Thứ ba 15/09/2026 16:01
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Khoảng trống pháp lý về ly thân tại Việt Nam - Thực trạng và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Phản ánh mức độ can thiệp của Nhà nước vào quan hệ hôn nhân và gia đình, ly thân pháp lý cấu thành cơ chế mà theo đó, các bên vợ chồng được phép sống riêng nhưng vẫn duy trì giá trị pháp lý của hôn nhân, gắn với các quyền và nghĩa vụ được xác định rõ ràng. Tại Việt Nam, dù trở thành hiện tượng xã hội phổ biến, song, ly thân hiện chưa được pháp luật điều chỉnh, làm cho các quyền và nghĩa vụ về nhân thân, tài sản của vợ chồng trong thời gian ly thân thiếu căn cứ pháp lý để xác định. Khoảng trống pháp lý này tiềm ẩn nguy cơ xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của các bên liên quan, cũng như của chủ thể thứ ba do thiếu biện pháp pháp lý bảo đảm tương xứng. Nghiên cứu phân tích, làm rõ khoảng trống pháp lý thông qua các số liệu thực tế, kinh nghiệm quốc tế và nền tảng lý luận về quyền con người, từ đó, đề xuất xây dựng chế định ly thân trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Từ khoá: ly thân; chế định ly thân; khoảng trống pháp lý; Luật Hôn nhân và gia đình.

Nhận bài: 04/5/2026 Hoàn thành biên tập: 03/6/2026 Duyệt đăng: 09/6/2026

LEGAL GAPS REGARDING SEPARATION IN VIETNAM - CURRENT SITUATION AND SOME RECOMMENDATIONS FOR IMPROVEMENT

Abstract: Reflecting the extent of state intervention in marital and family relations, legal separation constitutes a mechanism whereby spouses are allowed to live separately while maintaining the legal validity of the marriage, linked to clearly defined rights and obligations. In Vietnam, although it has become a common social phenomenon, legal separation is currently not regulated by law, leaving the personal and property rights and obligations of spouses during separation without a legal basis for determination. This legal gap poses a potential risk of infringing upon the legitimate rights and interests of the parties involved, as well as third parties, due to the lack of adequate legal safeguards. This study analyzes and clarifies this legal gap through factual data, international experience, and the theoretical foundation of human rights, thereby proposing the establishment of a legal separation provision in the 2014 Law on Marriage and Family.

Keywords: Legal separation; legal separation provision; legal gap; Law on Marriage and Family.

Article received: 04/5/2026 Editing completed: 03/6/2026 Approved for publication: 09/6/2026

Đặt vấn đề

Sự biến chuyển của các quan hệ xã hội trong bối cảnh hiện đại đặt ra yêu cầu hoàn thiện pháp luật, đặc biệt, trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình. Tại Việt Nam, việc vợ chồng lựa chọn sống riêng nhưng vẫn duy trì hôn nhân về mặt pháp lý diễn ra phổ biến. Tuy nhiên, trạng thái này chưa được điều chỉnh trong hệ thống pháp luật, dẫn đến thực tế quyền và nghĩa vụ về nhân thân, tài sản của vợ chồng bị đặt trong trạng thái “mơ hồ”, thiếu cơ sở xác định ranh giới; quyền lợi của con chung - đối tượng cần được bảo vệ đặc biệt, có nguy cơ bị ảnh hưởng mà không có cơ chế bảo đảm tương xứng. Vì thế, xây dựng định chế ly thân là yêu cầu tất yếu. Nghiên cứu tiếp cận giữa lý luận và thực tiễn, so sánh với pháp luật một số quốc gia trên thế giới, từ đó, lý giải sự cần thiết phải luật hóa ly thân và đề xuất một số kiến nghị, giải pháp cho việc xây dựng chế định này trong Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam hiện hành.

1. Bản chất pháp lý của ly thân

Ly thân là thiết chế phản ánh mức độ can thiệp của Nhà nước vào đời sống hôn nhân và gia đình. Phù hợp thực tiễn, nhiều quốc gia đã luật hóa ly thân như một chế định độc lập (Pháp), hay như một cơ chế linh hoạt (Singapore) hoặc như một giải pháp thay thế ly hôn (Philippines) và cấu trúc ly thân trong Luật Gia đình, Luật Ly hôn, Luật Dân sự hoặc các luật khác. Xuất phát từ ý chí đồng thuận hay đơn phương, pháp luật các nước phân quyền giải quyết công nhận ly thân theo thủ tục tố tụng và (hoặc) theo thủ tục hành chính linh hoạt. Quyết định ly thân của cơ quan có thẩm quyền dẫn đến hệ quả về nhân thân, tài sản của các chủ thể và thể hiện bản chất của chế định này:

Thứ nhất, ly thân là giải pháp cho phép chấm dứt nghĩa vụ đồng cư trong hoàn cảnh quyền và nghĩa vụ khác giữa vợ chồng vẫn tồn tại. Ly thân ở góc độ pháp lý phản ánh sự giao thoa giữa truyền thống và hiện đại, giữa các giá trị đạo đức, tôn giáo[1] vì nhu cầu thực tiễn: vợ chồng cần độc lập về mặt tình cảm để giải quyết các vấn đề phát sinh mà không ly hôn. Bộ luật Dân sự Pháp năm 1804, sửa đổi bởi Luật số 248 năm 2026 (Bộ luật Dân sự Pháp) xác định ly thân là tình trạng vợ chồng biệt cư, biệt sản nhưng quan hệ vợ chồng vẫn chưa chấm dứt[2]. Trong Hiến chương về phụ nữ của Singapore, ly thân theo thủ tục tư pháp là phán quyết của Tòa án cho phép nguyên đơn không còn phải chung sống với bị đơn khi hôn nhân vẫn được pháp luật thừa nhận[3]. Luật Gia đình Philippines năm 1987, sửa đổi bởi Luật số 10572 năm 2013 (Luật Gia đình Philippines) xác định “hôn nhân là một thể chế xã hội bất khả xâm phạm” nên “ly thân tư pháp là tình trạng vợ chồng được sống riêng kể từ ngày nộp đơn ly thân nhưng không được chấm dứt hôn nhân”[4]. Quyết định giải quyết ly thân giải phóng các bên khỏi nghĩa vụ đồng cư mà không phá vỡ quan hệ pháp lý khác, trong đó, nghĩa vụ chung thủy, quyền và nghĩa vụ nhân thân khác của vợ chồng sau ly thân vẫn được duy trì, trừ trường hợp có thỏa thuận khác[5] hoặc pháp luật quốc gia có quy định khác[6].

Thứ hai, định chế ly thân điều tiết lợi ích của vợ chồng, bảo vệ quyền lợi người thứ ba, góp phần ổn định trật tự xã hội. Là quy định có tính ràng buộc thực thi, ly thân là cơ chế bảo vệ lợi ích về nhân thân, tài sản của vợ, chồng và chủ thể khác có liên quan. Từ Điều 262 đến Điều 262-2 và Điều 302 Bộ luật Dân sự Pháp quy định vợ chồng ly thân dẫn đến tách biệt tài sản. Điều này có nghĩa nếu vợ chồng kết hôn theo chế độ tài sản pháp định là cộng đồng tài sản hoặc theo chế độ thỏa thuận (hợp đồng) như chế độ cộng đồng tài sản theo phần tăng thêm, thì chế độ này tự động được thay thế bằng chế độ tài sản riêng biệt[7]. Sự thay đổi này có ý nghĩa quan trọng giúp phân định ranh giới tài sản, chuẩn bị cho sự chia tách vĩnh viễn hoặc bảo vệ tài sản trong giai đoạn chuyển tiếp. Theo Điều 63 Luật Gia đình Philippines, ly thân phát sinh việc thanh toán tài sản, trong đó, lợi tức từ tài sản chung của bên có lỗi được sung vào công quỹ hoặc dành cho con cái. Tại Hoa Kỳ, mục 30-2-40 Bộ luật Alabama năm 2006, sửa đổi năm 2025, xác định thu nhập hoặc tích lũy, gồm cả trợ cấp hưu trí mỗi bên nhận được sau khi quyết định ly thân có hiệu lực là tài sản riêng.

Thứ ba, định chế ly thân là công cụ pháp lý bảo vệ lợi ích của trẻ em - đối tượng chịu ảnh hưởng từ hậu quả việc cha mẹ ly thân. Từ quan điểm “trẻ em có quyền được hỗ trợ và chăm sóc đặc biệt để phát triển toàn diện và hài hòa nhân cách”[8], pháp luật các nước luôn gắn ly thân với nghĩa vụ của cha mẹ đối với con. Tại Pháp, ly thân chỉ giảm sự gắn kết giữa vợ chồng, còn nghĩa vụ của cha mẹ đối với con và quyền quyết định của Tòa án về nuôi dưỡng, cấp dưỡng đối với con không thay đổi[9]. Tương tự, Luật Gia đình bang California (Hoa Kỳ) trao quyền cho Tòa án phán quyết về quyền nuôi, cấp dưỡng cho con chưa thành niên khi cha mẹ ly thân[10]. Ngay cả các bang chưa luật hóa ly thân như Florida hay Texas, Tòa án vẫn có thể ban hành “lệnh tạm thời” khi vợ chồng ly thân thực tế. Giải pháp này giúp thẩm phán kịp thời quyết định người nuôi dưỡng, mức cấp dưỡng và lịch thăm nom, bảo đảm quyền lợi của con được xuyên suốt quá trình cha mẹ ly hôn[11].

Thứ tư, chế định ly thân tạo cơ sở để chuyển đổi sang ly hôn hoặc khôi phục hôn nhân, kể cả lợi ích tài sản. Ly thân không đơn thuần giải phóng nghĩa vụ đồng cư hay phân định tài sản, con chung, mà hiện hữu điều kiện chuyển đổi từ ly thân sang ly hôn. Được xem là minh chứng cho sự tan vỡ hôn nhân không thể cứu vãn, pháp luật nhiều nước quy định thời gian ly thân là căn cứ ly hôn. Tại Pháp, việc chuyển đổi ly thân sang ly hôn diễn ra bất kỳ lúc nào nếu hai bên thuận tình. Trường hợp đơn phương, thủ tục này chỉ được thực hiện sau 02 năm kể từ khi phán quyết ly thân có hiệu lực[12]. Tại Trung Quốc, Tòa án giải quyết ly hôn nếu vợ chồng “đã ly thân 02 năm” hoặc tiếp tục ly thân thêm 01 năm sau khi bị bác đơn ly hôn. Ngay cả khi các bên thỏa thuận ly hôn tại cơ quan đăng ký hôn nhân, quốc gia này vẫn áp dụng “thời kỳ ly hôn tĩnh lặng” kéo dài 30 ngày nhằm để ngỏ khả năng hòa giải[13]. Đồng thời, ly thân còn là cơ hội khôi phục hôn nhân, bởi bản chất của ly thân luôn hướng đến sự đoàn tụ. Tuy nhiên, để bảo vệ quyền lợi bên thứ ba, thủ tục tái hợp được kiểm soát bằng các quy định khắt khe. Chẳng hạn, theo Điều 305 Bộ luật Dân sự Pháp, vợ chồng tái hợp mặc nhiên chấm dứt ly thân. Song, sự tái hợp chỉ có hiệu lực khi các bên đã lập văn bản công chứng hoặc khai báo hộ tịch để ghi chú vào các giấy tờ nhân thân.

2. Thực trạng ly thân tại Việt Nam và một số bất cập, hạn chế

Tại Việt Nam, mặc dù, pháp luật chưa ghi nhận chế định ly thân, nhưng tình trạng vợ chồng sống ly thân trên thực tế diễn ra khá phổ biến. Theo Kết quả điều tra dân số và nhà ở của Cục Thống kê, tính đến ngày 01/4/2024, trong 100% tổng dân số toàn quốc từ 15 tuổi trở lên theo tình trạng hôn nhân, dân số góa và ly hôn chiếm 9,3% (trong đó, ly hôn chiếm 2,6%). So với năm 2019, người góa và ly hôn toàn quốc tăng khoảng 1,3 triệu người. Tình trạng “những người về danh nghĩa đang có vợ, có chồng, nhưng vì lý do nào đó không sống với nhau như vợ chồng - ly thân” chiếm tỷ lệ trung bình là 0,3% trên tổng số dân; trong đó, số cặp vợ chồng ly thân cao nhất trong nhóm từ 40 - 54 tuổi với tỷ lệ khoảng 0,5%[14]. Những số liệu này cho thấy, ly thân đã trở thành hiện tượng xã hội tồn tại khách quan và có xu hướng gia tăng.

Ly thân lần đầu tiên được ghi nhận trong pháp luật Việt Nam tại Bộ luật giản yếu Nam kỳ năm 1883 với ý nghĩa như một giải pháp quá độ, tạo cơ hội cho vợ chồng cân nhắc và hòa giải trước khi quyết định ly hôn[15]. Dưới chính thể Việt Nam Cộng hòa giai đoạn 1955 - 1975, ly thân là chế định độc lập với tính chất là giải pháp thay thế ly hôn (Bộ Luật Gia đình 1/59), sau đó, phát triển cùng chế định ly hôn (Sắc luật 15/64 và Bộ Dân luật năm 1972) với các quy định về căn cứ, thủ tục, hậu quả pháp lý của việc ly thân phù hợp bối cảnh xã hội.

Trong hệ thống pháp luật của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, ly thân chưa được ghi nhận như một chế định pháp lý độc lập. Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014) quy định vợ chồng có thể thỏa thuận việc không sống chung vì lý do chính đáng (khoản 2 Điều 19); các bên cũng có thể yêu cầu chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân (các điều 38, 39, 59). Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình (Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP) xác định “vợ, chồng sống ly thân, bỏ mặc vợ hoặc chồng” là căn cứ xét giải quyết ly hôn (điểm a khoản 3 Điều 4). Song, về cơ bản, quy định của pháp luật chỉ tạo căn cứ cho xử sự của cá nhân, cơ quan, tổ chức trong một số hoàn cảnh, mà không thể thay thế giải quyết mọi quan hệ phát sinh từ ly thân. Thực trạng này dẫn đến hệ quả, vợ chồng buộc phải duy trì nghĩa vụ và quyền trong thời kỳ hôn nhân (khi ly thân) một cách khiên cưỡng và phát sinh nhiều bất cập, vướng mắc trong quá trình thực thi. Cụ thể:

Thứ nhất, vướng mắc trong bảo đảm thực hiện quyền và nghĩa vụ nhân thân của vợ chồng. Từ Điều 21 đến Điều 23 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc gia đình; vợ chồng có nghĩa vụ sống chung, trừ trường hợp các bên thỏa thuận sống riêng do yêu cầu của nghề nghiệp. Khoản 1 Điều 4 Luật Cư trú năm 2020, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Luật Cư trú năm 2020) ghi nhận quyền tự do cư trú của công dân theo quy định pháp luật. Đồng thời, khoản 2 Điều 43 Bộ Luật Dân sự năm 2015 cho phép vợ chồng có thể có nơi cư trú khác nhau nếu có thỏa thuận. Tuy nhiên, pháp luật chưa quy định cụ thể về hình thức, nội dung, điều kiện có hiệu lực, cũng như cơ chế chứng minh sự tồn tại của thỏa thuận không sống chung giữa vợ và chồng. Do đó, trong trường hợp phát sinh tranh chấp, việc xác định các bên có thực sự đạt được thỏa thuận về việc sống riêng hay không, thời điểm phát sinh thỏa thuận và phạm vi quyền, nghĩa vụ của mỗi bên trong thời gian sống riêng gặp nhiều khó khăn. Việc thiếu cơ chế pháp lý về ly thân làm cho việc chứng minh và giải quyết tranh chấp liên quan đến tình trạng không sống chung trở nên thiếu thống nhất, tiềm ẩn nguy cơ áp dụng pháp luật không đồng đều. Mặt khác, khi vợ chồng thực tế đã chấm dứt việc chung sống nhưng quan hệ hôn nhân vẫn tồn tại về mặt pháp lý, việc bảo đảm thực hiện các nghĩa vụ nhân thân như chung thủy, quan tâm, chăm sóc, hỗ trợ lẫn nhau trên thực tế cũng gặp nhiều trở ngại. Điều này làm phát sinh khoảng cách đáng kể giữa tình trạng hôn nhân thực tế và tình trạng hôn nhân pháp lý, dẫn đến nhiều khó khăn trong xác định trách nhiệm của các bên khi xảy ra vi phạm quyền, nghĩa vụ vợ chồng trong thời gian ly thân.

Thứ hai, vướng mắc trong bảo vệ lợi ích về tài sản của vợ, chồng và của chủ thể thứ ba. Theo Điều 33, Điều 35, Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, tài sản do vợ hoặc chồng tạo ra, thu nhập từ lao động, sản xuất kinh doanh, thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân là tài sản chung. Trường hợp áp dụng chế độ tài sản pháp định, vợ chồng chưa chia tài sản trong thời kỳ hôn nhân thì tài sản do mỗi bên tạo lập trong thời gian ly thân vẫn được xác định là tài sản chung và về nguyên tắc được chia đôi khi có tranh chấp. Việc tiếp tục áp dụng nguyên tắc chung về chế độ tài sản của vợ chồng đối với quan hệ tài sản trong thời gian ly thân dẫn đến nhiều bất cập trong thực tiễn. Trong nhiều trường hợp, mặc dù vợ chồng đã chấm dứt việc chung sống, không còn cùng đóng góp vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung, nhưng tài sản được hình thành bởi công sức riêng của một bên trong thời gian ly thân vẫn bị xác định là tài sản chung. Điều này có thể không phản ánh đúng mức độ đóng góp thực tế của mỗi bên và ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người trực tiếp tạo lập tài sản. Bên cạnh đó, việc này cũng gây khó khăn trong xác định, quản lý và định đoạt tài sản của vợ chồng. Trên thực tế, phát sinh các trường hợp một bên tẩu tán tài sản chung, tự mình xác lập các giao dịch liên quan đến tài sản hoặc vay, mượn tài sản trong thời gian ly thân, dẫn đến tranh chấp về phạm vi nghĩa vụ tài sản chung và nghĩa vụ tài sản riêng. Những tranh chấp này không chỉ ảnh hưởng đến quyền lợi của vợ hoặc chồng, mà còn tác động trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba tham gia giao dịch.

Thứ ba, khó khăn trong xác định và bảo đảm thực hiện quyền, nghĩa vụ của cha mẹ đối với con trong thời gian ly thân. Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân là con chung của vợ chồng (Điều 88); cha mẹ bình đẳng trong việc thực hiện nghĩa vụ và quyền đối với con (từ Điều 68 đến Điều 78). Do ly thân trên thực tế không làm chấm dứt quan hệ hôn nhân về mặt pháp lý, nên nguyên tắc suy đoán con chung vẫn được áp dụng ngay cả trường hợp vợ chồng đã sống ly thân trong thời gian dài. Điều này có thể dẫn đến những tình huống pháp lý phức tạp khi có căn cứ cho thấy đứa trẻ không phải là con về mặt sinh học của người chồng nhưng pháp luật vẫn mặc nhiên xác định là con chung của vợ chồng. Việc áp dụng cơ học nguyên tắc suy đoán con chung trong những trường hợp này có thể làm phát sinh hệ quả pháp lý không phù hợp với thực tế, như hạn chế quyền yêu cầu ly hôn của người chồng theo khoản 3 Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014[16], cũng như làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ của cha, mẹ với đứa trẻ theo quy định pháp luật. Ngoài ra, trong thời gian ly thân, không ít trường hợp một bên cha hoặc mẹ không thực hiện nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con, thậm chí, bỏ mặc hoặc trốn tránh trách nhiệm đối với con chung. Tuy nhiên, do pháp luật chưa có cơ chế riêng điều chỉnh quan hệ ly thân, việc yêu cầu cơ quan có thẩm quyền can thiệp để bảo vệ quyền và lợi ích của trẻ em trong trường hợp này gặp nhiều khó khăn. Hệ quả, quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng và bảo vệ của trẻ em có nguy cơ không được bảo đảm đầy đủ trên thực tế.

Có thể thấy, tình trạng ly thân không được pháp luật điều chỉnh đang làm phát sinh nhiều hệ quả pháp lý và xã hội, đặt ra yêu cầu cấp thiết phải nghiên cứu, xây dựng và luật hóa chế định ly thân trong hệ thống pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam. Việc ghi nhận ly thân không chỉ nhằm giải quyết những vướng mắc phát sinh trong thực tiễn đời sống hôn nhân, mà còn có ý nghĩa quan trọng bảo đảm quyền con người, quyền công dân, đặc biệt, các quyền nhân thân của vợ, chồng. Đây là giải pháp tôn trọng sự đa dạng về văn hóa, tín ngưỡng, tôn giáo; tạo cơ sở pháp lý để các cặp vợ chồng, nhất là những người có quan điểm tôn giáo không chấp nhận ly hôn, có thể giải quyết những khó khăn trong đời sống hôn nhân mà vẫn duy trì quan hệ hôn nhân về mặt pháp lý[17]. Việc luật hóa ly thân còn phù hợp với chủ trương, định hướng của Đảng và Nhà nước về tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật theo hướng đồng bộ, thống nhất, khoa học, khả thi, bảo đảm quyền con người, quyền công dân, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế và phục vụ phát triển đất nước. Khuôn khổ pháp luật đầy đủ về ly thân sẽ tạo cơ sở minh bạch cho xác định quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của vợ chồng trong thời gian không còn chung sống; đồng thời, là căn cứ để cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan áp dụng pháp luật thống nhất, hạn chế khoảng trống pháp lý và những cách hiểu, cách vận dụng khác nhau trong thực tiễn. Mặt khác, việc thiết lập cơ chế pháp lý về ly thân góp phần khắc phục tình trạng áp dụng cứng nhắc quy định chung của chế độ hôn nhân đối với quan hệ thực tế có nhiều đặc thù riêng. Qua đó, tạo điều kiện giải quyết hài hòa các vấn đề về nhân thân, tài sản, nghĩa vụ cấp dưỡng, chăm sóc con chung và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể liên quan, đặc biệt là phụ nữ, trẻ em và các nhóm yếu thế, dễ bị tổn thương.

Đồng thời, việc luật hóa ly thân có giá trị quan trọng đối với hoạt động áp dụng pháp luật và thực thi công lý. Trong bối cảnh các tranh chấp phát sinh từ tình trạng ly thân ngày càng gia tăng và có tính chất phức tạp, cơ chế pháp lý rõ ràng về ly thân sẽ tạo hành lang pháp lý an toàn cho các cơ quan có thẩm quyền, đặc biệt là Tòa án, trong quá trình giải quyết vụ việc. Việc xác định rõ quyền và nghĩa vụ của các bên trong thời gian ly thân giúp nâng cao tính minh bạch, thống nhất và khả năng dự liệu của pháp luật; đồng thời, hỗ trợ hoạt động xét xử, bảo đảm các phán quyết được đưa ra trên cơ sở khách quan, công bằng và phù hợp với thực tiễn, qua đó, bảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong quan hệ hôn nhân và gia đình.

3. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về ly thân ở Việt Nam

Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn đời sống hôn nhân và gia đình, việc luật hóa chế định ly thân tại Việt Nam hiện nay là cần thiết. Trên cơ sở kế thừa có chọn lọc kinh nghiệm lập pháp của các quốc gia và phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội, văn hóa, pháp lý của Việt Nam, chế định ly thân cần thiết kế theo hướng bảo đảm quyền tự do cá nhân, bảo vệ gia đình và đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước. Theo đó, cần xây dựng bổ sung một mục riêng về ly thân trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, đồng thời, hoàn thiện các quy định có liên quan nhằm bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật. Cụ thể:

3.1. Hoàn thiện các quy định về xác lập và chấm dứt quan hệ ly thân

Thứ nhất, bổ sung quy định giải thích thuật ngữ “ly thân”.

Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chưa đưa ra khái niệm pháp lý về ly thân. Trong khi pháp luật của nhiều quốc gia đều xác định ly thân là tình trạng vợ chồng chấm dứt việc chung sống nhưng quan hệ hôn nhân vẫn tồn tại. Để tạo cơ sở cho nhận thức và áp dụng pháp luật thống nhất, cần bổ sung vào Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: ly thân là việc vợ và chồng chấm dứt nghĩa vụ chung sống với nhau kể từ thời điểm bản án, quyết định ly thân của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

Thứ hai, bổ sung quy định về quyền yêu cầu giải quyết ly thân.

Ly thân là quyền nhân thân gắn liền với quan hệ hôn nhân, do đó, quyền yêu cầu giải quyết ly thân chỉ thuộc về vợ, chồng hoặc cả hai vợ chồng. Do việc ly thân có thể làm phát sinh các hệ quả pháp lý liên quan đến nhân thân, tài sản, con chung và quyền lợi của người thứ ba nên việc giải quyết ly thân cần thuộc thẩm quyền của Tòa án. Từ đó, cần bổ sung vào Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: vợ, chồng hoặc cả hai vợ chồng có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly thân.

Thứ ba, bổ sung quy định về thủ tục giải quyết ly thân.

Về thủ tục giải quyết, cần thiết kế cơ chế tố tụng tương tự như thủ tục giải quyết ly hôn để bảo đảm tính khách quan, minh bạch và khả năng thi hành của quyết định ly thân. Theo đó, có thể bổ sung quy định: (i) Tòa án thụ lý đơn yêu cầu ly thân theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự; (ii) trong trường hợp đồng thời có yêu cầu ly hôn và yêu cầu ly thân, Tòa án xem xét, giải quyết yêu cầu ly hôn trước; nếu không đủ căn cứ chấp nhận yêu cầu ly hôn thì xem xét việc giải quyết ly thân theo quy định của pháp luật.

Tuy nhiên, để bảo đảm tính thống nhất, cần sửa đổi, bổ sung Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2019, 2020, 2022, 2025) theo hướng xác định thẩm quyền của Tòa án trong giải quyết tranh chấp về ly thân (Điều 28) và yêu cầu công nhận thuận tình ly thân (Điều 29).

Bên cạnh đó, cần quy định thủ tục hòa giải bắt buộc trong quá trình giải quyết ly thân. Xuất phát từ bản chất của hòa giải trong tố tụng dân sự là tôn trọng quyền tự định đoạt của đương sự, tạo điều kiện để các bên tự nguyện giải quyết mâu thuẫn và duy trì quan hệ hôn nhân khi còn khả năng đoàn tụ, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên quy định: sau khi thụ lý đơn yêu cầu ly thân, Tòa án tiến hành hòa giải theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.

Thứ tư, bổ sung quy định về căn cứ giải quyết ly thân.

Về căn cứ giải quyết ly thân, cần xây dựng theo hướng tương đồng với căn cứ giải quyết ly hôn nhưng có tính đến đặc thù của chế định ly thân là quan hệ hôn nhân tiếp tục tồn tại sau khi có phán quyết của Tòa án. Theo đó, cần bổ sung quy định: (i) trường hợp vợ chồng cùng yêu cầu ly thân mà hòa giải tại Tòa án không thành, nếu xét thấy hai bên thật sự tự nguyện ly thân và đã thỏa thuận về việc chia hoặc không chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con trên cơ sở bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án công nhận thuận tình ly thân; nếu không thỏa thuận được hoặc có thỏa thuận nhưng không bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án giải quyết việc ly thân; (ii) trường hợp một bên vợ hoặc chồng yêu cầu ly thân mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly thân dựa trên căn cứ và hoàn cảnh được quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Đối với việc chấm dứt ly thân, cần bổ sung quy định xác định rõ các trường hợp gồm: một bên vợ hoặc chồng chết; vợ chồng đoàn tụ và được Tòa án hủy bỏ quyết định ly thân; hoặc quan hệ ly thân chuyển thành ly hôn theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án. Đồng thời, có thể nghiên cứu bổ sung tình trạng ly thân kéo dài từ hai năm trở lên như một căn cứ để Tòa án xem xét giải quyết ly hôn theo Điều 55 và Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

3.2. Hoàn thiện các quy định về hậu quả pháp lý của ly thân đối với quan hệ nhân thân

Cần bổ sung một điều luật riêng quy định hậu quả pháp lý của ly thân đối với quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng. Theo đó, ly thân chỉ làm chấm dứt nghĩa vụ chung sống mà không làm chấm dứt quan hệ hôn nhân và các quyền, nghĩa vụ nhân thân cơ bản khác giữa vợ và chồng. Trong thời gian ly thân, các bên vẫn phải thực hiện nghĩa vụ chung thủy, tôn trọng, quan tâm, hỗ trợ và giúp đỡ lẫn nhau theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình.

Trên cơ sở đó, sửa đổi khoản 2 Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 như sau: “1.Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc từ thời điểm bản án, quyết định ly thân của Tòa án có hiệu lực pháp luật hoặc do yêu cầu của nghề nghiệp, công tác, học tập, tham gia các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và lý do chính đáng khác. Việc ly thân không làm thay đổi nghĩa vụ chung thủy, hỗ trợ nhau giữa vợ và chồng. 2. Trường hợp nhà ở thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng được đưa vào sử dụng chung thì khi ly thân, vợ hoặc chồng có khó khăn về chỗ ở được quyền lưu cư trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày quyết định, bản án ly thân của Tòa án có hiệu lực, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác”.

3.3. Hoàn thiện các quy định về hậu quả pháp lý của ly thân đối với quan hệ tài sản

Quan hệ tài sản là lĩnh vực phát sinh nhiều tranh chấp nhất trong thời gian ly thân, do đó, cần có cơ chế pháp lý riêng để điều chỉnh. Theo đó, pháp luật nên ưu tiên sự thỏa thuận của vợ chồng về việc quản lý, sử dụng, định đoạt và phân chia tài sản trong thời kỳ ly thân. Trường hợp các bên không có thỏa thuận hoặc thỏa thuận vi phạm quyền, lợi ích hợp pháp của một bên hoặc của người thứ ba thì Tòa án giải quyết theo các nguyên tắc áp dụng đối với việc giải quyết tài sản khi ly hôn.

Để bảo đảm tính công bằng và phản ánh đúng công sức đóng góp của mỗi bên, cần sửa đổi khoản 1 Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 theo hướng xác định tài sản được hình thành sau thời điểm bản án hoặc quyết định ly thân của Tòa án có hiệu lực pháp luật là tài sản riêng của người tạo lập, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.

Đồng thời, sửa đổi Điều 43 và Điều 45 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 theo hướng xác định tài sản do một bên tạo lập trong thời kỳ ly thân là tài sản riêng; nghĩa vụ tài sản phát sinh từ giao dịch do một bên xác lập, thực hiện trong thời kỳ ly thân mà không nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình là nghĩa vụ riêng của người đó.

3.4. Hoàn thiện các quy định về quyền, nghĩa vụ của cha mẹ đối với con trong thời kỳ ly thân

Bảo vệ quyền và lợi ích tốt nhất của trẻ em cần được xác định là nguyên tắc xuyên suốt khi xây dựng chế định ly thân. Theo đó, cần bổ sung quy định về quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con trong thời kỳ ly thân theo hướng tương tự trường hợp cha mẹ ly hôn. Tòa án cần có thẩm quyền quyết định người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con, nghĩa vụ cấp dưỡng của bên không trực tiếp nuôi con, cũng như các vấn đề liên quan đến việc chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em. Bên cạnh đó, cần hoàn thiện các quy định về xác định cha, mẹ, con trong trường hợp ly thân. Theo đó, con sinh ra trong thời kỳ ly thân hoặc trong thời hạn 300 ngày kể từ ngày chấm dứt ly thân vẫn được suy đoán là con chung của vợ chồng. Tuy nhiên, đối với trường hợp con sinh ra sau thời hạn 300 ngày kể từ ngày bản án, quyết định ly thân có hiệu lực pháp luật hoặc trong thời hạn dưới 180 ngày kể từ ngày quyết định ly thân bị hủy bỏ, quan hệ cha, mẹ, con cần được xác định trên cơ sở sự thừa nhận của cha, mẹ hoặc theo quyết định của Tòa án dựa trên các chứng cứ hợp pháp. Kết luận Việc luật hóa ly thân là yêu cầu cấp thiết nhằm tạo hành lang pháp lý an toàn cho các quan hệ hôn nhân và gia đình trong bối cảnh mới. Trên cơ sở phân tích thực trạng pháp luật Việt Nam, nghiên cứu so sánh kinh nghiệm lập pháp của một số quốc gia và yêu cầu bảo vệ quyền con người, quyền công dân trong bối cảnh hiện nay, cho thấy việc luật hóa chế định ly thân là yêu cầu khách quan và cần thiết. Việc xây dựng và hoàn thiện chế định ly thân không chỉ góp phần khắc phục khoảng trống pháp luật hiện hành, tạo cơ sở pháp lý minh bạch cho việc giải quyết các quan hệ phát sinh trong thời kỳ ly thân, mà còn bảo đảm tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của vợ chồng, con cái và người thứ ba. Đây là bước hoàn thiện quan trọng của pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam theo hướng nhân văn, hiện đại, lấy con người làm trung tâm, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền và hội nhập quốc tế trong giai đoạn hiện nay.

TS. Lê Vĩnh Châu &

Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh

Luật gia, ThS. Lê Thị Mận

Giảng viên thỉnh giảng Trường Đại học Luật Thành phố Hồ chí Minh

Ảnh: Internet

[1]. Trong Giáo hội công giáo, ly thân hợp pháp là giải pháp duy nhất cho các cuộc “hôn nhân đã hoàn hợp” nhưng gặp khủng, hoảng bế tắc cần phải sống riêng như những cá nhân độc lập mà không vi phạm nguyên tắt “bất khả phân ly” của Giáo luật (Xem Điều 1056 đến Điều 1155 Bộ Giáo Luật năm 1983 (The Code of Canon Law 1983), sửa đổi, bổ sung năm 2021).

[2]. Article 302, French Civil Code 1804 (last amended in 2026 - Law No. 2026-248 of April 7, 2026).

[3]. Article 95A, 101, Women’s Charter 1961 (last amended in 2023 - Law No. 21 of 2023).

[4]. Article 55, 61, 63 The Family code of the Philippines 1987 (last amended in 1998 - Republic Act No. 8533 of 1998).

[5]. Theo Điều 301 Bộ luật Dân sự Pháp năm 1804 (sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 248 năm 2026), vợ chồng ly thân hợp pháp mà một bên chết thì người còn sống vẫn được hưởng thừa kế tài sản của người chết theo luật định. Trường hợp thuận tình ly thân, vợ chồng có thể ghi trong bản thỏa thuận việc từ chối tài sản thừa kế mà họ được hưởng theo quy định.

[6]. Khoản 4 Điều 63 Luật Gia đình Philippines năm 1987 (sửa đổi, bổ sung năm 1998) quy định, sau ly thân, người vợ hoặc chồng nếu có lỗi sẽ bị tước quyền thừa kế theo pháp luật từ người phối ngẫu không có lỗi.

[7]. Frédérique Ferrand và Bente Braat (2008), Property relationship between spouses - FRANCE (National Report: France), University Jean Moulin Lyon 3 & University of Utrecht, tr.2, https://ceflonline.net/wp-content/uploads/France-Property.pdf, truy cập ngày 20/5/2026.

[8]. Convention on the Rights of the Child (1989).

[9]. Article 302, tlđd.

[10]. Article 2010, California Family Code 1992 (last amended in 2025).

[11]. Bailey and Galyen Attorneys at Law (2025), No Legal Separation in Texas? Here Are Your Options, https://www.thetexasattorney.com/blogs/no-legal-separation-in-texas-here-are-your-options/, truy cập ngày 20/5/2026.

[12]. Article 302, tlđd.

[13]. Article 1076, 1077,1078, 1079, Civil Code of the People’s Republic of China 2020.

[14]. Tổng cục thống kê (2024), Kết quả chủ yếu Điều tra dân số và nhà ở giữa kỳ thời điểm 0 giờ 01/4/2024, Nxb. Thống kê, tr.29-30.

[15]. Phan Đăng Thanh, Trương Thị Hòa (2010), Các chế độ hôn nhân và gia đình Việt Nam xưa và nay, Nxb. Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh, tr.46.

[16]. Để bảo đảm sức khỏe sinh sản, pháp luật hạn chế quyền ly hôn của người chồng trong trường hợp người vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi.

[17]. Nghị quyết số 25-NQ/TW ngày 12/3/2003 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về công tác tôn giáo xác định “tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta...”. Luật hóa ly thân sẽ là giải pháp có ý nghĩa lớn đối với khoảng 07 triệu tín đồ Công giáo tại Việt Nam (xem: Ban Tôn giáo Chính phủ, Sách trắng Tôn giáo và chính sách tôn giáo ở Việt Nam, https://giacngo.vn/sach-trang-cong-bo-viet-nam-co-265-trieu-tin-do-ton-giao-trong-do-phat-giao-hon-14-trieu-nguoi-post66060.html, truy cập ngày 20/5/2026).

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Bailey & Galyen Attorneys at Law (2025), No Legal Separation in Texas? Here Are Your Options, https://www.thetexasattorney.com/blogs/no-legal-separation-in-texas-here-are-your-options/, truy cập ngày 20/5/2026.

2. Ferrand, Frédérique & Braat, Bente (2008), Property relationship between spouses - FRANCE (National Report: France), University Jean Moulin Lyon 3 & University of Utrecht, https://ceflonline.net/wp-content/uploads/France-Property.pdf, truy cập ngày 20/5/2026.

3. Bộ Tư pháp (2015), Báo cáo Tổng kết thi hành Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

4. Phan Đăng Thanh, Trương Thị Hòa (2010), Các chế độ hôn nhân và gia đình Việt Nam xưa và nay, Nxb. Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh.

5. Trần Văn Liêm (1974), Dân luật, quyển II, Luật Gia đình.

6. Tổng cục thống kê (2024), Kết quả chủ yếu Điều tra dân số và nhà ở giữa kỳ thời điểm 0 giờ 01/4/2024, Nxb. Thống kê.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số Kỳ 1 (454) tháng 6/2026)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Nâng cao hiệu quả công tác tổ chức cán bộ thi hành án dân sự thời kỳ chuyển đổi số

Nâng cao hiệu quả công tác tổ chức cán bộ thi hành án dân sự thời kỳ chuyển đổi số

Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tiến trình chuyển đổi số quốc gia, công tác tổ chức cán bộ tại các cơ quan Thi hành án dân sự (THADS) đóng vai trò then chốt quyết định hiệu lực, hiệu quả thực thi pháp luật. Sự ra đời của Luật Cán bộ, công chức năm 2025, Nghị định số 170/2025/NĐ-CP ngày 30/6/2025 của Chính phủ quy định về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức (Nghị định số 170/2025/NĐ-CP) và đặc biệt là Luật Thi hành án dân sự năm 2025 (có hiệu lực từ ngày 01/7/2026) đã tạo một khung pháp lý mới với những thay đổi mang tính đột phá. Hệ thống THADS phải có những bước chuyển mình mạnh mẽ trong công tác tuyển dụng, sắp xếp bộ máy, đánh giá và quản trị nguồn nhân lực. Bài viết phân tích thực trạng chất lượng công chức thông qua dữ liệu thực tiễn tại tỉnh Khánh Hòa tính đến tháng 5/2026, từ đó đề xuất các giải pháp trọng tâm nhằm xây dựng đội ngũ công chức THADS chuyên nghiệp, hiện đại, đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

Du lịch xanh, du lịch bền vững đã trở thành xu hướng phổ biến tại Việt Nam, nhưng để tiến tới mục tiêu "du lịch Net Zero", ngành Du lịch cần có nhiều thay đổi theo chiều sâu: từ việc xây dựng những sản phẩm xanh sang xây dựng những doanh nghiệp lữ hành thực sự bền vững. Đây là cả một quá trình bởi phát triển "du lịch Net Zero" không chỉ liên quan đến môi trường mà còn đòi hỏi sự thay đổi đồng bộ về mô hình kinh doanh, sản phẩm, công nghệ, nhân lực, quan hệ với cộng đồng và cách thức ứng xử với các giá trị văn hóa.
Hoàn thiện pháp luật về nhận biết, thu thập, cập nhật và xác minh thông tin khách hàng trong hoạt động phòng, chống rửa tiền của ngân hàng thương mại

Hoàn thiện pháp luật về nhận biết, thu thập, cập nhật và xác minh thông tin khách hàng trong hoạt động phòng, chống rửa tiền của ngân hàng thương mại

Tóm tắt: Trong hoạt động phòng, chống rửa tiền, nghĩa vụ nhận biết khách hàng của ngân hàng thương mại được đặt trong nhóm nghĩa vụ phòng ngừa tội phạm tài chính. Tính phòng ngừa thể hiện ở việc ngân hàng phải chủ động nhận diện nguy cơ ngay từ trước khi giao dịch phát sinh rủi ro. Hoạt động thu thập, cập nhật và xác minh thông tin khách hàng không chỉ để nhận biết khách hàng, mà còn nhằm phát hiện khả năng ngân hàng bị lợi dụng để thực hiện hành vi rửa tiền. Nghiên cứu phân tích làm rõ vai trò của hoạt động nhận biết thông tin khách hàng; chỉ ra một số hạn chế trong quy định pháp luật về nhận biết, cập nhật và xác minh thông tin khách hàng của ngân hàng thương mại; từ đó, kiến nghị hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật.
Nguyên tắc xác định sự thật của vụ án - Lịch sử hình thành, phát triển và định hướng hoàn thiện

Nguyên tắc xác định sự thật của vụ án - Lịch sử hình thành, phát triển và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Xác định sự thật của vụ án là nguyên tắc cơ bản, chi phối hoạt động của tất cả các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong các giai đoạn của tố tụng hình sự. Nguyên tắc này đã xác lập mục đích, hành lang pháp lý cho hoạt động của các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Nghiên cứu phân tích, làm rõ quá trình hình thành và phát triển của nguyên tắc xác định sự thật của vụ án trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam, đánh giá những bất cập, hạn chế trong các quy định liên quan đến nguyên tắc này, từ đó, đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

Du lịch Việt Nam đang đứng trước một giai đoạn phát triển mới, trong đó yêu cầu tăng trưởng không thể tách rời nhiệm vụ bảo tồn và phát huy những giá trị làm nên bản sắc dân tộc. Nếu thiên nhiên tạo nên diện mạo của đất nước thì văn hóa chính là chiều sâu, là ký ức, là “hồn cốt” để Việt Nam trở thành một điểm đến khác biệt trong mắt du khách trong nước và quốc tế. Bởi vậy, phát triển du lịch hôm nay không chỉ là câu chuyện về lượng khách, doanh thu hay số lượng cơ sở lưu trú, mà còn là câu chuyện về cách gìn giữ di sản, bảo vệ cảnh quan, duy trì lối sống cộng đồng và trao truyền những giá trị văn hóa Việt Nam cho các thế hệ mai sau. Trong câu chuyện đó, doanh nghiệp lữ hành đóng vai trò trung tâm, là “cầu nối” đưa văn hoá Việt Nam đến với du khách.
Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.
Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Với mục tiêu đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thành phố Hà Nội đặt trọng tâm vào đổi mới nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật, tăng cường ứng dụng công nghệ số và xây dựng đội ngũ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật am hiểu địa bàn, phong tục, tập quán và văn hóa của người dân nơi đây.
Con người – “Chìa khóa” đánh thức nguồn lực phát triển văn hóa trong kỷ nguyên vươn mình

Con người – “Chìa khóa” đánh thức nguồn lực phát triển văn hóa trong kỷ nguyên vươn mình

Trong bước chuyển mình của đất nước bước vào kỷ nguyên mới, văn hóa đang được đặt ở vị trí ngày càng quan trọng trong chiến lược phát triển quốc gia. Cùng với đó, con người được xác định là trung tâm của sự nghiệp phát triển văn hóa khi vừa là chủ thể sáng tạo, gìn giữ, vừa là lực lượng trực tiếp biến những giá trị ấy thành nguồn lực phát triển cho đất nước.

Theo dõi chúng tôi trên: