ quan công quyền hướng đến mục tiêu xử lý kiên quyết và triệt để mọi hành vi phạm tội, đòi hỏi sự bình đẳng và đi đến tận cùng sự thật[4]. Nội dung nguyên tắc thể hiện trên ba khía cạnh cơ bản:
Thứ nhất, chủ thể có nghĩa vụ xác định sự thật của vụ án.
Theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988 và Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, chủ thể có nghĩa vụ xác định sự thật của vụ án là cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án. Thẩm quyền giải quyết vụ án hình sự ở Việt Nam thuộc về Nhà nước. Nhà nước trao quyền cho các cơ quan tiến hành tố tụng. Điều này phù hợp với mô hình tố tụng hình sự thẩm vấn - tiếp cận theo quan điểm tố tụng hình sự chủ yếu là quan hệ công quyền, trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan công quyền[5]. Các cơ quan tiến hành tố tụng có nghĩa vụ chứng minh nhưng do chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan tiến hành tố tụng khác nhau nên ở mỗi giai đoạn, các cơ quan có phạm vi trách nhiệm chứng minh khác nhau. Trách nhiệm chứng minh trong tố tụng hình sự được hiểu là trách nhiệm thu thập, kiểm tra, nghiên cứu, đánh giá mọi chứng cứ nhằm làm rõ nội dung, tính chất của sự việc xảy ra, trên cơ sở đó, ra quyết định phù hợp theo đúng chức năng, thẩm quyền pháp luật quy định.
Thứ hai, chủ thể có quyền chứng minh vô tội.
Điều 11 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988 và Điều 10 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 quy định: “Bị can, bị cáo có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội”. Cơ quan tiến hành tố tụng khẳng định một người phạm tội thì phải có nghĩa vụ chứng minh. Bị can, bị cáo có quyền chứng minh mình vô tội, họ có thể dùng quyền này bảo vệ mình, mà không có nghĩa vụ chứng minh. Bị can, bị cáo là người đã bị khởi tố về hình sự và có thể bị áp dụng biện pháp ngăn chặn, họ thường không có khả năng và điều kiện phát hiện, thu thập chứng cứ. Trong khi cơ quan tiến hành tố tụng có đầy đủ khả năng và thẩm quyền để thực hiện thu thập, đánh giá các chứng cứ. Mặt khác, nếu giao nghĩa vụ chứng minh cho bị can, bị cáo, tức là đặt họ vào thế bất lợi, họ sẽ bị coi là phạm tội nếu không đưa ra được các chứng cứ chứng minh mình vô tội.
Thứ ba, yêu cầu của việc xác định sự thật của vụ án.
Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988 và Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 đưa ra yêu cầu việc xác định sự thật của vụ án phải hợp pháp, khách quan, toàn diện, đầy đủ. Sự kế thừa của các Bộ luật Tố tụng hình sự là minh chứng rõ nét tính khoa học, hợp lý của nội dung trên. Cụ thể:
(i) Việc xác định sự thật của vụ án phải hợp pháp. Yêu cầu hợp pháp được hiểu là những biện pháp do các cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng để xác định sự thật của vụ án phải được Bộ luật Tố tụng hình sự quy định và việc áp dụng các biện pháp này phải tuân thủ trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng hình sự quy định. Để bảo đảm xác định sự thật hợp pháp, hoạt động thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ phải bảo đảm tính hợp pháp. Theo đó, chứng cứ phải được thu thập theo trình tự, thủ tục và từ những phương tiện chứng minh do luật định và phải được kiểm tra, đánh giá bằng những biện pháp do luật định, đúng trình tự, thủ tục.
(ii) Việc xác định sự thật của vụ án phải bảo đảm yêu cầu khách quan, tức là đánh giá chính xác nội dung, bản chất pháp lý của vụ án, không suy diễn, không định kiến. Vụ án hình sự với tư cách là hiện tượng vật chất, bản thân nó tồn tại khách quan, độc lập với ý thức con người. Trong khi xác định sự thật của vụ án là hoạt động của những người tiến hành tố tụng để nhận thức được bản chất pháp lý của vụ án hình sự đã xảy ra. Việc này đòi hỏi các chủ thể chứng minh phải xác định đúng các tài liệu, thông tin có thật, có liên quan đến vụ việc, có thể trở thành chứng cứ. Sau đó, các chủ thể tiến hành tố tụng phải nghiên cứu, đánh giá các chứng cứ trên cơ sở tôn trọng sự thật, nhìn nhận sự vật, hiện tượng đúng như thực tế khách quan, không suy diễn, tưởng tượng, định kiến để cố tình đánh giá sai bản chất của sự vật, hiện tượng.
(iii) Việc xác định sự thật của vụ án phải bảo đảm toàn diện, nghĩa là xem xét tất cả các mặt, cả buộc tội và gỡ tội. Trong tố tụng hình sự đòi hỏi về tính toàn diện được thể hiện cụ thể trong quy định về những vấn đề cần chứng minh trong vụ án hình sự. Đây là những vấn đề mang tính bắt buộc chung đối với mọi vụ án hình sự. Ngoài ra, tùy từng vụ án cụ thể, những tình tiết khác có ý nghĩa đối với việc giải quyết đúng đắn vụ án hình sự cũng là vấn đề cần chứng minh.
(iv) Việc xác định sự thật của vụ án phải đầy đủ. Xác định sự thật của vụ án là quá trình tiếp cận chân lý của vụ án. Sự thật được xác định trong vụ án là sự thật tương đối. Pháp luật không đòi hỏi các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải làm rõ mọi tình tiết của vụ án ở mức độ chi tiết và chính xác tuyệt đối mà chỉ ở những tình tiết với mức độ đủ để khẳng định chắc chắn trên thực tế đã xảy ra tội phạm và có người cụ thể đã thực hiện hành vi đó. Sự thật của vụ án được coi là đầy đủ khi đạt đến giới hạn chứng minh: “Giới hạn chứng minh là tổng hợp những chứng cứ khác nhau, đủ và cần thiết cho việc giải quyết vụ án được đúng đắn”[6].
1.2. Giai đoạn từ khi ban hành Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đến nay
Trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, nguyên tắc xác định sự thật của vụ án một lần nữa được khẳng định và hoàn thiện, phù hợp với sự phát triển của xã hội và đòi hỏi của công cuộc cải cách tư pháp. Cụ thể:
Thứ nhất, về chủ thể có nghĩa vụ xác định sự thật của vụ án.
Trên thực tế, quá trình giải quyết vụ án hình sự, không chỉ cơ quan tiến hành tố tụng tham gia xác định sự thật của vụ án mà các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành điều tra như bộ đội biên phòng, hải quan, kiểm lâm, cảnh sát biển, kiểm ngư, cơ quan khác thuộc công an nhân dân, quân đội nhân dân cũng tham gia vào tiến trình đó. Do đó, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 mở rộng phạm vi chủ thể xác định sự thật của vụ án. Theo đó, chủ thể xác định sự thật của vụ án là cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, gồm cơ quan tiến hành tố tụng và các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành hoạt động điều tra.
Thứ hai, về chủ thể có quyền chứng minh vô tội.
Hiến pháp năm 2013 đánh dấu bước tiến quan trọng trong bảo đảm quyền con người của người bị buộc tội khi lần đầu quy định quyền của người bị buộc tội tại Điều 31. Cụ thể hóa quy định Hiến pháp năm 2013, (sửa đổi, bổ sung năm 2025), Điều 4 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 giải thích thuật ngữ về người bị buộc tội như sau: “Người bị buộc tội gồm người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo”. Đồng thời, Điều 15 quy định nguyên tắc xác định sự thật của vụ án như sau: “Người bị buộc tội có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội”. Người bị buộc tội là người bị nghi ngờ là đã thực hiện hành vi phạm tội, họ có quyền nhưng không buộc phải đưa ra các bằng chứng, lý lẽ để chứng minh là họ không có tội mà việc chứng minh nghi ngờ đó phải thuộc về bên đã buộc tội họ. So với Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, phạm vi chủ thể có quyền nhưng không buộc phải chứng minh vô tội đã được mở rộng, gồm người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo.
2. Một số bất cập, hạn chế trong quy định liên quan đến nguyên tắc xác định sự thật của vụ án
Quy định nguyên tắc xác định sự thật của vụ án trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 tương đối đầy đủ, rõ ràng. Thực tiễn tố tụng cho thấy, quy định này góp phần tạo nền tảng bảo đảm tính khách quan, công bằng và đúng pháp luật trong hoạt động tố tụng. Tuy nhiên, quy định liên quan đến nguyên tắc xác định sự thật của vụ án còn tồn tại một số bất cập, hạn chế sau:
Thứ nhất, về nội dung nguyên tắc.
Điều 15 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định người bị buộc tội có quyền chứng minh vô tội là chưa thực sự hợp lý, bởi đây là nội dung của nguyên tắc suy đoán vô tội. Bên cạnh đó, việc dùng thuật ngữ “chứng minh” trong trường hợp này cũng không đúng. Người bị buộc tội có quyền cung cấp chứng cứ, có quyền tranh luận với bên buộc tội để gỡ tội cho mình. Đây là quyền đưa ra chứng cứ, đưa yêu cầu và tranh luận nhằm chứng minh mình vô tội (chứng minh là mục đích không phải hoạt động) không phải với nghĩa tương đương với từ chứng minh trong cụm từ “trách nhiệm chứng minh” của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
Thứ hai, về các chế định có liên quan đến nguyên tắc xác định sự thật của vụ án.
Nguyên tắc xác định sự thật của vụ án không chỉ được quy định tại Điều 15 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, mà còn được thể hiện xuyên suốt trong các quy định, chế định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam như chứng cứ và chứng minh, chủ thể tiến hành và tham gia tố tụng, quyền hạn và nhiệm vụ của các cơ quan tiến hành tố tụng. Cụ thể:
(i) Các quy định về chứng cứ, chứng minh.
Quá trình xác định sự thật của vụ án là quá trình cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án làm rõ bản chất của vụ án hình sự đã xảy ra. Vụ án hình sự là sự kiện đã xảy ra trong quá khứ, muốn hình dung, tái hiện được diễn biến để tìm ra bản chất, cơ quan tiến hành tố tụng phải dựa vào chứng cứ. Chứng cứ là phương tiện để cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án xác định sự thật khách quan của vụ án[7]. Do đó, việc quy định rõ ràng, chính xác các vấn đề cần chứng minh, chứng cứ, hoạt động thu thập, đánh giá chứng cứ và các nguồn chứng cứ có ý nghĩa quan trọng để bảo đảm quá trình xác định sự thật của vụ án được thực hiện khách quan, toàn diện và đầy đủ.
Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 chưa quy định quyền thu thập chứng cứ của người bị buộc tội, trong khi người bị buộc tội là chủ thể của quyền bào chữa. Việc quy định quyền thu thập chứng cứ cho người bị buộc tội là đòi hỏi khách quan nhằm mục đích bác bỏ, phủ nhận sự buộc tội của cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc để giảm nhẹ tội của mình. Việc chưa quy định quyền này có thể dẫn đến hạn chế khả năng tìm kiếm chứng cứ, thông tin, tài liệu có lợi cho việc gỡ tội hoặc làm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, từ đó, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội. Điều này cũng có thể dẫn đến thiếu công bằng, bình đẳng giữa bên buộc tội và gỡ tội trong tố tụng hình sự.
(ii) Các quy định về quyền hạn, nhiệm vụ của các chủ thể tiến hành và tham gia tố tụng.
Nội dung nguyên tắc xác định sự thật của vụ án khẳng định chủ thể có nghĩa vụ xác định sự thật của vụ án là cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án. Nếu chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan tiến hành tố tụng không rõ ràng, cụ thể, có thể dẫn đến chồng chéo trong thực hiện, gây khó khăn trong giải quyết vụ án hình sự nói chung và xác định sự thật của vụ án nói riêng.
Trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sự phân định nhiệm vụ, quyền hạn của Thủ trưởng cơ quan điều tra với điều tra viên, của Viện trưởng Viện kiểm sát với kiểm sát viên trong hoạt động tố tụng đối với việc giải quyết vụ án hình sự cụ thể còn thiếu hợp lý, làm hạn chế hiệu quả, chất lượng, tính kịp thời của các hoạt động tố tụng. Theo Điều 36, Điều 41 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, khi tiến hành tố tụng đối với các vụ án cụ thể, Thủ trưởng (hoặc Phó thủ trưởng) cơ quan điều tra, Viện trưởng (hoặc Phó Viện trưởng) Viện kiểm sát, điều tra viên trung cấp, điều tra viên cao cấp là Trưởng Công an cấp xã hoặc Phó trưởng Công an cấp xã được Thủ trưởng cơ quan điều tra cấp tỉnh phân công tiến hành hoạt động khởi tố, điều tra vụ án có nhiệm vụ, quyền hạn tuyệt đối trong các quyết định tố tụng. Điều tra viên, kiểm sát viên trực tiếp thực hiện các biện pháp tố tụng thi hành các quyết định tố tụng trên. Do đó, hoạt động thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của điều tra viên, kiểm sát viên phụ thuộc vào tính đúng đắn, kịp thời của các quyết định tố tụng do thủ trưởng của họ ban hành. Cơ chế tố tụng này không chỉ làm giảm hiệu quả và tính kịp thời của hoạt động tố tụng, mà còn chưa phân định rõ trách nhiệm giữa Thủ trưởng cơ quan điều tra, Viện trưởng Viện kiểm sát với điều tra viên, kiểm sát viên đối với kết quả hoạt động tố tụng theo nguyên tắc “quyền hạn đi đôi với trách nhiệm” trong hoạt động công vụ. Mặt khác, với những quy định trên, điều tra viên, kiểm sát viên không thể phát huy hết khả năng và tính chủ động, sáng tạo trong các hoạt động tố tụng.
Theo Điều 296 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, chỉ được triệu tập điều tra viên để trình bày các vấn đề liên quan đến vụ án trong trường hợp cần thiết. Tuy nhiên, trên thực tế, khi ra phiên tòa, nhiều bị cáo chối tội, thay đổi hoàn toàn lời khai hoặc cho rằng bị các điều tra viên “mớm cung, bức cung”, gây khó khăn cho hội đồng xét xử khi đánh giá lời khai của bị cáo. Do đó, việc điều tra viên tham gia vào phiên tòa là cần thiết để xác định chính xác sự thật khách quan của vụ án. Đồng thời, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 chưa xác định rõ vai trò của điều tra viên khi tham gia phiên tòa, dẫn đến nhiều quan điểm khác nhau. Có ý kiến cho rằng, điều tra viên tham dự phiên tòa với tư cách là người tiến hành tố tụng, nhưng có ý kiến cho rằng, họ là người tham gia tố tụng như người làm chứng hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án.
3. Định hướng hoàn thiện nguyên tắc xác định sự thật của vụ án
Từ những hạn chế, bất cập đã được phân tích, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện nguyên tắc xác định sự thật của vụ án và các quy định có liên quan như sau:
Một là, về nội dung nguyên tắc xác định sự thật của vụ án.
Nội dung nguyên tắc xác định sự thật của vụ án trong tố tụng hình sự Việt Nam đề cập đến chủ thể có nghĩa vụ xác định sự thật của vụ án, yêu cầu đối với việc xác định sự thật, chủ thể có quyền chứng minh vô tội. Nghiên cứu pháp luật tố tụng hình sự một số quốc gia như Nhật Bản, Trung Quốc quy định về nguyên tắc xác định sự thật của vụ án cho thấy, nội dung nguyên tắc xác định sự thật của vụ án chỉ tập trung vào chủ thể, phương pháp xác định sự thật mà không đề cập đến người bị buộc tội có quyền chứng minh vô tội hay không.
Bộ luật Tố tụng hình sự Nhật Bản năm 1948 quy định: “Nhiệm vụ của tố tụng hình sự là làm sáng tỏ những tình tiết của vụ án cũng như áp dụng việc thực thi trừng trị một cách nhanh chóng đối với các vụ án hình sự, trong khi vẫn phải xem xét đầy đủ việc duy trì lợi ích công và đảm bảo nhân quyền đối với từng công dân” (Điều 1); “Các tình tiết khách quan sẽ được xác định trên cơ sở bằng chứng” (Điều 317)[8]. Theo đó, phương thức tìm kiếm sự thật trong tố tụng hình sự Nhật Bản là sự kết hợp giữa hệ thống dân luật (nguyên tắc thẩm cứu) và hệ thống pháp luật Anh - Mỹ (nguyên tắc tranh tụng). Việc thu thập và trình bày chứng cứ chủ yếu là trách nhiệm của các bên, tuy nhiên, nếu thấy cần thiết, Tòa án có thể chủ động tiến hành thu thập và xem xét chứng cứ (Điều 298 Bộ luật Tố tụng hình sự Nhật Bản năm 2019).
Trong Bộ luật Tố tụng hình sự Trung Quốc năm 1979, phần các nguyên tắc cơ bản được quy định tại Chương I (nhiệm vụ và nguyên tắc cơ bản) thể hiện một phần nội dung về xác định sự thật của vụ án. Điều 6 Bộ luật quy định: “Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân và cơ quan công an trong quá trình tiến hành tố tụng phải dựa vào quần chúng, lấy thực tế làm căn cứ, lấy luật pháp làm chuẩn. Trong áp dụng pháp luật, mọi công dân đều bình đẳng, không có bất cứ đặc quyền nào”[9]. Theo nguyên tắc này, thực tế vụ án (hay sự thật của vụ án) là một trong những cơ sở, nền tảng để các cơ quan tiến hành tố tụng giải quyết vụ án. Các chủ thể xác định sự thật của vụ án được xác định là Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân và cơ quan công an.
Do đó, nguyên tắc xác định sự thật của vụ án cần được sửa đổi theo hướng: “người bị buộc tội có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội” là nội dung của nguyên tắc suy đoán vô tội, cần được lược bỏ trong nguyên tắc xác định sự thật của vụ án.
Hai là, về các quy định liên quan đến nguyên tắc xác định sự thật của vụ án.
Để tiếp tục hoàn thiện các quy định liên quan đến nguyên tắc xác định sự thật của vụ án, thời gian tới, cần hoàn thiện các quy định sau:
(i) Hoạt động thu thập, đánh giá và sử dụng chứng cứ là cơ sở, tiền đề để xác định sự thật khách quan của vụ án. Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã bổ sung quyền thu thập chứng cứ cho người bào chữa nhằm bảo đảm sự công bằng, bình đẳng giữa bên buộc tội và bên bị buộc tội trong thu thập chứng cứ. Tuy nhiên, người bị buộc tội là chủ thể của quyền bào chữa, việc quy định quyền thu thập chứng cứ cho người bị buộc tội là đòi hỏi khách quan nhằm mục đích bác bỏ, phủ nhận sự buộc tội của cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc để giảm nhẹ tội của mình. Về nguyên tắc, các quyền pháp luật quy định cho người bào chữa là những quyền phái sinh từ quyền bào chữa của người bị buộc tội. Do đó, việc quy định người bào chữa có quyền thu thập chứng cứ để bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của người bị buộc tội, trong khi người bị buộc tội, chủ thể của quyền bào chữa không có quyền này là chưa hợp lý. Vì vậy, cần bổ sung quy định người bị buộc tội có quyền thu thập chứng cứ.
(ii) Những quy định của pháp luật tố tụng hình sự về quyền và nghĩa vụ của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng là nhân tố ảnh hưởng đến thực hiện nguyên tắc. Để bảo đảm tính kịp thời, hiệu quả của hoạt động tố tụng, cần tăng quyền hạn, trách nhiệm cho điều tra viên, kiểm sát viên trong hoạt động tố tụng và phân định rõ nhiệm vụ, quyền hạn của Thủ trưởng cơ quan điều tra, Viện trưởng Viện kiểm sát trong tổ chức, chỉ đạo hoạt động tố tụng và trong tiến hành tố tụng đối với vụ án cụ thể. Thủ trưởng cơ quan điều tra, Viện trưởng Viện kiểm sát chỉ thực hiện các nhiệm vụ hành chính tư pháp và phát động quá trình tố tụng thuộc chức năng, thẩm quyền của cơ quan mình, như quyết định khởi tố vụ án, quyết định phân công điều tra viên, kiểm sát viên… Các nhiệm vụ, quyền hạn tố tụng cụ thể liên quan đến giải quyết vụ án, như ra các quyết định áp dụng biện pháp ngăn chặn, quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ, kết luận điều tra, đề nghị truy tố… do điều tra viên, kiểm sát viên được phân công thực hiện và chịu trách nhiệm trước pháp luật. (iii) Điều tra viên là người trực tiếp tiến hành các hoạt động điều tra, thu thập chứng cứ, nắm rõ các tình tiết phản ánh nội dung vụ án. Khi tham gia phiên tòa, điều tra viên sẽ phối hợp tích cực với kiểm sát viên trong chứng minh tội phạm và người phạm tội. Quy định này tạo cơ sở để kiểm chứng, phản biện lời khai của bị cáo, giúp hội đồng xét xử có thể đánh giá khách quan, toàn diện các tình tiết của vụ án. Mặt khác, Điều tra viên là một trong những chủ thể buộc tội trong tố tụng hình sự, nên họ tham gia phiên tòa với tư cách là một trong các bên buộc tội. Do đó, cần sửa đổi Điều 296 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 theo hướng yêu cầu điều tra viên bắt buộc phải tham gia phiên tòa với tư cách là bên buộc tội, đồng thời, sửa đổi Điều 37 theo hướng bổ sung nhiệm vụ, quyền hạn này của điều tra viên.
Kết luận
Quá trình giải quyết vụ án hình sự chỉ có thể đạt hiệu quả cao khi xác lập và thực hiện tốt các nguyên tắc tố tụng, trong đó có nguyên tắc xác định sự thật của vụ án. Đây là nguyên tắc giữ vai trò quan trọng trong định hướng hoạt động của các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, bảo đảm hoạt động tố tụng đạt được mục đích xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Việc sửa đổi, bổ sung nguyên tắc này và các quy định của pháp luật tố tụng hình sự liên quan trực tiếp đến nguyên tắc này chính xác, rõ ràng, thống nhất sẽ góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong thực thi, bảo đảm xác định sự thật khách quan của vụ án.
TS. Trần Thị Thu Hiền
Khoa Pháp luật Hình sự, Trường Đại học Luật Hà Nội
Ảnh: Internet
[1]. Thông tư số 556-TTg quy định: “Nhiệm vụ của cơ quan công an, công tố và Tòa án là bảo vệ trật tự, trị an của xã hội".
[2]. Phòng Tuyên truyền Tòa án nhân dân tối cao (1962), Code of Criminal Procedure of the Russian Soviet Federative Socialist Republic, tr.18.
[3]. Viện Nghiên cứu khoa học pháp lý, Bộ tư pháp (1999), Tư pháp hình sự so sánh, tr.126.
[4]. Lê Lan Chi (2022), Nguyên tắc bắt buộc truy tố trong hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa và sự thể hiện trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam, Kỷ yếu hội thảo chuyên đề “ Các nguyên tắc của tố tụng hình sự Việt Nam - Quá trình tiếp biến và hoàn thiện”, Diễn đàn Luật học mùa thu lần thứ hai, Trường Đại học Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, tr.71.
[5]. Nguyễn Ngọc Chí (2018), Giáo trình các nguyên tắc cơ bản của luật tố tụng hình sự, Nxb. Đại học quốc gia Hà Nội, tr.185.
[6]. Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam, Viện thông tin khoa học xã hội (1982), Những vấn đề lý luận về hình sự, tố tụng hình sự, tr.117.
[7]. Hoàng Thị Minh Sơn (2008), Hoàn thiện các quy định về thu thập, đánh giá và sử dụng chứng cứ trong tố tụng hình sự, Tạp chí Luật học, số 7, tr.11.
[8]. Code of Criminal Procedure (Act No. 131 of 1948), https://www.japaneselawtranslation.go.jp/en/laws/view/2056/en, truy cập ngày 12/4/2026.
[9]. Criminal Procedure Law of the People’s Republic of China, https://www.wipo.int/wipolex/en/legislation/details/22181, truy cập ngày 12/4/2026.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Hoàng Thị Minh Sơn (2008), Hoàn thiện các quy định về thu thập, đánh giá và sử dụng chứng cứ trong tố tụng hình sự, Tạp chí Luật học, số 7.
2. Lê Lan Chi (2022), Nguyên tắc bắt buộc truy tố trong hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa và sự thể hiện trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam, Kỷ yếu hội thảo chuyên đề “Các nguyên tắc của tố tụng hình sự Việt Nam - Quá trình tiếp biến và hoàn thiện”, Diễn đàn Luật học mùa thu lần thứ hai, Trường Đại học Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội.
3. Nguyễn Ngọc Chí (2018), Giáo trình các nguyên tắc cơ bản của luật tố tụng hình sự, Nxb. Đại học quốc gia Hà Nội.
4. Phòng Tuyên truyền Tòa án nhân dân tối cao (1962), Code of Criminal Procedure of the Russian Soviet Federative Socialist Republic.
5. Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam, Viện Thông tin khoa học xã hội (1982), Những vấn đề lý luận về hình sự, tố tụng hình sự.
6. Viện Khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp (2006), Từ điển Luật học, Nxb. Tư pháp và Nxb. Từ điển Bách khoa.
7. Viện Nghiên cứu khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp (1999), Tư pháp hình sự so sánh.
(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số Kỳ 2 (453) tháng 5/2026)