Thứ năm 21/05/2026 23:51
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Xác định đối tượng trợ giúp pháp lý là người dân tộc thiểu số vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn khi triển khai chính quyền địa phương hai cấp

Sau khi thực hiện sắp xếp tổ chức bộ máy chính quyền địa phương hai cấp, việc xác định đối tượng trợ giúp pháp lý người dân tộc thiểu số vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn phát sinh một số bất cập cần có giải pháp tháo gỡ.

Tinh gọn bộ máy - yêu cầu cấp thiết phát triển đất nước trong giai đoạn mới

Việt Nam đang bước vào giai đoạn phát triển mới - giai đoạn của khát vọng vươn lên mạnh mẽ, khẳng định vị thế dân tộc trên trường quốc tế. Thực hiện định hướng phát triển đất nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, nhiều đổi mới lớn về tổ chức bộ máy và thể chế đang được triển khai đồng bộ, trong đó có việc tinh gọn hệ thống chính quyền địa phương. Theo Nghị quyết số 37-NQ/TW ngày 24/12/2018 của Bộ Chính trị về việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp huyện và cấp xã, Nghị quyết số 203/2025/QH15 ngày 16/6/2025 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Nghị quyết số 203/2025/QH15), cả nước đang từng bước sắp xếp lại đơn vị hành chính cấp tỉnh, giảm từ 63 xuống 34 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, đồng thời bãi bỏ mô hình tổ chức chính quyền cấp huyện, chỉ duy trì hai cấp chính quyền (cấp tỉnh và cấp xã).

Đây không chỉ là quyết sách hành chính đơn thuần mà là minh chứng cho quyết tâm chính trị lớn của Đảng và Nhà nước trong việc đổi mới toàn diện, xây dựng bộ máy “tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả”, hướng đến một nền hành chính phục vụ Nhân dân, phù hợp với yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới. Tuy nhiên, mọi cuộc cải cách thể chế lớn đều đặt ra không ít thách thức trong giai đoạn đầu, đặc biệt là những lỗ hổng, vướng mắc về quy định pháp luật và triển khai thực tiễn. Một trong những vấn đề nổi bật hiện nay là việc xác định đối tượng được trợ giúp pháp lý miễn phí đối với người dân tộc thiểu số đang sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, khi tiêu chí phân vùng, địa bàn ưu tiên cũng có những thay đổi theo mô hình tổ chức mới.

Cách xác định người được trợ giúp pháp lý là người dân tộc thiểu số vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn

Theo quy định tại khoản 4 Điều 7 Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017, người dân tộc thiểu số cư trú tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn là một trong những đối tượng được hưởng dịch vụ trợ giúp pháp lý miễn phí của Nhà nước. Quy định này không chỉ thể hiện tinh thần nhân đạo sâu sắc mà còn cụ thể hóa nguyên tắc “mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật” - một giá trị cốt lõi được Hiến pháp và các chính sách của Đảng, Nhà nước luôn nhất quán. Việc tạo điều kiện tiếp cận công lý cho những người yếu thế, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng sâu, vùng xa, là minh chứng cho sự quan tâm, ưu tiên rõ nét của Đảng và Nhà nước đối với khu vực miền núi, biên giới, hải đảo - nơi mà điều kiện sống và tiếp cận dịch vụ công vẫn còn nhiều hạn chế.

Để xác định chính xác địa bàn cư trú của người dân tộc thiểu số có thuộc diện “vùng đặc biệt khó khăn” hay không, từ đó làm căn cứ hưởng trợ giúp pháp lý, các Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước và cơ quan có thẩm quyền căn cứ vào hệ thống các văn bản pháp luật, cụ thể: Quyết định số 861/QĐ-TTg ngày 04/6/2021 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt danh sách các xã khu vực III, khu vực II, khu vực I thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 - 2025 (Quyết định số 861/QĐ-TTg); Quyết định số 433/QĐ-UBDT ngày 18/6/2021 của Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc phê duyệt danh sách thôn đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 - 2025 (Quyết định số 433/QĐ-UBDT); Quyết định số 497/QĐ-UBDT ngày 30/7/2024 của Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc phê duyệt điều chỉnh, bổ sung và hiệu chỉnh tên huyện, xã, thôn đặc biệt khó khăn, thôn thuộc vùng dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 - 2025 (Quyết định số 497/QĐ-UBDT).

Ngày 11/6/2025, Chính phủ ban hành Nghị định số 124/2025/NĐ-CP quy định về phân quyền, phân cấp; phân định thẩm quyền của chính quyền địa phương 02 cấp trong lĩnh vực công tác dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo (Nghị định số 124/2025/NĐ-CP), có hiệu lực từ ngày 01/7/2025 và hết hiệu lực từ ngày 01/3/2027 (trừ trường hợp được cấp có thẩm quyền quyết định kéo dài thời gian áp dụng toàn bộ hoặc một phần Nghị định này). Theo Điều 7 Nghị định số 124/2025/NĐ-CP, việc phê duyệt danh sách xã khu vực III, II, I và công nhận thôn đặc biệt khó khăn thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 - 2025 như sau:

(i) Việc phê duyệt danh sách xã khu vực III, II, I và công nhận thôn đặc biệt khó khăn thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 - 2025 quy định tại khoản 4 Điều 7 Quyết định số 33/2020/QĐ-TTg ngày 12/11/2020 của Thủ tướng Chính phủ về tiêu chí phân định vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi theo trình độ phát triển giai đoạn 2021 - 2025 (Quyết định số 33/2020/QĐ-TTg) thuộc thẩm quyền thực hiện của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.

(ii) Trình tự, thủ tục xác định xã khu vực III, II, I và thôn đặc biệt khó khăn thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 - 2025 như sau:.

- Ủy ban nhân dân cấp xã căn cứ tiêu chí quy định tại các điều 2, 3, 4, 5, 6 Quyết định số Quyết định số 33/2020/QĐ-TTg để xác định xã khu vực III, II, I và thôn đặc biệt khó khăn thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi theo trình độ phát triển giai đoạn 2021 - 2025; lập báo cáo kết quả xác định gửi Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong thời hạn 15 ngày làm việc kể từ ngày Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chỉ đạo, tổ chức triển khai thực hiện.

- Trong thời hạn 45 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ của các xã, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh rà soát, thẩm định, quyết định phê duyệt danh sách các thôn đặc biệt khó khăn và công nhận danh sách các xã khu vực III, II, I thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 - 2025.

- Trường hợp hồ sơ, tài liệu chưa bảo đảm quy định, trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có văn bản trả lời và nêu rõ lý do.

(iii) Hồ sơ xác định xã khu vực III, II, I và thôn đặc biệt khó khăn thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 - 2025: Bảng đánh giá của xã và các thôn về mức độ đạt hoặc không đạt tiêu chí quy định tại các điều 2, 3, 4, 5, 6 Quyết định số 33/2020/QĐ-TTg; báo cáo kết quả và danh sách chi tiết xác định các xã khu vực III, II, I và thôn được xác định đặc biệt khó khăn thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 - 2025; quyết định phê duyệt kết quả xác định tỷ lệ hộ nghèo của cấp có thẩm quyền đối với các xã, thôn; số liệu về dân số, tỷ lệ hộ dân tộc thiểu số, hộ nghèo là hộ dân tộc thiểu số và số liệu, tài liệu của xã, thôn có liên quan đến các tiêu chí quy định tại các điều 2, 3, 4, 5, 6 Quyết định số 33/2020/QĐ-TTg.

(iv) Trách nhiệm của Ủy ban nhân dân các cấp trong việc phê duyệt danh sách xã khu vực III, II, I và công nhận thôn đặc biệt khó khăn thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 - 2025:

- Ủy ban nhân dân cấp tỉnh căn cứ tiêu chí quy định tại Quyết định số 33/2020/QĐ-TTg chỉ đạo Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức rà soát, lập danh sách xã khu vực III, II, I và thôn đặc biệt khó khăn thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 - 2025 gửi Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, phê duyệt.

- Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm: Căn cứ các tiêu chí quy định tại Quyết định số 33/2020/QĐ-TTg, tổ chức rà soát, lập hồ sơ xác định danh sách xã khu vực III, II, I và thôn đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 - 2025 gửi Ủy ban nhân dân cấp tỉnh theo quy định; cung cấp và chịu trách nhiệm về tính chính xác của các tài liệu, số liệu có liên quan trong quá trình kiểm tra, rà soát xác định xã khu vực III, II, I và thôn đặc biệt khó khăn thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 - 2025.

Điểm nhấn quan trọng trong cơ chế mới là chuyển vai trò từ trung ương sang địa phương - từ mô hình “trung ương xét duyệt, địa phương kiến nghị” sang “địa phương quyết định, trung ương giám sát và cập nhật”. Việc giao quyền phê duyệt danh sách vùng đặc biệt khó khăn cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh không chỉ phù hợp với thực tiễn quản lý, vì chính địa phương mới là nơi nắm sát nhất điều kiện dân cư và địa bàn, mà còn thể hiện tư duy đổi mới mạnh mẽ của Chính phủ về phân cấp, phân quyền, theo đúng tinh thần Nghị quyết số 04/NQ-CP ngày 10/01/2022 của Chính phủ về đẩy mạnh phân cấp, phân quyền trong quản lý nhà nước.

Bất cập trong xác định đối tượng trợ giúp pháp lý khi triển khai chính quyền hai cấp

Việc thực hiện chính quyền địa phương hai cấp, phân quyền, phân quyền đòi hỏi yêu cầu cao về năng lực quản trị, tính minh bạch, khách quan và trách nhiệm giải trình của chính quyền cấp tỉnh. Trong bối cảnh sáp nhập đơn vị hành chính và thay đổi địa giới hành chính hàng loạt, nếu không có cơ chế kiểm tra, giám sát chặt chẽ và hướng dẫn kịp thời, việc xác định sai hoặc chậm cập nhật danh sách xã, thôn đặc biệt khó khăn có thể gây ảnh hưởng trực tiếp đến quyền được hưởng trợ giúp pháp lý miễn phí của người dân tộc thiểu số - nhóm vốn đã gặp nhiều bất lợi trong việc tiếp cận pháp luật.

Bên cạnh đó, một trong những khó khăn lớn nhất hiện nay đối với các Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước và các cơ quan liên quan là việc xác định địa bàn cư trú của người dân tộc thiểu số có thuộc vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn hay không để làm căn cứ hưởng trợ giúp pháp lý miễn phí. Theo quy định, cơ sở pháp lý để tra cứu hiện vẫn là các văn bản như Quyết định số 861/QĐ-TTg, Quyết định số 433/QĐ-UBDT và Quyết định số 497/QĐ-UBDT. Tuy nhiên, các văn bản này đều được ban hành trên cơ sở mô hình tổ chức chính quyền ba cấp (tỉnh - huyện - xã), hiện đã không còn phù hợp với mô hình chính quyền địa phương hai cấp từ ngày 01/7/2025 theo Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2024 và Nghị quyết số 203/2025/QH15. Trong khi đó, chưa có quyết định nào mới được ban hành kịp thời để thay thế hoặc cập nhật danh sách xã, thôn đặc biệt khó khăn theo mô hình tổ chức mới, dẫn đến khoảng trống pháp lý và sự lúng túng trong áp dụng.

Chính vì vậy, khi tiếp nhận và xử lý hồ sơ trợ giúp pháp lý, các Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước và cơ quan phối hợp vẫn phải căn cứ hệ thống văn bản không còn tương thích với địa danh, địa giới hành chính mới. Điều này đặt ra gánh nặng kép: Vừa phải tra cứu thủ công, đối chiếu địa danh cũ, vừa phải ghi chú, cập nhật thêm địa chỉ hành chính mới theo dữ liệu dân cư quốc gia (VNeID) - nơi thông tin cư trú của người dân đã được đồng bộ theo mô hình hành chính mới (điều này cũng đã được đồng bộ trên hệ thống quản lý trợ giúp pháp lý quốc gia).

Việc vừa tra cứu song song trên hai hệ thống thông tin, lại thiếu văn bản hướng dẫn chuyển tiếp và liên thông dữ liệu, không chỉ gây tốn thời gian, nhân lực và dễ sai sót trong khâu xác minh, mà còn dẫn đến tình trạng kéo dài thời gian xử lý hồ sơ, làm chậm tiến độ tiếp cận trợ giúp pháp lý của người dân. Ngoài ra, sự chậm trễ trong việc ban hành quyết định danh sách xã, thôn đặc biệt khó khăn tại cấp tỉnh (như quy định tại Nghị định số 124/2025/NĐ-CP) cũng làm trì hoãn việc cập nhật cơ sở dữ liệu quốc gia, ảnh hưởng đến các chính sách khác liên quan như giáo dục, y tế, giảm nghèo và bảo hiểm xã hội vốn có tiêu chí ưu tiên vùng khó khăn. Tình trạng này nếu kéo dài sẽ dẫn đến thiếu thống nhất trong thực hiện chính sách ở các tỉnh, tạo khoảng cách trong bảo đảm quyền tiếp cận công lý giữa các địa phương.

Kiến nghị hoàn thiện chính sách và giải pháp chuyển tiếp

Trước những bất cập và hệ lụy nêu trên, để bảo đảm quyền được tiếp cận trợ giúp pháp lý của người dân tộc thiểu số sống tại vùng đặc biệt khó khăn không bị gián đoạn trong giai đoạn chuyển đổi mô hình chính quyền và chưa ban hành hệ thống văn bản thay thế phù hợp, cần sớm có giải pháp đồng bộ về thể chế, công nghệ và quản trị dữ liệu như sau:

Thứ nhất, cần khẩn trương ban hành danh sách xã, thôn đặc biệt khó khăn theo thẩm quyền mới được quy định tại Nghị định số 124/2025/NĐ-CP. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, với vai trò là cơ quan có thẩm quyền chính thức, cần chủ động phối hợp với các sở, ngành liên quan để tiến hành rà soát, lập và công bố danh sách xã, thôn đặc biệt khó khăn trên địa bàn tỉnh. Việc này vừa giúp thống nhất quản lý nhà nước về vùng chính sách, vừa tạo căn cứ pháp lý rõ ràng để các Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước áp dụng thuận lợi, chính xác.

Thứ hai, cần ban hành hướng dẫn tạm thời về việc xác minh diện người được trợ giúp pháp lý trong giai đoạn chuyển tiếp, cho phép các Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tiếp tục áp dụng tạm thời các quyết định như Quyết định số 861/QĐ-TTg, Quyết định số 433/QĐ-UBDT và Quyết định số 497/QĐ-UBDT kết hợp với dữ liệu cư trú hiện hành từ Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư (VNeID) để xác định địa bàn cư trú thực tế của người dân.

Thứ ba, cần thiết lập cơ chế kết nối dữ liệu giữa hệ thống trợ giúp pháp lý và hệ thống quản lý danh sách các xã, thôn đặc biệt khó khăn. Đây là giải pháp căn cơ, bền vững để bảo đảm việc tra cứu thông tin đối tượng thụ hưởng được nhanh chóng, chính xác và thống nhất trên phạm vi toàn quốc. Cụ thể: (i) Các cơ quan chức năng có thẩm quyền cấp trung ương cần phối hợp để tích hợp danh sách xã, thôn đặc biệt khó khăn (do Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt) vào hệ thống phần mềm quản lý trợ giúp pháp lý, đồng thời kết nối với cơ sở dữ liệu dân cư quốc gia để tự động xác định đối tượng đủ điều kiện; (ii) Các Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước khi tra cứu hồ sơ có thể đối chiếu địa chỉ cư trú của người dân được đồng bộ với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư (trên VNeID) với danh sách xã, thôn được cập nhật tự động trên hệ thống quản lý trợ giúp pháp lý, không cần tra cứu thủ công từ văn bản giấy như hiện nay, vừa tiết kiệm thời gian, vừa giảm nguy cơ sai sót.

Thứ tư, cần có chỉ đạo thống nhất toàn quốc về áp dụng chính sách ưu tiên bảo vệ quyền lợi của người dân tộc thiểu số trong giai đoạn chuyển tiếp. Trong đó, đối với các trường hợp có địa chỉ cư trú thuộc khu vực giáp ranh hoặc đang trong quá trình sắp xếp hành chính nên áp dụng nguyên tắc “có lợi cho người dân” để tạm thời công nhận đối tượng được hưởng trợ giúp pháp lý, tránh để người dân chịu thiệt thòi vì lý do kỹ thuật hành chính.

Việc bảo đảm tính kịp thời, minh bạch và hiệu quả trong xác minh đối tượng thuộc diện trợ giúp pháp lý miễn phí, nhất là đối với đồng bào dân tộc thiểu số vùng đặc biệt khó khăn, không chỉ là yêu cầu chuyên môn, mà còn là trách nhiệm chính trị và pháp lý của Nhà nước bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong hành trình tiếp cận công lý.

Ảnh: Internet

ThS.TGVPL. Nguyễn Thị Thanh Xuân - Chi nhánh Trợ giúp pháp lý số 4 - Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước thành phố Hà Nội

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Đổi mới công tác kiểm tra, giám sát không chỉ dừng lại ở việc xử lý vi phạm mà cốt lõi là để cảnh báo, phòng ngừa và kiến tạo sự phát triển. Trước thực trạng 70% cán bộ kiểm tra cấp xã còn lúng túng về nghiệp vụ và áp lực từ việc thiếu vắng sự giám sát của Hội đồng nhân dân tại các xã, phường, Hà Nội đang nỗ lực tìm kiếm những mô hình mới như "giám sát dữ liệu số" hay cơ chế bảo vệ cán bộ "dám nói, dám làm". Đây chính là chìa khóa để bảo đảm bộ máy chính quyền Thủ đô vận hành liêm chính và hiệu quả sau khi tinh gọn.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013[*], góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Sau 08 năm thi hành, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đặc biệt, liên quan đến phạm vi thông tin, trách nhiệm cung cấp thông tin, trình tự, thủ tục và điều kiện bảo đảm thực hiện quyền. Trên cơ sở nhận diện các vướng mắc, bất cập, nghiên cứu đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung Luật theo hướng bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và tổ chức bộ máy nhà nước, đồng thời kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành, qua đó góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân và xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch.
Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.
Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Những nỗ lực số hóa hồ sơ, vận hành Hệ thống quản lý trợ giúp pháp lý, kết nối dữ liệu dân cư, phát triển tư vấn trực tuyến… đã mở ra hướng tiếp cận mới, góp phần nâng cao chất lượng và tính minh bạch của dịch vụ trợ giúp pháp lý.
Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Trong tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc bảo đảm quyền con người luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đặc biệt, với đối tượng yếu thế, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết và nhân văn. Trong tố tụng hình sự (TTHS), đối tượng yếu thế với tư cách bị hại, người làm chứng hay bị can, bị cáo, đã và đang phải đối mặt với hệ thống tư pháp hình sự. Đối tượng yếu thế có được tiếp cận công lý bình đẳng hay không phụ thuộc vào sự công tâm, chuyên nghiệp và nhạy cảm của các cơ quan trong hoạt động tố tụng, trong đó có vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý.
Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy phát triển bền vững, hoạt động trợ giúp pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công bằng xã hội và tiếp cận công lý cho người dân, đặc biệt là người nghèo thuộc nhóm đối tượng yếu thế.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Đây là giải pháp quan trọng nhằm khắc phục khó khăn, vướng mắc, nâng cao chất lượng tổ chức thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai Luật cũng bộc lộ những bất cập, hạn chế cần sửa đổi, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.

Theo dõi chúng tôi trên: