Chủ nhật 09/08/2026 20:48
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Luật Chuyển đổi số năm 2025: Đòn bẩy pháp lý phát triển đất nước

Trong những năm gần đây, chủ trương về chuyển đổi số đã trở thành một trong những định hướng chiến lược quan trọng của Đảng và Nhà nước. Với tinh thần chủ động, tích cực tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư là yêu cầu khách quan (Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị) tới Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đã xác định “Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính để phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại, hoàn thiện quan hệ sản xuất, đổi mới phương thức quản trị quốc gia, phát triển kinh tế - xã hội, ngăn chặn nguy cơ tụt hậu, đưa đất nước phát triển bứt phá, giàu mạnh trong kỷ nguyên mới”.

Ngày 11/12/2025, Quốc hội thông qua Luật Chuyển đổi số năm 2025, đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong sự phát triển của khung pháp luật về chuyển đổi số của Việt Nam. Sự ra đời của Luật Chuyển đổi số xuất phát từ kết quả tất yếu của sự phát triển khách quan, sự bùng nổ của khoa học công nghệ trên thế giới nói chung, Việt Nam nói riêng. Việc ban hành Luật Chuyển đổi số năm 2025 thay thế Luật Công nghệ thông tin năm 2006 là thật sự cần thiết, tạo nền tảng pháp lý cơ bản, quan trọng, thúc đẩy sự phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới “kỷ nguyên số”.

Luật Chuyển đổi số năm 2025: Đòn bẩy pháp lý phát triển đất nước
Ảnh minh họa

1. Sự cần thiết ban hành Luật chuyển đổi số năm 2025

Luật Chuyển đổi số năm 2025 được ban hành khi các quy định liên quan đến chuyển đổi số trong nhiều văn bản khác nhau như Luật Giao dịch điện tử năm 2023, Luật An ninh mạng năm 2025, Luật Viễn thông năm 2023, Luật bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2025 cùng nhiều nghị định, quyết định của Chính phủ. Mặc dù các văn bản này đã góp phần hình thành nền tảng pháp lý cho quá trình ứng dụng công nghệ số, song mỗi văn bản luật chỉ điều chỉnh một lĩnh vực chuyên ngành riêng biệt mà chưa tiếp cận chuyển đổi số như một quá trình chuyển đổi tổng thể của quốc gia. Luật Giao dịch điện tử năm 2023 quy định “việc thực hiện giao dịch bằng phương tiện điện tử“; Luật An ninh mạng năm 2025 quy định ”về an ninh mạng, bảo vệ an ninh mạng; quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan“; Luật Viễn thông năm 2023 quy định ”về hoạt động viễn thông; quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động viễn thông; quản lý nhà nước về viễn thông“; Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2025 quy định ”về dữ liệu cá nhân, bảo vệ dữ liệu cá nhân và quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan".

Thực trạng đó dẫn đến việc hạn chế như phạm vi điều chỉnh chưa thống nhất; chưa xác định rõ quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của các chủ thể tham gia chuyển đổi số; thiếu cơ chế điều phối, chia sẻ và khai thác dữ liệu giữa các cơ quan nhà nước và khu vực tư nhân; đồng thời chưa có cơ chế quản lý thống nhất đối với tài sản số, nền tảng số, dịch vụ số và các mô hình kinh doanh số mới. Từ đó, làm giảm hiệu quả tổ chức thực hiện, gây khó khăn cho hoạt động đầu tư, đổi mới sáng tạo cũng như bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong môi trường số. Sự ra đời của Luật Chuyển đổi số năm 2025 là cần thiết nhằm pháp điển hóa các chính sách rời rạc thành một hành lang pháp lý thống nhất, toàn vẹn, đáp ứng sự phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới khi khoa học công nghệ, trí tuệ nhân tạo phát triển mạnh mẽ trên phạm vi toàn cầu.

2. Điểm nổi bật của Luật chuyển đổi số năm 2025

Luật Chuyển đổi số năm 2025 được kết cấu gồm 08 chương với 48 điều, thể hiện rõ ràng, nổi bật các quy định, chính sách của Nhà nước về vấn đề chuyển đổi số. Cụ thể:

Điều chỉnh toàn diện về chuyển đổi số quốc gia

Lần đầu tiên Việt Nam ban hành một đạo luật điều chỉnh toàn diện các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình chuyển đổi số. Luật Chuyển đổi số năm 2025 quy định về "chuyển đổi số, bao gồm nguyên tắc, chính sách về chuyển đổi số; điều phối quốc gia về chuyển đổi số; biện pháp bảo đảm chuyển đổi số; Chính phủ số; kinh tế số, xã hội số; trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong chuyển đổi số". Lần đầu tiên các khái niệm “chuyển đổi số”, “Chính phủ số” “kinh tế số” “xã hội số” được ghi nhận chính thức, thống nhất, tạo nền tảng pháp lý vững chắc trong toàn bộ quy trình phát triển của chuyển đổi số quốc gia (Điều 3 Luật Chuyển đổi số 2025).

Theo đó, “chuyển đổi số là quá trình chuyển đổi phương thức hoạt động, quản trị và cung cấp dịch vụ dựa trên công nghệ số, dữ liệu số, hệ thống số, nền tảng số, quy trình số nhằm tạo ra giá trị mới, hiệu quả và minh bạch”. “Chính phủ số là mô hình để tổ chức và vận hành các hoạt động của cơ quan nhà nước trên môi trường số, dựa trên dữ liệu số, hạ tầng số, hạ tầng số công cộng, hệ thống số và nền tảng số để ra quyết định kịp thời, điều hành hiệu quả, bảo đảm minh bạch và kết nối, liên thông với tổ chức, doanh nghiệp và người dân”. “Kinh tế số là hoạt động kinh tế dựa trên dữ liệu số, hạ tầng số, hạ tầng số công cộng, hệ thống số, nền tảng số và mô hình vận hành số”. “Xã hội số là xã hội trong đó cá nhân, tổ chức chủ yếu hoạt động, tương tác thông qua dịch vụ số, hệ thống số, nền tảng số và môi trường số”.

Đây là bước tiến quan trọng trong tư duy lập pháp, chuyển từ cách tiếp cận quản lý từng lĩnh vực công nghệ chuyên ngành sang quản trị tổng thể hệ sinh thái số tạo ra sự kết nối giữa hoạt động quản trị nhà nước, hoạt động sản xuất - kinh doanh và đời sống xã hội trong môi trường số, bảo đảm quá trình chuyển đổi số được triển khai đồng bộ từ trung ương đến địa phương, giữa khu vực công và khu vực tư, tránh tình trạng phát triển cục bộ, thiếu liên thông. Quy định của Luật đặt ra yêu cầu thủ tục hành chính đủ điều kiện phải được thực hiện hoàn toàn trên môi trường số từ khâu tiếp nhận, xử lý đến trả kết quả. Chất lượng dịch vụ này sẽ được giám sát và đo lường theo thời gian thực để bảo đảm trải nghiệm tốt nhất cho người dùng. Các quy định cụ thể mở ra khung pháp lý cho việc triển khai thử nghiệm các sản phẩm, dịch vụ, mô hình kinh doanh số mới chưa có tiền lệ trong phạm vi giới hạn quy định cụ thể. Cơ chế này giúp Nhà nước đánh giá hiệu quả thực tế trước khi chính thức đầu tư hoặc mua sắm. Việc xác định rõ ba trụ cột “Chính phủ số” - “Kinh tế số” - “Xã hội số” thể hiện sự tiếp cận phù hợp, nhạy bén, tiếp cận với xu hướng quản trị số của nhiều quốc gia trên thế giới và đáp ứng yêu cầu phát triển nền kinh tế số trong chiến lược phát triển quốc gia.

Xây dựng cơ chế pháp lý tổng thể về dữ liệu và quản trị dữ liệu

Một trong những điểm đột phá của Luật Chuyển đổi số năm 2025 là xác định "dữ liệu là nguồn tài nguyên chiến lược" của quốc gia và thiết lập cơ chế quản trị dữ liệu theo hướng thống nhất. Một trong những nguyên tắc kiến trúc và thiết kế hệ thống số được quy định tại khoản 5 Điều 7 Luật Chuyển đổi số năm 2025 đã xác định "lấy dữ liệu làm trung tâm; bảo đảm dữ liệu được thu thập, quản lý, chia sẻ và khai báo một lần là yêu cầu mặc định; sử dụng hiệu quả để nâng cao chất lượng ra quyết định, chất lượng dịch vụ". Khác với các Luật khác chỉ tập trung vào bảo vệ hoặc khai thác dữ liệu trong từng lĩnh vực chuyên ngành, Luật Chuyển đổi số quy định toàn diện về việc tạo lập, thu thập, kết nối, chia sẻ, khai thác và sử dụng dữ liệu trong toàn bộ quá trình chuyển đổi số. Cụ thể, tại khoản 3 Điều 4 quy định rõ "xây dựng, phát triển, bảo vệ, quản trị, xử lý, sử dụng dữ liệu; điều phối, kết nối, chia sẻ, mở, giám sát, đánh giá, khai thác, kiểm toán, xếp hạng dữ liệu và các hoạt động khác theo quy định của pháp luật về dữ liệu". Đồng thời, Luật hình thành cơ chế liên thông dữ liệu giữa các cơ quan nhà nước, doanh nghiệp và các tổ chức cung cấp dịch vụ số; thúc đẩy xây dựng hạ tầng dữ liệu quốc gia, thị trường dữ liệu và dịch vụ dữ liệu. Cách tiếp cận này góp phần chuyển đổi phương thức quản trị từ “quản lý hồ sơ” sang “quản trị bằng dữ liệu”, lấy dữ liệu làm trung tâm trong hoạch định chính sách, cung cấp dịch vụ công và phát triển kinh tế số đã được thể hiện rõ ràng tại Điều 9 (chính sách của Nhà nước về chuyển đổi số).

Hoàn thiện cơ sở pháp lý cho phát triển nền kinh tế số

Luật Chuyển đổi số năm 2025 không chỉ điều chỉnh hoạt động của cơ quan nhà nước mà còn xây dựng khuôn khổ pháp lý thúc đẩy doanh nghiệp và thị trường số phát triển. Điều 36 quy định: "Phát triển kinh tế số là nhiệm vụ trọng tâm, đột phá trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước nhằm thúc đẩy tăng trưởng nhanh, bền vững, bao trùm và hiệu quả dựa trên hệ thống số, nền tảng số, công nghệ số và dữ liệu số" và phải "lấy doanh nghiệp là trung tâm, thúc đẩy việc ứng dụng, phát triển công nghệ số". Quy định cụ thể tạo điều kiện pháp lý cho việc phát triển doanh nghiệp công nghệ số, nền tảng số, dịch vụ số, tài sản số, mô hình kinh doanh số và các hoạt động đổi mới sáng tạo dựa trên công nghệ số. Đặc biệt, "Nhà nước thực hiện các biện pháp hỗ trợ tài chính và các hình thức hỗ trợ khác cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, hợp tác xã, hộ kinh doanh chuyển đổi số, tham gia vào hoạt động phát triển kinh tế số, đóng góp cho mục tiêu tăng trưởng nhanh, bền vững". Đồng thời, các quy định đều khuyến khích đầu tư vào hạ tầng số, phát triển công nghệ mới và tăng cường ứng dụng trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, điện toán đám mây và các công nghệ số tiên tiến. Đây là điểm khác biệt quan trọng so với các luật trước đây vốn chủ yếu điều chỉnh khía cạnh quản lý nhà nước mà chưa hình thành cơ chế pháp lý tổng thể thúc đẩy phát triển kinh tế số. Một điểm tiến bộ của Luật Chuyển đổi số năm 2025 là chuyển từ tư duy “quản lý công nghệ” sang “phục vụ con người”. Theo đó, mọi hoạt động chuyển đổi số đều hướng đến nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân, giảm chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp và nâng cao hiệu quả quản trị của Nhà nước. Với việc xác lập rõ quyền và trách nhiệm của người dân, doanh nghiệp trong môi trường số; thúc đẩy phổ cập kỹ năng số, phát triển công dân số, mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ số, dịch vụ công trực tuyến và các nền tảng số dùng chung, Luật Chuyển đổi số năm 2025 thể hiện sự phù hợp với nguyên tắc quản trị hiện đại, lấy người dân làm trung tâm, lấy doanh nghiệp làm động lực và lấy dữ liệu làm nền tảng cho phát triển.

Tăng cường cơ chế phối hợp liên ngành trong quản trị chuyển đổi số

Luật Chuyển đổi số năm 2025 đã xác định rõ trách nhiệm của Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương và các chủ thể liên quan trong việc tổ chức thực hiện chuyển đổi số, “bảo đảm điều phối thống nhất giữa các Bộ, ngành, địa phương; hoàn thiện cơ chế, chính sách, tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật phục vụ chuyển đổi số; tránh phân tán nguồn lực, trùng lặp hệ thống số, nền tảng số và dữ liệu số” (khoản 8 Điều 9). Luật đã thiết lập cơ chế điều phối thống nhất giữa các cơ quan nhà nước; quy định nguyên tắc chia sẻ dữ liệu, phối hợp quản lý và giám sát việc triển khai các chương trình chuyển đổi số trên phạm vi toàn quốc. Điều này góp phần nâng cao hiệu quả quản trị nhà nước, hạn chế tình trạng đầu tư trùng lặp, “cát cứ” dữ liệu và thiếu kết nối giữa các hệ thống thông tin. Trong khi các đạo luật chuyên ngành điều chỉnh từng lĩnh vực cụ thể thì Luật Chuyển đổi số năm 2025 xác lập các nguyên tắc chung, định hướng thống nhất và cơ chế phối hợp giữa các lĩnh vực, góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật về chuyển đổi số theo hướng đồng bộ, thống nhất và tránh chồng chéo, trùng lặp. Đạo luật không chỉ quy định về công nghệ mà còn xây dựng cơ chế phát triển nguồn nhân lực số, văn hóa số, kỹ năng số, đổi mới sáng tạo và quản trị dữ liệu. Đây là xu hướng lập pháp phổ biến tại nhiều quốc gia trong bối cảnh chuyển đổi số trở thành động lực phát triển kinh tế - xã hội.

3. Ý nghĩa của việc ban hành Luật Chuyển đổi số năm 2025

Một là, hoàn thiện thể chế pháp luật về chuyển đổi số quốc gia.

Ý nghĩa quan trọng nhất của Luật Chuyển đổi số năm 2025 là tạo lập khuôn khổ pháp lý thống nhất, toàn diện để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình chuyển đổi số. Việc ban hành Luật đánh dấu bước chuyển từ mô hình điều chỉnh pháp luật theo từng lĩnh vực sang xây dựng một đạo luật nền tảng với vai trò điều phối toàn bộ hoạt động chuyển đổi số trên phạm vi quốc gia. Qua đó, Luật góp phần bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ và minh bạch của hệ thống pháp luật, tạo cơ sở cho việc rà soát, sửa đổi và hoàn thiện các đạo luật chuyên ngành có liên quan.

Hai là, kiến tạo mô hình quản trị quốc gia hiện đại dựa trên dữ liệu và công nghệ số.

Sự đặc biệt của Luật Chuyển đổi số năm 2025 là tạo nền tảng pháp lý cho quá trình đổi mới phương thức quản trị quốc gia. Nếu mô hình quản lý truyền thống chủ yếu dựa trên hồ sơ giấy và quy trình hành chính thủ công thì Luật định hướng chuyển sang mô hình quản trị số, trong đó dữ liệu trở thành nguồn lực cốt lõi cho việc hoạch định chính sách, tổ chức thực thi và cung cấp dịch vụ công. Việc thiết lập cơ chế kết nối, chia sẻ và khai thác dữ liệu giữa các cơ quan nhà nước góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, giảm chi phí hành chính, tăng tính minh bạch và trách nhiệm giải trình của bộ máy nhà nước. Các nhà lập pháp đã có góc nhìn toàn diện, tiếp cận dữ liệu như một nguồn lực phát triển, có giá trị kinh tế, xã hội và quản trị. Việc xây dựng cơ chế pháp lý về tạo lập, kết nối, chia sẻ, khai thác và sử dụng dữ liệu góp phần phát huy giá trị của dữ liệu trong quản lý nhà nước, phát triển doanh nghiệp và cung cấp dịch vụ công, đồng thời tạo nền tảng cho sự hình thành thị trường dữ liệu và các dịch vụ dữ liệu trong tương lai.

Ba là, thúc đẩy phát triển kinh tế số và xã hội số, cạnh tranh quốc gia.

Luật Chuyển đổi số năm 2025 có ý nghĩa đặc biệt trong việc tạo lập môi trường pháp lý ổn định cho phát triển kinh tế số. Thông qua việc quy định các nguyên tắc về hạ tầng số, dữ liệu số, nền tảng số, dịch vụ số và các hoạt động đổi mới sáng tạo, Luật góp phần khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào công nghệ mới, phát triển các mô hình kinh doanh số và nâng cao năng suất lao động. Đối với người dân, Luật tạo điều kiện mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ công trực tuyến, nâng cao chất lượng phục vụ và thúc đẩy hình thành công dân số, không để ai bị bỏ lại phía sau, đặc biệt quan tâm tới những đối tượng công dân là người yếu thế, công dân ở những khu vực có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, giúp họ thu hẹp dần khoảng cách số: "hỗ trợ phát triển hạ tầng chuyển đổi số, thu hẹp khoảng cách số; hỗ trợ tiếp cận, khai thác, sử dụng hiệu quả hạ tầng chuyển đổi số, thiết bị công nghệ số, năng lực số; nâng cao năng lực tiếp cận thông tin, tri thức chuyển đổi số cho người khuyết tật, người cao tuổi, trẻ em, người dân sinh sống ở khu vực biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn, các nhóm dễ bị tổn thương khác trong xã hội theo quy định của pháp luật" (khoản 11 Điều 9). Đối với doanh nghiệp, Luật góp phần tạo lập môi trường pháp lý minh bạch, bình đẳng và thuận lợi cho hoạt động đầu tư, kinh doanh và đổi mới sáng tạo. Đồng thời, các quy định trong Luật Chuyển đổi số năm 2025 góp phần giảm thiểu rủi ro pháp lý trong hoạt động đầu tư, tăng tính dự báo của môi trường kinh doanh và nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam trong nền kinh tế số toàn cầu.

Luật Chuyển đổi số năm 2025 không chỉ giải quyết các yêu cầu trước mắt mà còn đặt nền móng cho sự phát triển bền vững của quốc gia trong tương lai. Bằng việc định hướng phát triển đồng bộ hạ tầng số, nguồn nhân lực số, dữ liệu số, đổi mới sáng tạo và văn hóa số, Luật góp phần hình thành hệ sinh thái số toàn diện, tạo động lực mới cho tăng trưởng kinh tế, cải cách hành chính và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân, doanh nghiệp và của toàn xã hội.

Kết luận

Luật Chuyển đổi số năm 2025 thay thế Luật Công nghệ thông tin năm 2006 là cần thiết, trở thành cơ sở pháp lý góp phần đưa đất nước phát triển trong sự hòa nhập với quốc tế, bảo đảm thực hiện các cam kết quốc tế về thương mại điện tử, kinh tế số, quản trị dữ liệu và hợp tác quốc tế công nghệ; nâng cao uy tín, thu hút đầu tư và tăng cường năng lực cạnh tranh quốc gia trong quá trình hội nhập, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trong kỷ nguyên số với phương châm “Nhà nước đẩy mạnh hợp tác song phương, đa phương với các quốc gia, tổ chức quốc tế, doanh nghiệp toàn cầu trong lĩnh vực chuyển đổi số theo nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền và bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng”.

Nông Thị Lệ, Trường Đại học Kinh tế - Công nghệ Thái Nguyên

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.
Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh ngân hàng số phát triển, thông tin chưa được kiểm chứng có thể tác động nhanh đến tâm lý và hành vi của người gửi tiền. Nghiên cứu phân tích quy định pháp luật và thực tiễn phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hoạt động này chưa chú trọng đầy đủ đến mức độ hiểu và khả năng vận dụng pháp luật của người gửi tiền; nội dung còn thiên về tính chuyên môn; phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật và cơ chế cung cấp thông tin kịp thời còn hạn chế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá, tích hợp thông tin pháp luật ngắn gọn vào dịch vụ ngân hàng số và tăng cường cung cấp thông tin chính thức, kịp thời nhằm bảo vệ người gửi tiền và củng cố niềm tin vào hệ thống ngân hàng.
Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Quyền con người phản ánh sự kết tinh những giá trị nhân phẩm cao quý của nhân loại. Nghiên cứu công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người là phân tích, đánh giá phương thức thể chế hóa các chủ trương của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời, đề xuất giải pháp khắc phục những hạn chế của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 trước thách thức mới từ công nghệ số. Trên cơ sở tổng hợp và so sánh luật học, nghiên cứu phân tích, đánh giá vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người và thực trạng thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012. Đồng thời, nghiên cứu đánh giá tính phù hợp, khả thi của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Từ đó, kiến nghị và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 quy định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy mà không tự nguyện cai nghiện. Mặc dù không được xem là biện pháp xử lý hành chính nhưng biện pháp này mang tính cách ly người bị áp dụng khỏi cộng đồng. Để bảo vệ quyền của người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, pháp luật cho phép các chủ thể liên quan khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định quyền khởi kiện hay kháng cáo đối với quyết định này. Nghiên cứu phân tích bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, đồng thời, đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng biện pháp này.
Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã xác định rõ trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách tư pháp và chuyển đổi số quốc gia, vai trò này ngày càng trở nên quan trọng. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý, thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Tòa án nhân dân; trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động này trong hệ thống Tòa án nhân dân.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Sự phát triển của nền tảng số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang làm thay đổi phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật, đồng thời, đặt ra nhiều thách thức trong kiểm soát thông tin pháp luật trên môi trường số. Bên cạnh việc mở rộng khả năng tiếp cận pháp luật của người dân, tình trạng lan truyền thông tin pháp luật sai lệch, thiếu kiểm chứng hoặc được tạo sinh bởi hệ thống trí tuệ nhân tạo đang ảnh hưởng đến hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật và quyền tiếp cận thông tin pháp luật chính xác. Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam, nghiên cứu phân tích bất cập trong kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm chính xác của thông tin pháp luật trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

(Cập nhật bởi LuatVietnam.vn)
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Tóm tắt: Mô hình chính quyền địa phương hai cấp được triển khai ở Việt Nam từ ngày 01/7/2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quá trình đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, tăng cường phân quyền, phân cấp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị địa phương. Nghiên cứu phân tích các cơ hội và thách thức trong quá trình triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam, làm rõ những vấn đề đặt ra trong hoàn thiện thể chế, bảo đảm nguồn lực và nâng cao năng lực quản trị địa phương, từ đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam thời gian tới.
Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ và Nhân dân. Tuy nhiên, trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số và hoàn thiện thể chế theo chủ trương, định hướng của Đảng, nhiều quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 bộc lộ những hạn chế, bất cập. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, tổng kết thực tiễn thi hành và bối cảnh phát triển đất nước giai đoạn mới, nghiên cứu làm rõ những bất cập về tổ chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật, đối tượng đặc thù, nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật và sự không thống nhất của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 với một số luật liên quan. Từ đó, kiến nghị sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong bối cảnh hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Tóm tắt: Việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 là cấp thiết trước yêu cầu khắc phục tình trạng tuyên truyền thiên về hình thức, chưa gắn chặt với những vấn đề pháp lý mà người dân thực sự cần được hỗ trợ. Nghiên cứu phân tích khoảng cách giữa nguyên tắc phù hợp với nhu cầu và cơ chế nhận diện, phản ánh, đáp ứng, đo lường nhu cầu pháp lý trong dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật[1] (dự thảo Luật). Trên cơ sở phân tích quy phạm, bình luận chính sách và tiếp cận liên ngành về nhu cầu pháp lý, năng lực pháp lý, tiếp cận công lý, nghiên cứu tập trung vào các quy định về nguyên tắc, nội dung, hình thức, hướng dẫn và giải đáp pháp luật, đối tượng đặc thù, giáo dục pháp luật trong cơ sở giáo dục, trách nhiệm tổ chức thực hiện, cơ chế cấp xã, chuyển đổi số và đánh giá hiệu quả. Kết quả nghiên cứu cho thấy, dự thảo Luật đã có nhiều định hướng tích cực nhưng thiếu cơ chế khảo sát nhu cầu, thiết kế nội dung theo tình huống, chuyển tuyến hỗ trợ pháp lý và đánh giá khả năng hiểu, vận dụng pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các cơ chế bảo đảm cách tiếp cận lấy nhu cầu pháp lý của người dân làm trung tâm.
Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh, mạnh mẽ của không gian mạng đang tác động sâu sắc đến đời sống xã hội, đồng thời, đặt ra nhiều rủi ro đối với người chưa thành niên. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật cho nhóm đối tượng này. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết của chuyển đổi số trong phổ biến, giáo dục pháp luật đối với người chưa thành niên; đánh giá thực trạng triển khai tại Việt Nam, chỉ ra những hạn chế, bất cập, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập

Tóm tắt: Pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập là một bộ phận của pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật, có vai trò quan trọng trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trên cơ sở làm rõ khái niệm, đặc trưng và các tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện, nghiên cứu phân tích thực trạng pháp luật hiện hành, chỉ ra những kết quả đạt được và các hạn chế. Từ đó, nghiên cứu đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Hoàn thiện pháp luật để thúc đẩy hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số cho người cao tuổi

Hoàn thiện pháp luật để thúc đẩy hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số cho người cao tuổi

Tóm tắt: Chuyển đổi số đặt ra yêu cầu cấp thiết cần đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật, nhất là đối với các nhóm đối tượng đặc thù có năng lực số hạn chế. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số trên cơ sở chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước và yêu cầu của chuyển đổi số; đánh giá thực trạng quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Thông qua trường hợp cảnh báo về “hợp đồng kỳ nghỉ”, nghiên cứu làm rõ những hạn chế trong việc tiếp cận thông tin pháp luật của người cao tuổi trên môi trường số, từ đó, chỉ ra những bất cập của pháp luật hiện hành. Trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm quốc tế, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các quy định pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số.
Nguyên tắc “6 rõ” trong tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Nguyên tắc “6 rõ” trong tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Trong đợt tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật năm 2026 - một nhiệm vụ trọng yếu được triển khai theo Kết luận số 09-KL/TW ngày 10/3/2026 của Bộ Chính trị về hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới - nguyên tắc “6 rõ” đã được xác lập như một chuẩn mực kỹ thuật và quản trị cốt lõi. Nội dung của nguyên tắc này bao gồm: rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ thẩm quyền và rõ kết quả.
Nâng cao nhận thức, chung tay đẩy lùi tội phạm mua bán người

Nâng cao nhận thức, chung tay đẩy lùi tội phạm mua bán người

Ngày 30/7 hằng năm được Đại hội đồng Liên hợp quốc chọn là Ngày Thế giới phòng, chống mua bán người (World Day Against Trafficking in Persons) nhằm nâng cao nhận thức của cộng đồng về những hậu quả nghiêm trọng của tội phạm mua bán người, đồng thời kêu gọi các quốc gia tăng cường hợp tác, triển khai các giải pháp phòng ngừa, đấu tranh và bảo vệ nạn nhân.

Theo dõi chúng tôi trên: