Thứ sáu 28/08/2026 11:08
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Thực trạng tin giả, tin sai sự thật trên mạng xã hội và giải pháp

Tin giả (tiếng Anh gọi là fake news) trên không gian mạng là những thông tin sai sự thật được cố ý đăng tải, lan truyền nhằm mục đích gây hiểu lầm cho người đọc, người xem hoặc những thông tin có một phần sự thật nhưng không hoàn toàn chính xác do không được kiểm chứng, xác minh hoặc bị phóng đại, suy diễn, làm thay đổi bản chất của sự việc, thường xuất hiện dưới dạng tin tức và được lan truyền chủ yếu trên mạng xã hội.

Hành vi bịa đặt, lan truyền thông tin sai sự thật (tin giả) là vi phạm pháp luật, tùy thuộc tính chất, mức độ vi phạm, người thực hiện hành vi có thể bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Pháp luật dân sự, pháp luật hình sự và chế tài hành chính đã khá đầy đủ, đồng bộ. Tuy nhiên, hiện nay tình trạng thông tin sai sự thật vẫn xuất hiện “tràn lan” trên không gian mạng. Đã có nhiều vụ việc được cơ quan chức năng phát hiện, xử lý, nhưng tình trạng vi phạm vẫn diễn biến phức tạp, trở thành vấn đề “nhức nhối”, gây nhiều hệ lụy cho xã hội.

1. Sức hút của mạng xã hội

Sự phát triển của internet nói chung và mạng xã hội nói riêng đã làm thay đổi cuộc sống con người hàng ngày, hàng giờ. Các mạng xã hội như Facebook, Tiktok, Instagram… có vai trò rất quan trọng, thu hút đông đảo công chúng tham gia. Chỉ cần có máy tính hoặc điện thoại thông minh có kết nối internet là người dùng có thể thoải mái bày tỏ ý kiến, quan điểm cá nhân của mình lên trên mạng xã hội ở bất kỳ đâu, với bất kỳ ai, bất kỳ lúc nào mà không bị kiểm soát hoặc hạn chế. Việc đăng ký tài khoản mạng xã hội cũng tối giản nhất có thể, chỉ cần người dùng có số điện thoại chính chủ, địa chỉ email, chấp nhận chính sách cộng đồng do nhà cung cấp dịch vụ đưa ra là đã có được tài khoản mạng xã hội. Mạng xã hội với tính tương tác cao, không giới hạn khoảng cách địa lý, môi trường sống, tin tức cập nhật liên tục theo thời gian thực với nguồn mở, phong phú, đa dạng trên mọi lĩnh vực. Mạng xã hội đã trở thành môi trường sáng tạo nội dung cho nhiều người. Ngoài ra, mạng xã hội cũng có vai trò quan trọng giúp quảng bá sản phẩm, dịch vụ. Chính những lợi thế như vậy khiến mạng xã hội có sức hút lớn, tăng trưởng số lượng người dùng mạng xã hội luôn ở mức cao.

Theo báo cáo của Liên minh sáng tạo nội dung số Việt Nam, tính đến tháng 01/2024, Việt Nam có 78,44 triệu người dùng internet, tỷ lệ kết nối internet của Việt Nam ở mức 79,1% tổng dân số vào đầu năm 2024. Số người Việt Nam dùng mạng xã hội là 72,70 triệu người, tương đương với 73,3% tổng dân số. Phân tích của Kepios cho thấy người dùng mạng xã hội ở Việt Nam đã tăng thêm 6,5 triệu (tăng 9,8%) từ đầu năm 2023 đến đầu năm 2024. Về nhu cầu của người dùng mạng xã hội từ 16 - 64 tuổi rất đa dạng như: Để liên lạc với bạn bè, gia đình (55%), cập nhật tin tức (48,5), xem live stream (31,1%), tìm kiếm sản phẩm và mua bán trao đổi (29,6%) … Trong khi đó, dữ liệu được công bố trong các công cụ lập kế hoạch quảng cáo của các nền tảng mạng xã hội hàng đầu chỉ ra rằng có 72,55 triệu người dùng từ 18 tuổi trở lên sử dụng mạng xã hội ở Việt Nam vào đầu năm 2024, tương đương với 99,2% tổng dân số từ 18 tuổi trở lên. Các nền tảng mạng xã hội được dùng nhiều nhất là Facebook (89,7%), Zalo (88,5%), Tiktok (77,8%). Mạng xã hội còn là môi trường sáng tạo nội dung, phục vụ mục đích kinh doanh, thu hút quảng cáo. Doanh thu quảng cáo trên mạng xã hội ở Việt Nam liên tục tăng, trong năm 2022 là 2.192 tỷ USD tăng 12,7%[1].

2. Tin giả, tin sai sự thật tràn lan trên mạng xã hội

Bên cạnh mặt tích cực, mạng xã hội cũng có những mặt trái của nó. Tình trạng tin giả, tin sai sự thật được tạo ra, phát tán tràn lan, lan truyền rất khó kiểm soát, gây nên nhiều hệ lụy cho các cá nhân, tổ chức. Nhu cầu dùng mạng xã hội của các cá nhân là chính đáng, cần được tiếp cận các thông tin bổ ích, lành mạnh. Họ có quyền được bảo vệ, khuyến cáo hoặc cảnh báo khi tiếp xúc với các tin giả, tin sai sự thật, thậm chí có nội dung xấu độc. Tuy nhiên, vấn đề này đang có nhiều khó khăn, bởi còn có những rào cản về quy định pháp lý và các nền tảng kỹ thuật. Nhiều đối tượng đã đăng tải, tán phát nhiều tin giả, tin sai sự thật liên quan đến kinh tế, tài chính, tiền tệ, mục đích nhằm gây hoang mang dư luận, gây rối loạn, mất an ninh, an toàn thị trường, ảnh hưởng tiêu cực đến lợi ích, hoạt động bình thường của người dân, nhà đầu tư, doanh nghiệp. Tin giả, tin sai sự thật có tác động tiêu cực, gây tâm lý hoang mang, lo lắng trong dư luận quần chúng nhân dân; ảnh hưởng đến an ninh kinh tế, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, tác động tiêu cực đến nhiều mặt trong đời sống xã hội.

Một số vi phạm điển hình như:

- Đưa thông tin sai sự thật để câu view, like tăng lượng tương tác, hoặc thiếu hiểu biết pháp luật, thiếu kiểm chứng nguồn tin, bị cơ quan chức năng xử phạt vi phạm hành chính.

Mới đây, ngày 25/5/2024, Công an quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội đã xử phạt chị N.T.H.N, (sinh năm 1996, trú tại quận Hà Đông, Thành phố Hà Nội) là chủ tài khoản Facebook có tên “H.N” và chị N.T.A (sinh năm 1986, trú tại quận Thanh Xuân, Thành phố Hà Nội) là chủ tài khoản Facebook có tên “M.A.O.W” về hành vi đăng tải thông tin không chính xác đến vụ cháy xảy ra tại số 01 ngách 43/98/31 phố Trung Kính, phường Trung Hòa, quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội ngày 25/5/2024. Tại Công an quận Cầu Giấy, chị N và chị A đã thừa nhận hành vi vi phạm của bản thân vì muốn tăng tương tác cho tài khoản Facebook cá nhân và thiếu hiểu biết, chưa kiểm chứng nguồn thông tin trên mạng xã hội nên đã chia sẻ bài viết và thông tin chưa được kiểm chứng liên quan đến vụ hỏa hoạn trên. Chị N.T.H.N và chị N.T.A tự giác gỡ bỏ bài viết và cam kết không tái phạm.

Thông tin sai sự thật được chia sẻ trên mạng xã hội. Ảnh: Công an TP. Hà Nội

Công an quận Cầu Giấy đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với 02 trường hợp trên về hành vi “Cung cấp, chia sẻ thông tin bịa đặt, gây hoang mang trong nhân dân” quy định tại điểm d khoản 1 Điều 101 Nghị định số 15/2020/NĐ-CP ngày 03/02/2020 của Chính phủ quy định xử phạt hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, tần số vô tuyến điện, công nghệ thông tin, an toàn thông tin và giao dịch điện tử, với mỗi trường hợp bị xử phạt số tiền 7,5 triệu đồng[2].

- Có dấu hiệu tội phạm cố ý tạo ra, lan truyền các tin giả, thông tin sai sự thật xâm phạm an ninh quốc gia, quyền lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, bị khởi tố hình sự.

Ngày 4/7/2024, Văn phòng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đắk Nông đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can, bắt tạm giam với bị can Mai Diệp Thảo (sinh năm 1981, trú tại thị trấn Đắk Mil, huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông về tội “Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân”.

Lực lượng Công an đang tống đạt các quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can và thực hiện Lệnh bắt tạm giam đối với Mai Diệp Thảo.

Theo kết quả điều tra ban đầu, bị can Thảo có hành vi lợi dụng việc khiếu nại, tố cáo, nhiều lần đến Công an xã Đức Minh và Công an huyện Đắk Mil để chửi bới làm mất trật tự, ảnh hưởng đến hoạt động của Công an huyện Đắk Mil và Công an xã Đức Minh. Thảo dùng lời nói lăng mạ, xúc phạm các cán bộ lãnh đạo Công an huyện Đắk Mil và sử dụng điện thoại, camera giấu kín quay video, cắt ghép nội dung rồi đăng tải, chia sẻ lên mạng xã hội nhiều bài viết có nội dụng vu khống, sai sự thật về Công an huyện Đắk Mil… Mặc dù đã bị xử phạt vi phạm hành chính nhưng bị can Thảo vẫn tiếp tục có hành vi vi phạm[3].

Những trường hợp được dẫn chứng ở trên chỉ là một phần nhỏ trong những vụ việc được các cơ quan chức năng xử lý trong thời gian vừa qua. Thực trạng tin giả, tin sai sự thật đang trở thành vấn nạn trên mạng xã hội hiện nay. Điều này đặt ra nhiều trọng trách lên các nhà hoạch định chính sách, pháp luật, nhà quản lý, cơ quan chức năng. Bởi tính tự do, thoải mái sáng tạo nội dung và khó phát hiện, kiểm soát của mạng xã hội. Hơn nữa, do không có cơ chế ngăn chặn từ đầu mà chỉ giải quyết khâu phát hiện, xử lý nên chưa loại bỏ được thông tin giả, sai sự thật ra khỏi môi trường mạng xã hội.

3. Quy định của pháp luật Việt Nam về xử lý hành vi liên quan đến tin giả, tin sai sự thật trên không gian mạng

Pháp luật Việt Nam quy định cá nhân phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung thông tin do mình lưu trữ, cung cấp, truyền đưa trên mạng xã hội. Việc sử dụng mạng xã hội của cá nhân, tổ chức đều chịu sự điều chỉnh của các quy định pháp luật như Luật An ninh mạng năm 2018, Luật An toàn thông tin mạng năm 2015, Nghị định số 72/2013/NĐ-CP ngày 15/7/2013 của Chính phủ về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ internet và thông tin trên mạng[4] (Nghị định số 72/2015/NĐ-CP). Hành vi tạo ra, chia sẻ thông tin giả mạo, sai sự thật là hành vi bị nghiêm cấm. Điểm d khoản 1 Điều 8 Luật An ninh mạng năm 2018 nghiêm cấm hành vi thông tin sai sự thật gây hoang mang trong nhân dân, gây thiệt hại cho hoạt động kinh tế - xã hội, gây khó khăn cho hoạt động của cơ quan nhà nước hoặc người thi hành công vụ, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác. Tùy thuộc vào tính chất, mức độ và hậu quả của việc tung tin thất thiệt, các đối tượng tung tin sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính, hoặc bị xử lý trách nhiệm hình sự, trường hợp gây thiệt hại về danh dự, uy tín của cá nhân, tổ chức thì người vi phạm phải bồi thường thiệt hại theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015. Hiện nay, trách nhiệm dân sự, chế tài pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính, thậm chí xử lý hình sự đối với hành vi sử dụng mạng xã hội để tạo ra, cố ý lan truyền, bịa đặt thông tin sai sự thật đã khá đầy đủ.

3.1. Về trách nhiệm dân sự của người cố tình bịa đặt thông tin sai sự thật

Theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 thì danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân; đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình; quyền cá nhân đối với hình ảnh là quyền nhân thân, bất khả xâm phạm và được pháp luật bảo vệ. Thông tin ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín, đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình được đăng tải trên phương tiện thông tin đại chúng nào thì phải được gỡ bỏ, cải chính bằng chính phương tiện thông tin đại chúng đó. Nếu thông tin này được cơ quan, tổ chức, cá nhân cất giữ thì phải được hủy bỏ. Ngoài ra, người có hành vi xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín, bí mật đời tư cá nhân gây thiệt hại cho người khác phải bồi thường theo quy định của pháp luật.

3.2. Về chế tài xử phạt vi phạm hành chính

Đối với cá nhân có hành vi sử dụng mạng xã hội để tạo ra, cố ý lan truyền, bịa đặt thông tin sai sự thật thì sẽ bị xử phạt theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 101 Nghị định số 15/2020/NĐ-CP ngày 03/02/2020 của Chính phủ quy định xử phạt hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, tần số vô tuyến điện, công nghệ thông tin, an toàn thông tin và giao dịch điện tử[5] (Nghị định số 15/2020/NĐ-CP), mức xử phạt từ 10 triệu đồng đến 20 triệu đồng.

Đối với các trang tin điện tử, hành vi đưa thông tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của tổ chức, danh dự và nhân phẩm của cá nhân sẽ bị phạt tiền từ 20 triệu đến 30 triệu đồng (điểm a khoản 3 Điều 99 Nghị định số 15/2020/NĐ-CP).

Đối với tổ chức, doanh nghiệp thiết lập mạng xã hội. Hành vi chủ động lưu trữ, truyền đưa thông tin giả mạo, thông tin sai sự thật, vu khống, xuyên tạc, xúc phạm uy tín của tổ chức và danh dự, nhân phẩm của cá nhân; chủ động lưu trữ, truyền đưa thông tin bịa đặt, gây hoang mang trong nhân dân sẽ phạt tiền từ 50 triệu đồng đến 70 triệu đồng (điểm a khoản 3 Điều 100 Nghị định số 15/2020/NĐ-CP).

3.3. Về chế tài hình sự

Hiện nay pháp luật hình sự quy định trách nhiệm hình sự đối với người có hành vi cấu thành tội phạm cụ thể như sau:

- Đối với người có hành vi làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm có nội dung bịa đặt, gây hoang mang trong nhân dân với mục đích nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có thể bị xử lý về tội làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam theo Điều 117 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Bộ luật Hình sự năm 2015), người phạm tội sẽ bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm, phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 20 năm.

- Người có hành vi sử dụng mạng máy tính hoặc mạng viễn thông, phương tiện điện tử bịa đặt hoặc lan truyền những điều biết rõ là sai sự thật, nhằm xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác, có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội vu khống theo Điều 156 Bộ luật Hình sự năm 2015. Khung hình phạt cao nhất đối với người phạm tội có thể đến 07 năm tù. Ngoài ra, người phạm tội có thể sẽ bị áp dụng hình phạt bổ sung như phạt tiền, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định…

- Nếu có hành vi đưa lên mạng máy tính, mạng viễn thông những thông tin trái với quy định của pháp luật để thu lợi bất chính từ 50 triệu đồng đến dưới 200 triệu đồng hoặc gây thiệt hại từ 100 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng hoặc gây dư luận xấu, làm giảm uy tín của cơ quan, tổ chức, cá nhân thì có thể bị xử lý về tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông theo khoản 1 Điều 288 Bộ luật Hình sự năm 2015.

4. Đề xuất một số giải pháp khắc phục

Thứ nhất, hoàn thiện hệ thống pháp luật về chống tin giả, thông tin sai sự thật.

Hiện nay, trong hệ thống pháp luật, chế tài xử lý tin giả, thông tin sai sự thật đang nằm rải rác ở trong các văn bản quy phạm pháp luật như Luật An toàn thông tin mạng năm 2015, Luật An ninh mạng năm 2018, Nghị định số 72/2013/NĐ-CP. Bên cạnh đó, Bộ Thông tin và Truyền thông đã ban hành Bộ Quy tắc ứng xử trên mạng xã hội mạng. Điều đó cho thấy hành lang pháp lý về quản lý thông tin trên mạng xã hội đã được xây dựng, chú trọng, thể hiện sự quyết tâm của cơ quan chức năng nhằm làm trong sạch, tạo môi trường an ninh thông tin, an toàn mạng ở nước ta. Tuy nhiên, cho đến nay Việt Nam vẫn chưa có luật về chống tin giả, tin sai sự thật trên không gian mạng. Theo tác giả, các cơ quan chức năng cần nghiên cứu, ban hành Luật Chống tin giả, thông tin sai sự thật để nhận diện các loại tin giả, tin sai sự thật và áp dụng các biện pháp, chế tài đủ mạnh, đảm bảo tính phòng ngừa và răn đe.

Về chế tài hành chính xử lý, hiện nay, mức xử phạt chưa tương xứng, còn áp dụng chung, chưa phân hóa xử lý mạnh tay đối với những hành vi cố tình bịa đặt, lan truyền thông tin sai sự thật, vì lợi ích kinh tế, tác động xấu đến an ninh kinh tế, trật tự - an toàn xã hội, gây thiệt hại về quyền và lợi ích hợp pháp của các cá nhân, tổ chức (tạo scandal, câu view, câu like) để bán hàng, thu lợi bất chính. Do đó, chưa đủ mạnh để răn đe đối với các đối tượng vi phạm.

Ngoài ra, tình trạng phát hiện, xử phạt chưa kịp thời cũng là vấn đề cần xem xét, vì nếu không quyết liệt xử lý sẽ dẫn đến các đối tượng vi phạm coi thường luật pháp, bất chấp vì lợi ích nào đó mà vẫn vi phạm.

Luật sư Nguyễn Văn Nguyên

Thứ hai, nghiên cứu xây dựng lực lượng chuyên trách thực hiện chống tin giả, thông tin sai sự thật trên mạng xã hội.

Với lượng thông tin khổng lồ trên mạng xã hội thì việc quản lý, phát hiện để kịp thời xử lý các thông tin sai sự thật không đơn giản. Đây là nguyên nhân số vụ vi phạm được phát hiện và xử lý trong thời gian qua còn khá khiêm tốn. Chúng ta chưa đủ nguồn lực để đấu tranh triệt để, bóc gỡ, ngăn chặn, phòng ngừa hữu hiệu mà chủ yếu là phát hiện và xử lý, bởi các rào cản về nền tảng, hạ tầng kỹ thuật, hệ thống dữ liệu. Do đó, để làm trong sạch, lành mạnh môi trường thông tin mạng vẫn còn nhiều điều cần phải xử lý. Hiện nay, lực lượng chức năng thực thi công tác an ninh, an toàn an ninh mạng, xử lý vi phạm trên không gian mạng có Thanh tra Bộ Thông tin và Truyền thông, Thanh tra Sở Thông tin và Truyền thông, cơ quan công an. Việc nghiên cứu xây dựng cơ quan điều phối, chuyên trách thực hiện phòng chống tin giả, tin sai sự thật là một giải pháp tính đến khi ban hành luật về chống tin giả, thông tin sai sự thật.

Thứ ba, quan tâm công tác tuyên truyền pháp luật, ý thức trách nhiệm của người tham gia mạng xã hội.

Người tham gia mạng xã hội vẫn còn thiếu ý thức tuân thủ pháp luật, trách nhiệm xã hội, thiếu kiến thức nền tảng về sử dụng mạng xã hội, cung cấp thông tin nên dẫn đến việc họ cố tình hoặc vô ý tạo hoặc tiếp sức cho việc tạo ra, lan truyền và phát tán tin giả, thông tin sai sự thật. Vì vậy, cần có nhiều chương trình truyền thông, tuyên truyền pháp luật về an ninh mạng, quy định xử lý vi phạm đối với các hành vi vi phạm pháp luật trên không gian mạng, kỹ năng nhận biết tin giả, tin sai sự thật và cách phòng tránh, không chia sẻ, tương tác để người tham gia mạng xã hội nắm được, xây dựng lối sống văn minh, ứng xử văn hóa, có trách nhiệm, nêu gương sáng, việc tốt để lan tỏa các nội dung lành mạng trên môi trường mạng xã hội./.

Luật sư Nguyễn Văn Nguyên

Giám đốc Công ty Luật Hưng Nguyên, Đoàn Luật sư Thành phố Hà Nội

Ảnh đại diện: internet


[1]https://dcca.org.vn/bao-cao-ve-ky-thuat-so-viet-nam-2024;https://thanhnien.vn/the-gioi-co-5-ti-nguoi-dung-mang-xa-hoi-185240202182423976.htm; https://vneconomy.vn/tang-truong-doanh-thu-quang-cao-viet-nam-nam-2022-dung-thu-2-khu-vuc-asean.htm.

[2] https://baophapluat.vn/xu-phat-2-nguoi-phu-nu-dua-tin-sai-su-that-ve-vu-chay-o-pho-trung-kinh-ha-noi-post514180.html.

[3] https://daidoanket.vn/dak-nong-bat-tam-giam-doi-tuong-dung-mang-xa-hoi-dang-tin-sai-su-that-10284826.html.

[4] Được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 27/2018/NĐ-CP ngày 01/3/2018 của Chính phủ.

[5] Được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 14/2022/NĐ-CP ngày 27/01/2022 của Chính phủ.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.
Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Với mục tiêu đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thành phố Hà Nội đặt trọng tâm vào đổi mới nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật, tăng cường ứng dụng công nghệ số và xây dựng đội ngũ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật am hiểu địa bàn, phong tục, tập quán và văn hóa của người dân nơi đây.
Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Ngày 16/6/2022, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIII ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW về "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao" (Nghị quyết số 18-NQ/TW). Để hiện thực hóa mục tiêu đưa đất nước trở thành nước phát triển có thu nhập cao, trong thời điểm hiện tại, nhằm phù hợp với sự phát triển chung của đất nước, Hội nghị lần thứ ba, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIV đã đưa ra những quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan tại Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 (Nghị quyết số 21-NQ/TW) làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động sửa đổi chính sách pháp luật sau này. Nghị quyết số 21-NQ/TW đã thể hiện những điểm mới trong chủ trương của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.
Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026 được Quốc hội thông qua ngày 23/4/2026 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm xây dựng và phát triển Thủ đô. Đáng chú ý, tại Điều 26 của Luật đã thiết lập khung chính sách tương đối toàn diện về thu hút đầu tư, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư và phát triển doanh nghiệp, mở rộng cơ hội cho nhiều dự án trên địa bàn Thành phố được tiếp cận các chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng, hạ tầng, phát triển nhân lực và đổi mới sáng tạo.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.
Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh ngân hàng số phát triển, thông tin chưa được kiểm chứng có thể tác động nhanh đến tâm lý và hành vi của người gửi tiền. Nghiên cứu phân tích quy định pháp luật và thực tiễn phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hoạt động này chưa chú trọng đầy đủ đến mức độ hiểu và khả năng vận dụng pháp luật của người gửi tiền; nội dung còn thiên về tính chuyên môn; phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật và cơ chế cung cấp thông tin kịp thời còn hạn chế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá, tích hợp thông tin pháp luật ngắn gọn vào dịch vụ ngân hàng số và tăng cường cung cấp thông tin chính thức, kịp thời nhằm bảo vệ người gửi tiền và củng cố niềm tin vào hệ thống ngân hàng.
Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Quyền con người phản ánh sự kết tinh những giá trị nhân phẩm cao quý của nhân loại. Nghiên cứu công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người là phân tích, đánh giá phương thức thể chế hóa các chủ trương của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời, đề xuất giải pháp khắc phục những hạn chế của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 trước thách thức mới từ công nghệ số. Trên cơ sở tổng hợp và so sánh luật học, nghiên cứu phân tích, đánh giá vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người và thực trạng thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012. Đồng thời, nghiên cứu đánh giá tính phù hợp, khả thi của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Từ đó, kiến nghị và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 quy định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy mà không tự nguyện cai nghiện. Mặc dù không được xem là biện pháp xử lý hành chính nhưng biện pháp này mang tính cách ly người bị áp dụng khỏi cộng đồng. Để bảo vệ quyền của người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, pháp luật cho phép các chủ thể liên quan khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định quyền khởi kiện hay kháng cáo đối với quyết định này. Nghiên cứu phân tích bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, đồng thời, đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng biện pháp này.
Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã xác định rõ trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách tư pháp và chuyển đổi số quốc gia, vai trò này ngày càng trở nên quan trọng. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý, thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Tòa án nhân dân; trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động này trong hệ thống Tòa án nhân dân.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Sự phát triển của nền tảng số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang làm thay đổi phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật, đồng thời, đặt ra nhiều thách thức trong kiểm soát thông tin pháp luật trên môi trường số. Bên cạnh việc mở rộng khả năng tiếp cận pháp luật của người dân, tình trạng lan truyền thông tin pháp luật sai lệch, thiếu kiểm chứng hoặc được tạo sinh bởi hệ thống trí tuệ nhân tạo đang ảnh hưởng đến hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật và quyền tiếp cận thông tin pháp luật chính xác. Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam, nghiên cứu phân tích bất cập trong kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm chính xác của thông tin pháp luật trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

(Cập nhật bởi LuatVietnam.vn)
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Tóm tắt: Mô hình chính quyền địa phương hai cấp được triển khai ở Việt Nam từ ngày 01/7/2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quá trình đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, tăng cường phân quyền, phân cấp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị địa phương. Nghiên cứu phân tích các cơ hội và thách thức trong quá trình triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam, làm rõ những vấn đề đặt ra trong hoàn thiện thể chế, bảo đảm nguồn lực và nâng cao năng lực quản trị địa phương, từ đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam thời gian tới.
Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ và Nhân dân. Tuy nhiên, trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số và hoàn thiện thể chế theo chủ trương, định hướng của Đảng, nhiều quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 bộc lộ những hạn chế, bất cập. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, tổng kết thực tiễn thi hành và bối cảnh phát triển đất nước giai đoạn mới, nghiên cứu làm rõ những bất cập về tổ chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật, đối tượng đặc thù, nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật và sự không thống nhất của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 với một số luật liên quan. Từ đó, kiến nghị sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong bối cảnh hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Tóm tắt: Việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 là cấp thiết trước yêu cầu khắc phục tình trạng tuyên truyền thiên về hình thức, chưa gắn chặt với những vấn đề pháp lý mà người dân thực sự cần được hỗ trợ. Nghiên cứu phân tích khoảng cách giữa nguyên tắc phù hợp với nhu cầu và cơ chế nhận diện, phản ánh, đáp ứng, đo lường nhu cầu pháp lý trong dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật[1] (dự thảo Luật). Trên cơ sở phân tích quy phạm, bình luận chính sách và tiếp cận liên ngành về nhu cầu pháp lý, năng lực pháp lý, tiếp cận công lý, nghiên cứu tập trung vào các quy định về nguyên tắc, nội dung, hình thức, hướng dẫn và giải đáp pháp luật, đối tượng đặc thù, giáo dục pháp luật trong cơ sở giáo dục, trách nhiệm tổ chức thực hiện, cơ chế cấp xã, chuyển đổi số và đánh giá hiệu quả. Kết quả nghiên cứu cho thấy, dự thảo Luật đã có nhiều định hướng tích cực nhưng thiếu cơ chế khảo sát nhu cầu, thiết kế nội dung theo tình huống, chuyển tuyến hỗ trợ pháp lý và đánh giá khả năng hiểu, vận dụng pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các cơ chế bảo đảm cách tiếp cận lấy nhu cầu pháp lý của người dân làm trung tâm.
Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh, mạnh mẽ của không gian mạng đang tác động sâu sắc đến đời sống xã hội, đồng thời, đặt ra nhiều rủi ro đối với người chưa thành niên. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật cho nhóm đối tượng này. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết của chuyển đổi số trong phổ biến, giáo dục pháp luật đối với người chưa thành niên; đánh giá thực trạng triển khai tại Việt Nam, chỉ ra những hạn chế, bất cập, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên.

Theo dõi chúng tôi trên: