Từ khóa: quyền con người; phổ biến, giáo dục pháp luật; phát triển nhanh, bền vững; kỷ nguyên mới.
Đặt vấn đề
Trong tiến trình xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam và đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới, bảo đảm quyền con người là thước đo chất lượng quản trị quốc gia và phát triển bền vững. Trong tiến trình này, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong hình thành văn hóa tuân thủ pháp luật, ý thức thượng tôn pháp luật, tạo nền tảng thúc đẩy quyền con người trên thực tế. Tuy nhiên, sau 13 năm triển khai thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 bộc lộ những hạn chế về thể chế, Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật, đối tượng đặc thù, nội dung, hình thức, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật trước thách thức mới của công nghệ kỹ thuật số. Việc nghiên cứu đổi mới công tác phổ biến, giáo dục pháp luật có ý nghĩa quan trọng trong hoàn thiện thể chế và tổ chức thực hiện pháp luật, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
1. Quyền con người và vai trò của phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người tại Việt Nam trong kỷ nguyên mới
Để nhận diện đúng vai trò của phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người trong bối cảnh hiện nay, trước hết, cần làm rõ khái niệm về quyền con người.
1.1. Khái niệm về quyền con người
Quyền con người là phạm trù đa diện. Tiếp cận từ góc độ nguồn gốc lịch sử và triết học pháp luật, có hai trường phái khác nhau về quyền con người.
Trường phái thứ nhất, nhấn mạnh các thuộc tính tự nhiên, bẩm sinh, vốn có của con người. Quan điểm này được ghi nhận trong Lời mở đầu của Tuyên ngôn thế giới về quyền con người năm 1948, theo đó, việc thừa nhận phẩm giá vốn có và các quyền bình đẳng, bất khả xâm phạm của mọi thành viên trong gia đình nhân loại là nền tảng của tự do, công bằng và hòa bình thế giới[1]. Tinh thần này cũng được Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định trong Tuyên ngôn Độc lập năm 1945.
Trường phái thứ hai, là quyền pháp lý, nhấn mạnh thuộc tính nhân tạo của quyền con người, cho rằng quyền con người được các nhà nước hoặc các thiết chế quyền lực của giai cấp thống trị ghi nhận trong hệ thống pháp luật. Theo Văn phòng Cao ủy Liên hợp quốc về quyền con người (OHCHR), “quyền con người là những bảo đảm pháp lý toàn cầu có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại những hành động hoặc sự bỏ mặc mà làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự được phép và tự do cơ bản của con người”[2]. Trường phái quyền pháp lý đã tạo ra chuẩn mực chung cho sự đồng thuận trong hoạt động xây dựng và thực hiện pháp luật nhằm bảo đảm các quyền con người.
Hai trường phái trên không đối lập mà bổ sung cho nhau, bởi quyền con người là phạm trù liên ngành từ triết học, chính trị học, luật học, sử học, xã hội học, đạo đức học… Do đó, cần có khái niệm tổng hợp vừa thể hiện được thuộc tính tự nhiên của quyền con người, vừa nhấn mạnh bảo đảm pháp lý ở các phạm vi pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia. Theo đó, có thể hiểu: “Quyền con người là những giá trị tự nhiên, vốn có của mọi cá nhân, được pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia ghi nhận, bảo vệ và bảo đảm thực hiện thông qua hệ thống các nguyên tắc, chuẩn mực pháp lý”.
1.2. Vai trò của phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người tại Việt Nam hiện nay
Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người là một bộ phận cấu thành của hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật nói chung. Bởi lẽ, tiếp cận quyền con người từ góc độ luật học và các khoa học pháp lý chuyên ngành đều thiết lập các quy tắc xử sự chung để bảo đảm nhân phẩm và các quyền tự nhiên, chính đáng của mọi cá nhân luôn được tôn trọng và bảo vệ; cũng như các cơ chế biện pháp, chế tài để bảo đảm các quy tắc cư xử chung đó được thực hiện[3]. Theo Tổng Thư ký Liên hợp quốc Kofi Annan: “Giáo dục quyền con người rộng hơn là một bài học ở trường học hay là chủ đề học tập trong một ngày; đây là quá trình trang bị cho người dân những công cụ họ cần để sống cuộc sống an toàn và có phẩm giá”[4]. Tại Việt Nam, bảo đảm thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.
Thứ nhất, phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người là một bộ phận cấu thành của chiến lược xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Nghị quyết số 27-NQ/TW[5] xác định “Nhà nước tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân”, đồng thời, đặt mục tiêu đến năm 2045, Việt Nam có hệ thống pháp luật chất lượng cao, hiện đại, tiệm cận các chuẩn mực quốc tế. Về phương thức thực hiện và nguồn lực: đột phá trong truyền thông chính sách và phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua ứng dụng công nghệ số; tận dụng các khung giờ thu hút đông đảo khán giả trên hệ thống truyền thông quốc gia; ưu tiên nguồn lực tương xứng để thực hiện phổ biến, giáo dục pháp luật và trợ giúp pháp lý cho nhóm đối tượng đặc thù, yếu thế và đồng bào dân tộc thiểu số[6]. Như vậy, trong chiến lược này, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người được coi là nguồn lực nội sinh để phát triển bền vững đất nước trong kỷ nguyên mới.
Thứ hai, từ góc độ pháp lý, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người góp phần cụ thể hóa các quyền cơ bản được ghi nhận trong Hiến pháp 2013[7], gồm quyền được tiếp cận thông tin (Điều 25) và quyền được học tập (Điều 39). Thông qua các hoạt động, phổ biến, giải thích và hướng dẫn thực hiện pháp luật, người dân được cung cấp thông tin pháp luật và được nâng cao năng lực tìm kiếm, khai thác, chia sẻ thông tin pháp luật, đồng thời, biết cách bảo vệ quyền con người khi bị xâm phạm. Việc công khai, minh bạch thông tin pháp luật là điều kiện bảo đảm hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật và các quyền con người khác. Mặt khác, khi người dân hiểu biết đầy đủ và kịp thời về quyền con người góp phần tích cực tuyên truyền chủ trương, đường lối đúng đắn của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Trên cơ sở đó, chủ thể tiếp nhận thông tin pháp luật về quyền con người hình thành tư duy phản biện để nhận diện và phê phán các luận điệu xuyên tạc, lợi dụng vấn đề “dân chủ, nhân quyền” của các thế lực thù địch, phản động chống phá Đảng và Nhà nước. Từ đó, góp phần bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trên mặt trận chính trị, tư tưởng, phù hợp với yêu cầu của Chỉ thị số 44-CT/TW[8].
Thứ ba, đối với cộng đồng quốc tế, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người góp phần thực hiện các nghĩa vụ và cam kết quốc tế của Việt Nam. Với tư cách là thành viên của Liên hợp quốc và đã phê chuẩn 7/9 công ước cốt lõi về quyền con người[9], Việt Nam có nghĩa vụ pháp lý trong việc thúc đẩy công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người cho người dân. Đây là tiêu chí quan trọng trong cơ chế Kiểm điểm Định kỳ Phổ quát (UPR) mà cộng đồng quốc tế dùng để đánh giá nỗ lực của Việt Nam trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người. Tại chu kỳ 4 cơ chế UPR, năm 2024, Việt Nam nhận được 12 khuyến nghị về công tác giáo dục, đào tạo nâng cao nhận thức về quyền con người của các quốc gia: Ả Rập Xê Út, Bahrain, El Salvador, Indonesia, Ấn Độ, Belarus, Cu Ba, Nhật Bản, Estonia, Peru, Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên, Bangladesh[10]. Bảo đảm thực hiện các cam kết quốc tế về quyền con người góp phần nâng cao uy tín, vị thế quốc gia trên trường quốc tế.
Thứ tư, phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người tạo dựng nền tảng thực hiện Mục tiêu Phát triển Bền vững số 4 (SDG4) về bảo đảm nền giáo dục chất lượng toàn diện và công bằng, đồng thời, thúc đẩy cơ hội học tập suốt đời cho mọi người. Trong đó, mục tiêu 4.7 hướng tới năm 2030 bảo đảm tất cả người học có được kiến thức và kỹ năng cần thiết để thúc đẩy phát triển bền vững, gồm nhân quyền và bình đẳng giới[11]. Đặc biệt, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người bảo đảm các giá trị “không để ai bị bỏ lại phía sau”, rất cấp thiết cho nhóm người yếu thế và dễ bị tổn thương.
Như vậy, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người không chỉ đơn thuần là hoạt động truyền thông, mà còn là nhiệm vụ chính trị, pháp lý quan trọng. Việc thực hiện tốt công tác này đóng vai trò quyết định trong thúc đẩy sự phát triển toàn diện của mỗi cá nhân, tạo nền tảng vững chắc để xây dựng thành công Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Đồng thời, đây là phương thức hữu hiệu để Việt Nam hiện thực hóa cam kết quốc tế, từ đó, khẳng định uy tín và vị thế dân tộc trong kỷ nguyên hội nhập, vươn mình của đất nước.
2. Thực trạng phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người tại Việt Nam
Tại Việt Nam, nội dung quyền con người được ghi nhận trong Hiến pháp và được cụ thể hóa trong nhiều ngành luật như hình sự, dân sự, lao động, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại... Nghiên cứu này tập trung phân tích thực trạng phổ biến, giáo dục pháp luật mang tính tổng quát chung, không phân tách quyền con người theo từng lĩnh vực.
2.1. Thành tựu trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người
Công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người thời gian qua đã đạt được nhiều kết quả tích cực, thể hiện sự chuyển biến từ nhận thức sang hành động thực tiễn. Cụ thể:
Thứ nhất, về quy mô và khả năng tiếp cận. Công tác phổ biến, giáo dục pháp luật được triển khai sâu rộng với hàng triệu cuộc phổ biến trực tiếp, thu hút hàng trăm triệu lượt người tham gia. Hệ thống tài liệu được biên soạn phong phú, đặc biệt là việc chuyển ngữ sang tiếng dân tộc thiểu số và tiếng nước ngoài để bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho mọi đối tượng. Công tác số hóa ghi nhận bước đột phá với hàng chục tài liệu trực tuyến và hàng nghìn văn bản quy phạm pháp luật được cập nhật trên Cơ sở dữ liệu quốc gia, thu hút lượng truy cập lớn mỗi ngày[12].
Thứ hai, về đổi mới hình thức. Bên cạnh các hình thức truyền thống, nhiều mô hình sáng tạo đã phát huy hiệu quả như “phiên tòa giả định”, gameshow truyền hình “Sức nước ngàn năm”; các chuyên mục tương tác trên nền tảng mạng xã hội…[13]. Những hình thức này giúp kiến thức pháp luật về quyền con người trở nên gần gũi, dễ hiểu và dễ vận dụng hơn trong đời sống.
Thứ ba, về phát triển nguồn nhân lực. Đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật được củng cố, kiện toàn mạnh mẽ về số lượng và chất lượng, nhất là ở cấp cơ sở và vùng đồng bào dân tộc thiểu số[14]. Bên cạnh đó, sự tham gia tích cực của đội ngũ luật sư, luật gia thông qua các mô hình tư vấn pháp luật miễn phí và Trung tâm (Tổ) Pháp luật cộng đồng tại cơ sở[15], đã góp phần quan trọng vào việc xã hội hóa công tác này.
Thứ tư, về nguồn lực tài chính. Ngân sách nhà nước dành cho phổ biến, giáo dục pháp luật được duy trì ổn định và tăng trưởng theo từng giai đoạn. Đặc biệt, sự chuyển dịch từ mô hình huy động đa dạng các nguồn lực xã hội, lấy người dân làm trung tâm phục vụ[16].
Thứ năm, về công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong nhà trường thông qua Đề án “Đưa nội dung quyền con người vào chương trình giáo dục trong hệ thống giáo dục quốc dân”[17] đạt được kết quả ấn tượng. Nội dung quyền con người bước đầu được tích hợp bài bản vào hệ thống giáo dục quốc dân, gồm hoàn thiện hệ thống học liệu cho mọi cấp học, mở các mã ngành đào tạo chuyên sâu và tổ chức tập huấn kỹ năng cho hàng nghìn giáo viên, cán bộ thực thi pháp luật trên cả nước[18].
Những thành tựu đạt được và ưu điểm về công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người là kết quả tổng hòa của các nguyên nhân sau:
Thứ nhất, Đảng và Nhà nước luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo thường xuyên và toàn diện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật nói chung và giáo dục quyền con người nói riêng. Đồng thời, xác định phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người là nhiệm vụ chính trị trọng tâm, nhận được sự chỉ đạo đồng bộ từ trung ương xuống địa phương.
Thứ hai, hệ thống pháp luật và thể chế hóa các chuẩn mực quốc tế về quyền con người từng bước được hoàn thiện. Nhà nước chủ động xây dựng, ban hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và tích hợp các chuẩn mực quốc tế về quyền con người vào hệ thống pháp luật quốc gia. Quá trình này tạo điều kiện thuận lợi cho việc phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao nhận thức xã hội về quyền con người.
Thứ ba, nguồn nhân lực làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật được đầu tư xây dựng, phát triển với đội ngũ nhân lực đông đảo, cơ cấu hợp lý và tổ chức bài bản từ trung ương đến cơ sở; đặc biệt, đội ngũ am hiểu ngôn ngữ, văn hóa vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Thứ tư, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và thúc đẩy chuyển đổi số trong phổ biến, giáo dục pháp luật. Ứng dụng mạnh mẽ các nền tảng số, trí tuệ nhân tạo và mạng xã hội để đa dạng hóa hình thức truyền tải, giúp người dân tiếp cận thông tin pháp lý nhanh chóng và bình đẳng.
Thứ năm, tăng cường huy động nguồn lực xã hội và mở rộng hợp tác quốc tế trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Huy động hiệu quả sự tham gia của các tổ chức xã hội, nghề nghiệp và doanh nghiệp, đồng thời, chủ động tiếp thu kinh nghiệm quốc tế để đổi mới phương pháp và nâng cao chất lượng giáo dục quyền con người.
2.2. Tồn tại và thách thức trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người
Mặc dù công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đạt được nhiều thành tựu quan trọng, song, trong quá trình triển khai bộc lộ những “điểm nghẽn” cần được nghiên cứu và tháo gỡ.
Thứ nhất, khó khăn, hạn chế từ quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012.
Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 chưa quy định rõ trách nhiệm của cơ quan chủ trì soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật; chưa quy định rõ trách nhiệm tổ chức phổ biến, giáo dục pháp luật của các cơ quan quản lý nhà nước; một số quy định về trách nhiệm của tổ chức chính quyền địa phương về phổ biến, giáo dục pháp luật không còn phù hợp với mô hình chính quyền địa phương hai cấp; đặc biệt, ở cấp xã chưa quy định cơ chế giao trách nhiệm cho người đứng đầu[19]. Điều này dẫn đến việc truyền thông chính sách, pháp luật về quyền con người ngay từ khâu dự thảo ít nhiều cũng có khả năng né tránh, đùn đẩy trách nhiệm; chủ thể chịu sự tác động trực tiếp từ văn bản quy phạm pháp luật có thể chậm chễ nắm bắt thông tin pháp luật; khâu tổ chức thực hiện pháp luật về quyền con người chưa được hiệu quả, thiếu thống nhất.
Bên cạnh đó, dự thảo Luật và dự thảo Nghị định quy định chi tiết một số điều của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật[20] (dự thảo Nghị định) dự kiến điều chỉnh nội dung quản lý nhà nước về phổ biến, giáo dục pháp luật quy định tương đối đầy đủ trách nhiệm của Bộ Tư pháp, các bộ, ngành và Ủy ban nhân dân các cấp; đồng thời, dự kiến quy định việc cập nhật, quản lý dữ liệu trên Cổng Pháp luật quốc gia, cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật, thực hiện thống kê, báo cáo định kỳ hoặc đột xuất về phổ biến, giáo dục pháp luật. Tuy nhiên, các quy định này chủ yếu xác lập trách nhiệm quản lý nhà nước, chưa quy định rõ việc lồng ghép các chỉ số đánh giá theo cách tiếp cận dựa trên quyền con người như mức độ tiếp cận pháp luật một cách bình đẳng của người dân, đặc biệt là nhóm yếu thế, hiệu quả thực chất của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật.
Điều 7 dự thảo Luật quy định về Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật các cấp trung ương và cấp tỉnh theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ và Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, còn Hội đồng tại bộ, cơ quan trung ương và cấp xã là “có thể được thành lập”. Dự thảo Nghị định đưa ra hai phương án về Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật về cơ bản đã bao quát được phần lớn nội dung cần hướng dẫn. Tuy nhiên, dự thảo Nghị định chưa xác định Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật tại bộ, cơ quan trung ương, xã nào cần thành lập hay không cần thành lập. Dự thảo Nghị định quy định giao người đứng đầu quyết định có thể dẫn đến hai xu hướng trái ngược: (i) thành lập đồng loạt, làm tăng đầu mối phối hợp, chi phí hoạt động, trái ngược với xu hướng sắp xếp, tinh gọn bộ máy nhà nước hiện nay; (ii) không thành lập ở những cơ quan, địa phương thực sự cần cơ chế phối hợp liên ngành, nhất là các xã có đông đồng bào dân tộc thiểu số, địa bàn biên giới, khu công nghiệp, cơ sở có nhiều đối tượng đặc thù. Bên cạnh đó, trong Phương án 1, Điều 5 dự kiến thành phần Hội đồng chủ yếu là đại diện cơ quan nhà nước và một số tổ chức xã hội nghề nghiệp; chưa có đại diện của nhóm người cụ thể chịu sự tác động của chính sách, pháp luật và nhóm người yếu thế. Trong khi đó, các chức năng chính của Hội đồng là tư vấn chính sách phổ biến, giáo dục pháp luật cho các nhóm chủ thể khác nhau. Trong Phương án 2 dự kiến tiếp tục giao Thủ tướng Chính phủ quy định hầu hết các nội dung có thể dẫn đến tình trạng chậm ban hành văn bản hướng dẫn thực hiện, tạo thêm tầng nấc văn bản điều chỉnh, không phù hợp với xu thế đơn giản hóa thủ tục hành chính hiện nay.
Đối tượng đặc thù được quy định trong Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật 2012 còn hẹp, chưa phù hợp với thực tế, mới chỉ có 06 nhóm, chưa bao quát hết các nhóm người dễ bị tổn thương như người nghèo, người cận nghèo, người có hành vi bạo lực, người có nguy cơ vi phạm pháp luật[21]. Điều 16 dự thảo Luật bổ sung theo hướng liệt kê có tất cả 08 nhóm đối tượng đặc thù. Điều 20 dự thảo Nghị định quy định “một số tiêu chí” xác định đối tượng khác bị hạn chế khả năng tiếp cận pháp luật, mà chưa dự liệu đủ bản chất đa chiều của tình trạng dễ bị tổn thương, có thể dẫn đến tình trạng “bỏ lại phía sau” chủ thể có nhu cầu thực sự cần được phổ biến, giáo dục pháp luật. Chẳng hạn, một người có thể là người dân tộc thiểu số, có khuyết tật, là hộ nghèo, không có khả năng sở hữu, sử dụng thiết bị công nghệ số. Danh sách nhóm được ưu tiên tại khoản 2 còn hẹp và chưa làm rõ cơ sở của việc lựa chọn ba nhóm này, tiêu chí nào quyết định thứ tự ưu tiên; các nhóm khác có hạn chế tương đương được xử lý ra sao. Sự phát triển của công nghệ số làm xuất hiện những nhóm dễ bị tổn thương mới, đặc biệt, nhóm người gặp nguy cơ cao bị xâm phạm về quyền (trong bối cảnh hiện nay có thể là nhóm người không có khả năng sở hữu và sử dụng công nghệ số để tiếp cận thông tin pháp luật).
Quy định về nội dung và hình thức giáo dục pháp luật trong các cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân chưa đáp ứng được yêu cầu đổi mới đặt ra tại Nghị quyết số 71-NQ/TW[22]. Nội dung phổ biến, giáo dục pháp luật tại Điều 10 dự thảo Luật mặc dù có bổ sung đầy đủ hơn, nhưng còn mang tính khái quát cao, tại khoản 4 quy định “Các nội dung khác phù hợp với yêu cầu quản lý nhà nước hoặc theo quy định của pháp luật có liên quan”. Điều này có thể dẫn đến nội dung chưa chú trọng tuyên truyền, giáo dục các giá trị nhân văn, hệ giá trị con người Việt Nam. Nội dung các “quyền kỹ thuật số” như quyền riêng tư về dữ liệu cá nhân, quyền được lãng quên, quyền được ngắt kết nối hay quyền tự do ngôn luận, quyền tiếp cận thông tin (trong khuôn khổ giới hạn của pháp luật cho phép)… có thể bị bỏ qua. Hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật trong dự thảo Luật được quy định từ Điều 11 đến Điều 15. Đối với hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật trên nền tảng số và bằng trí tuệ nhân tạo chưa phân loại rủi ro do trí tuệ nhân tạo, kiểm soát thiên lệch thuật toán và trách nhiệm đính chính khi cung cấp sai thông tin.
Về đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật chủ yếu giới hạn trong đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và sĩ quan trong lực lượng vũ trang nhân dân[23]. Điều 35 dự thảo Luật có bổ sung đội ngũ là chuyên gia, người có trình độ chuyên môn tham gia phổ biến, giáo dục pháp luật. Tuy nhiên, quy định về tiêu chuẩn báo cáo viên pháp luật yêu cầu người có bằng cử nhân luật phải có ít nhất 02 năm công tác pháp luật và ít nhất 03 năm đối với người có trình độ khác. Xét trong điều kiện đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật chủ yếu làm công tác kiêm nhiệm và các quy định của pháp luật thường xuyên được bổ sung, thay đổi. Quy định về thời gian công tác pháp luật chưa rõ ràng là thời gian được tính liên tục hay cộng dồn có thể dẫn đến tình trạng đội ngũ này thiếu khả năng cập nhật kịp thời quy định mới.
Thứ hai, khó khăn, thách thức mới phát sinh từ sự phát triển của công nghệ, kỹ thuật số.
Sự phát triển nhanh chóng của trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn và các nền tảng số làm gia tăng và tiềm ẩn nguy cơ tiêu cực đến các quyền con người[24]. Cùng với đó, tình trạng thông tin giả, sai lệch; các luận điệu xuyên tạc về dân chủ, nhân quyền trên không gian mạng đang tác động trực tiếp đến nhận thức của người dân, đặc biệt là thanh thiếu niên; phủ nhận thành tựu, thực tiễn bảo đảm dân chủ, nhân quyền của Đảng và Nhà nước[25]. Điều này gây khó khăn cho việc hình thành nhận thức khách quan, khoa học về quyền con người, làm gia tăng nguy cơ tiếp nhận các quan điểm lệch lạc, thiếu căn cứ pháp lý, phản khoa học về quyền con người.
Những tồn tại, hạn chế và thách thức trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người hiện nay xuất phát từ cả nguyên nhân khách quan và chủ quan.
Thứ nhất, nguyên nhân khách quan. Một bộ phận người dân và cán bộ chưa tự giác tìm hiểu, học tập pháp luật, trong khi hệ thống pháp luật đang hoàn thiện nên thiếu tính ổn định. Sự chênh lệch trình độ dân trí, sự khác biệt về ngôn ngữ đòi hỏi đội ngũ nhân lực làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật vừa kiêm nhiệm, vừa phải kiên trì nỗ lực. Công tác thi hành và xử lý vi phạm pháp luật chưa thực sự nghiêm chỉnh làm giảm hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật nói chung.
Thứ hai, nguyên nhân chủ quan. Một số cấp ủy đảng, chính quyền, đặc biệt là người đứng đầu chưa thực sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo thường xuyên, sâu sát, quyết liệt đối với hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật, cũng như bố trí nguồn lực để đáp ứng yêu cầu triển khai nhiệm vụ. Ngoài ra, các quy định về phổ biến, giáo dục pháp luật còn chồng chéo, thiếu đồng bộ với pháp luật về giáo dục, tài chính và tiếp cận thông tin; chưa quy định về truyền thông dự thảo chính sách, các hình thức ứng dụng công nghệ thông tin hiện đại chưa được quy định cụ thể; thiếu cơ chế lồng ghép vào các chương trình mục tiêu quốc gia[26].
3. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới
Trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên mới, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người cần được triển khai theo hướng toàn diện, hiện đại và nhân văn. Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 cần được sửa đổi, bổ sung kịp thời đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh, bền vững đất nước.
Thứ nhất, hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật.
(i) Nghiên cứu bổ sung trong dự thảo Nghị định quy định về trách nhiệm của Bộ Tư pháp, các bộ, ngành và Ủy ban nhân dân các cấp nội dung thống kê, đánh giá công tác phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng tiếp cận 26. Báo cáo số 400/BC-BTP, tr.32-33. dựa trên quyền con người. Nội dung quy định gồm: tiêu chí phản ánh mức độ tiếp cận pháp luật của người dân, đặc biệt là nhóm đối tượng đặc thù, yếu thế; chỉ số đánh giá hiệu quả thực chất của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật; cơ chế công khai kết quả đánh giá để tăng cường minh bạch và trách nhiệm giải trình của các chủ thể có nghĩa vụ phổ biến, giáo dục pháp luật.
(ii) Nghiên cứu bổ sung trong dự thảo Nghị định quy định tiêu chí xem xét thành lập Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật tại cấp bộ và cấp xã. Đồng thời, bổ sung quy định về thành phần dự kiến của Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng không nhất thiết mở rộng thành viên chính thức, mà “tùy theo nội dung phiên họp, Chủ tịch Hội đồng mời đại diện nhóm chủ thể chịu sự tác động của chính sách pháp luật; chuyên gia về quyền con người, công nghệ số và truyền thông, tổ chức xã hội nghề nghiệp tham dự, cung cấp thông tin nhu cầu”.
(iii) Nghiên cứu bổ sung trong dự thảo Nghị định quy định tiêu chí nhận diện và trình tự xác định đối tượng đặc thù dựa trên rào cản, nguy cơ bị xâm phạm quyền và nhu cầu cần hỗ trợ thực tế. Cụ thể: “Đối tượng khác theo quy định tại khoản 8 Điều 16 Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật là cá nhân hoặc nhóm người gặp rào cản thực tế, đáng kể hoặc kéo dài làm giảm khả năng tiếp cận, hiểu, sử dụng thông tin pháp luật hoặc thực hiện, bảo vệ quyền và lợi ích pháp so với cá nhân, nhóm người khác trong điều kiện tương đương. Định kỳ hàng năm rà soát, bổ sung nhóm đối tượng đặc thù”. Quy định này phù hợp với nguyên tắc bình đẳng thực chất và không phân biệt đối xử, “không để ai bị bỏ lại phía sau”.
(iv) Nghiên cứu bổ sung trong dự thảo Nghị định các nội dung phổ biến, giáo dục pháp luật sau: coi việc tuyên truyền Hiến pháp là trọng tâm, thường xuyên, lâu dài để đề cao tinh thần Hiến pháp và xây dựng văn hóa pháp quyền; giáo dục tư duy pháp lý và các giá trị nền tảng như công lý, công bằng, tự do, bình đẳng và quyền con người, thay vì ghi nhớ các điều khoản. Đồng thời, bổ sung quy định về quản trị trí tuệ nhân tạo theo mức độ rủi ro, yêu cầu truy xuất nguồn, kiểm soát phân biệt đối xử, bảo đảm khả năng tiếp cận cho nhóm yếu thế và duy trì phương thức tiếp cận ngoài môi trường số.
(v) Nghiên cứu bổ sung trong dự thảo Nghị định quy định về tiêu chuẩn báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật. Quy định về tiêu chí thời gian công tác pháp luật nên tính liên tục để bảo đảm sự cập nhật kịp thời, thường xuyên và nâng cao chất lượng công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Đồng thời, bổ sung quy định định kỳ đánh giá năng lực chuyên môn, kỹ năng số, nghĩa vụ đính chính khi cung cấp thông tin sai lệch.
Thứ hai, tăng cường nguồn lực và xã hội hóa công tác phổ biến, giáo dục pháp luật.
Đào tạo đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật có kiến thức chuyên sâu về quyền con người, am hiểu thực tiễn và năng lực truyền thông hiện đại. Đồng thời, trang bị kỹ năng ứng dụng công nghệ số, kỹ năng tương tác cộng đồng và khả năng sử dụng tiếng dân tộc thiểu số nhằm nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật tại các địa bàn đặc thù. Nhân rộng các mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiệu quả (phiên tòa giả định, chuyên mục cái lý cái tình…) nhằm gắn kết giữa giáo dục pháp luật với thực tiễn đời sống xã hội.
Thứ ba, tăng cường kiểm tra, giám sát và đánh giá hiệu quả thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật.
Cần chuyển từ cách tiếp cận thiên về thống kê các hoạt động sang đánh giá mức độ tác động thực chất đối với nhận thức, thái độ và hành vi của chủ thể thụ hưởng thành quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Hệ thống chỉ số đánh giá cần phản ánh được khả năng tiếp cận pháp luật, mức độ hài lòng của người dân, hiệu quả sử dụng các nền tảng số và sự chuyển biến trong ý thức chấp hành pháp luật của từng nhóm chủ thể.
Kết luận
Công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người không chỉ là nhiệm vụ truyền thông chính sách pháp luật đơn thuần, mà là bộ phận cấu thành chiến lược trong tiến trình xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thúc đẩy sự phát triển nhanh, bền vững đất nước trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong thời gian tới là dấu mốc quan trọng, tạo hành lang pháp lý hiện đại nhằm tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm quyền con người và nâng cao hiệu quả quản trị quốc gia.
ThS. Đoàn Văn Nhật & ThS. Phạm Thị Mai Vui
Trường Đại học Hà Nội
Ảnh: Internet
* Dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi) trình Quốc hội kèm theo Tờ trình số 431/TTr-CP ngày 24/7/2026.
[1]. United Nations, (1948), Universal Declaration of Human Rights, https://www.un.org/en/universal-declaration-human-rights/, truy cập ngày 20/7/2026.
[2]. OHCHR: Freequently Asked Questions on a Human Rights-based Approach to Development Cooperation, New York and Geneva, p.1.
[3]. Nguyễn Đăng Dung, Vũ Công Giao, Lã Khánh Tùng (đồng chủ biên) (2016), Giáo trình Lý luận và pháp luật về quyền con người, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, tr.28.
[4]. Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Giới thiệu về Giáo dục quyền con người, https://tapchiquyenconnguoi.hcma.vn/Content/khoa-hoc-online/khoa-qcn/index.html#/lessons/pma9GzcpvbgvC2Gox_lsfO8SZzvNPcGm, truy cập 20/7/2026.
[5]. Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
[6]. Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
[7]. Hiến pháp năm 2013 được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 203/2025/QH15 ngày 16/6/2025.
[8]. Chỉ thị số 44-CT/TW ngày 16/4/2020 của Ban Bí thư về đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác xuất bản, phát hành và nghiên cứu, học tập sách lý luận, chính trị.
[9]. Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị; Công ước về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa; Công ước về quyền trẻ em; Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc; Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ; Công ước về chống tra tấn và các hình thức đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục nhân phẩm; Công ước về quyền của người khuyết tật.
[10]. United Nations, Human Rights Council, Universal Periodic Review - Viet Nam, Matrix of recommendations, p.41-44, https://www.ohchr.org/en/hr-bodies/upr/vn-index, truy cập ngày 20/7/2026.
[11]. United Nations, Department of Economic and Social Affairs, Sustainable Development, Transforming our world: the 2030 Agenda for Sustainable Development, https://sdgs.un.org/2030agenda, truy cập ngày 20/7/2026.
[12]. Báo cáo số 400/BC-BTP ngày 08/6/2026 của Bộ Tư pháp tổng kết việc thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (Báo cáo số 400/BC-BTP), tr.13-17.
[13]. Phụ lục IV - Tổng hợp báo cáo rà soát mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiệu quả tại cơ sở, ban hành kèm theo Báo cáo số 400/BC-BTP.
[14]. Báo cáo số 400/BC-BTP, tr.22-23.
[15]. Báo cáo số 400/BC-BTP, tr.24.
[16]. Phụ lục VII - Kinh phí cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật giai đoạn 2022 - 2025, ban hành kèm theo Báo cáo số 400/BC-BTP.
[17]. Theo Quyết định số 1309/QĐ-TTg ngày 05/9/2017 của Thủ tướng Chính phủ.
[18]. Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Ban Điều hành Đề án Giáo dục quyền con người (2025), Báo cáo công tác thực hiện Đề án đưa nội dung quyền con người vào chương trình giáo dục trong hệ thống giáo dục quốc dân (2017 - 2024) và phương hướng, nhiệm vụ năm 2025, Hà Nội.
[19]. Tờ trình số 431/TTr-CP ngày 24/7/2026 của Chính phủ về dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi) (Tờ trình số 431/TTr-CP), tr.4.
[20]. Dự thảo Nghị định quy định chi tiết một số điều của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật trình Quốc hội kèm theo Tờ trình số 431/TTr-CP ngày 24/7/2026.
[21]. Tờ trình số 431/TTr-CP, tr.5.
[22]. Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo; Báo cáo số 400/BC-BTP, tr.28-29.
[23]. Báo cáo số 400/BC-BTP, tr.29.
[24]. Đoàn Văn Nhật, Vũ Công Giao (2023), Tác động của khoa học, công nghệ đến nhân quyền, trong Vũ Công Giao & Lã Khánh Tùng (đồng chủ biên), Một số vấn đề nhân quyền hiện đại, Nxb. Khoa học xã hội, tr.104-122.
[25]. Tường Duy Kiên (2021), Đấu tranh chống các luận điệu xuyên tạc, phủ nhận thành quả về dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam hiện nay, Tạp chí Cộng sản, https://www.tapchicongsan.org.vn/media-story/-/asset_publisher/V8hhp4dK31Gf/content/dau-tranh-chong-cac-luan-dieu xuyen-tac-phu-nhan-thanh-qua-ve-dan-chu-nhan-quyen-o-viet-nam-hien-nay, truy cập ngày 20/7/2026.
[26]. Báo cáo số 400/BC-BTP, tr.32-33.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Báo cáo số 400/BC-BTP ngày 08/6/2026 của Bộ Tư pháp về việc tổng kết việc thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật, Hà Nội.
2. Tờ trình số 431/TTr-CP ngày 24/7/2026 của Chính phủ về dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi).
3. Đoàn Văn Nhật, Lê Thị Thu Thúy, Tư tưởng giáo dục của J.J.Rousseau và vận dụng trong hoạt động đổi mới giáo dục tại Việt Nam hiện nay, trong Kỷ yếu Hội thảo khoa học “Tư tưởng Khai sáng thế kỷ XVII - XVIII: Giá trị lịch sử và triển vọng hiện nay”, Trường Đại học Văn Lang, Nxb. Khoa học xã hội.
4. Đoàn Văn Nhật, Vũ Công Giao (2023), Tác động của khoa học, công nghệ đến nhân quyền, trong Vũ Công Giao & Lã Khánh Tùng (đồng chủ biên), Một số vấn đề nhân quyền hiện đại, Nxb. Khoa học xã hội.
5. Nguyễn Đăng Dung, Vũ Công Giao, Lã Khánh Tùng (đồng chủ biên) (2016), Giáo trình Lý luận và pháp luật về quyền con người, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật.
6. Nguyễn Đăng Dung, Trịnh Quốc Toản, Đặng Minh Tuấn (đồng chủ biên) (2016), Bình luận khoa học Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật
7. Học viện Chính trị Quốc gia Chí Minh, Giới thiệu về giáo dục quyền con người, https://tapchiquyenconnguoi. hcma.vn/Content/khoa-hoc online/khoa-qcn/index.html#/ lessons/pma9GzcpvbgvC2Gox_ lsfO8SZzvNPcGm, truy cập ngày 20/7/2026.
8. Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Ban Điều hành Đề án Giáo dục quyền con người (2025), Báo cáo công tác thực hiện Đề án đưa nội dung quyền con người vào chương trình giáo dục trong hệ thống giáo dục quốc dân (2017 - 2024) và phương hướng, nhiệm vụ năm 2025, Hà Nội.
9. Tường Duy Kiên (2021), Đấu tranh chống các luận điệu xuyên tạc, phủ nhận thành quả về dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam hiện nay, Tạp chí Cộng sản, https://www.tapchicongsan.org.vn/media-story/-/asset_publisher/V8hhp4dK31Gf/content/dau-tranh-chong-cac-luan-dieu-xuyen-tac-phu-nhan-thanh-qua-ve-dan-chu-nhan-quyen-o-viet-nam-hien-nay, truy cập ngày 20/7/2026.
10. Office of the United Nations High Commissioner for Human Rights (2006), Frequently asked questions on a human rights based approach to development cooperation, United Nations.
11. United Nations, Department of Economic and Social Affairs (2015), Transforming our world: The 2030 Agenda for Sustainable Development, https://sdgs.un.org/2030agenda, truy cập ngày 20/7/2026.
12. United Nations Human Rights Council, Universal Periodic Review - Viet Nam: Matrix of recommendations, https://www.ohchr.org/en/hr-bodies/upr/vn-index, truy cập ngày 20/7/2026.
(Nguồn: Ấn phẩm chuyên sâu “Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới”, xuất bản năm 2026)