Ngày 11/12/2025, Quốc hội thông qua Luật Chuyển đổi số năm 2025, đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong sự phát triển của khung pháp luật về chuyển đổi số của Việt Nam. Sự ra đời của Luật Chuyển đổi số xuất phát từ kết quả tất yếu của sự phát triển khách quan, sự bùng nổ của khoa học công nghệ trên thế giới nói chung, Việt Nam nói riêng. Việc ban hành Luật Chuyển đổi số năm 2025 thay thế Luật Công nghệ thông tin năm 2006 là thật sự cần thiết, tạo nền tảng pháp lý cơ bản, quan trọng, thúc đẩy sự phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới “kỷ nguyên số”.
![]() |
| Ảnh minh họa |
1. Sự cần thiết ban hành Luật chuyển đổi số năm 2025
Luật Chuyển đổi số năm 2025 được ban hành khi các quy định liên quan đến chuyển đổi số trong nhiều văn bản khác nhau như Luật Giao dịch điện tử năm 2023, Luật An ninh mạng năm 2025, Luật Viễn thông năm 2023, Luật bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2025 cùng nhiều nghị định, quyết định của Chính phủ. Mặc dù các văn bản này đã góp phần hình thành nền tảng pháp lý cho quá trình ứng dụng công nghệ số, song mỗi văn bản luật chỉ điều chỉnh một lĩnh vực chuyên ngành riêng biệt mà chưa tiếp cận chuyển đổi số như một quá trình chuyển đổi tổng thể của quốc gia. Luật Giao dịch điện tử năm 2023 quy định “việc thực hiện giao dịch bằng phương tiện điện tử“; Luật An ninh mạng năm 2025 quy định ”về an ninh mạng, bảo vệ an ninh mạng; quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan“; Luật Viễn thông năm 2023 quy định ”về hoạt động viễn thông; quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động viễn thông; quản lý nhà nước về viễn thông“; Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2025 quy định ”về dữ liệu cá nhân, bảo vệ dữ liệu cá nhân và quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan".
Thực trạng đó dẫn đến việc hạn chế như phạm vi điều chỉnh chưa thống nhất; chưa xác định rõ quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của các chủ thể tham gia chuyển đổi số; thiếu cơ chế điều phối, chia sẻ và khai thác dữ liệu giữa các cơ quan nhà nước và khu vực tư nhân; đồng thời chưa có cơ chế quản lý thống nhất đối với tài sản số, nền tảng số, dịch vụ số và các mô hình kinh doanh số mới. Từ đó, làm giảm hiệu quả tổ chức thực hiện, gây khó khăn cho hoạt động đầu tư, đổi mới sáng tạo cũng như bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong môi trường số. Sự ra đời của Luật Chuyển đổi số năm 2025 là cần thiết nhằm pháp điển hóa các chính sách rời rạc thành một hành lang pháp lý thống nhất, toàn vẹn, đáp ứng sự phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới khi khoa học công nghệ, trí tuệ nhân tạo phát triển mạnh mẽ trên phạm vi toàn cầu.
2. Điểm nổi bật của Luật chuyển đổi số năm 2025
Luật Chuyển đổi số năm 2025 được kết cấu gồm 08 chương với 48 điều, thể hiện rõ ràng, nổi bật các quy định, chính sách của Nhà nước về vấn đề chuyển đổi số. Cụ thể:
Điều chỉnh toàn diện về chuyển đổi số quốc gia
Lần đầu tiên Việt Nam ban hành một đạo luật điều chỉnh toàn diện các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình chuyển đổi số. Luật Chuyển đổi số năm 2025 quy định về "chuyển đổi số, bao gồm nguyên tắc, chính sách về chuyển đổi số; điều phối quốc gia về chuyển đổi số; biện pháp bảo đảm chuyển đổi số; Chính phủ số; kinh tế số, xã hội số; trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong chuyển đổi số". Lần đầu tiên các khái niệm “chuyển đổi số”, “Chính phủ số” “kinh tế số” “xã hội số” được ghi nhận chính thức, thống nhất, tạo nền tảng pháp lý vững chắc trong toàn bộ quy trình phát triển của chuyển đổi số quốc gia (Điều 3 Luật Chuyển đổi số 2025).
Theo đó, “chuyển đổi số là quá trình chuyển đổi phương thức hoạt động, quản trị và cung cấp dịch vụ dựa trên công nghệ số, dữ liệu số, hệ thống số, nền tảng số, quy trình số nhằm tạo ra giá trị mới, hiệu quả và minh bạch”. “Chính phủ số là mô hình để tổ chức và vận hành các hoạt động của cơ quan nhà nước trên môi trường số, dựa trên dữ liệu số, hạ tầng số, hạ tầng số công cộng, hệ thống số và nền tảng số để ra quyết định kịp thời, điều hành hiệu quả, bảo đảm minh bạch và kết nối, liên thông với tổ chức, doanh nghiệp và người dân”. “Kinh tế số là hoạt động kinh tế dựa trên dữ liệu số, hạ tầng số, hạ tầng số công cộng, hệ thống số, nền tảng số và mô hình vận hành số”. “Xã hội số là xã hội trong đó cá nhân, tổ chức chủ yếu hoạt động, tương tác thông qua dịch vụ số, hệ thống số, nền tảng số và môi trường số”.
Đây là bước tiến quan trọng trong tư duy lập pháp, chuyển từ cách tiếp cận quản lý từng lĩnh vực công nghệ chuyên ngành sang quản trị tổng thể hệ sinh thái số tạo ra sự kết nối giữa hoạt động quản trị nhà nước, hoạt động sản xuất - kinh doanh và đời sống xã hội trong môi trường số, bảo đảm quá trình chuyển đổi số được triển khai đồng bộ từ trung ương đến địa phương, giữa khu vực công và khu vực tư, tránh tình trạng phát triển cục bộ, thiếu liên thông. Quy định của Luật đặt ra yêu cầu thủ tục hành chính đủ điều kiện phải được thực hiện hoàn toàn trên môi trường số từ khâu tiếp nhận, xử lý đến trả kết quả. Chất lượng dịch vụ này sẽ được giám sát và đo lường theo thời gian thực để bảo đảm trải nghiệm tốt nhất cho người dùng. Các quy định cụ thể mở ra khung pháp lý cho việc triển khai thử nghiệm các sản phẩm, dịch vụ, mô hình kinh doanh số mới chưa có tiền lệ trong phạm vi giới hạn quy định cụ thể. Cơ chế này giúp Nhà nước đánh giá hiệu quả thực tế trước khi chính thức đầu tư hoặc mua sắm. Việc xác định rõ ba trụ cột “Chính phủ số” - “Kinh tế số” - “Xã hội số” thể hiện sự tiếp cận phù hợp, nhạy bén, tiếp cận với xu hướng quản trị số của nhiều quốc gia trên thế giới và đáp ứng yêu cầu phát triển nền kinh tế số trong chiến lược phát triển quốc gia.
Xây dựng cơ chế pháp lý tổng thể về dữ liệu và quản trị dữ liệu
Một trong những điểm đột phá của Luật Chuyển đổi số năm 2025 là xác định "dữ liệu là nguồn tài nguyên chiến lược" của quốc gia và thiết lập cơ chế quản trị dữ liệu theo hướng thống nhất. Một trong những nguyên tắc kiến trúc và thiết kế hệ thống số được quy định tại khoản 5 Điều 7 Luật Chuyển đổi số năm 2025 đã xác định "lấy dữ liệu làm trung tâm; bảo đảm dữ liệu được thu thập, quản lý, chia sẻ và khai báo một lần là yêu cầu mặc định; sử dụng hiệu quả để nâng cao chất lượng ra quyết định, chất lượng dịch vụ". Khác với các Luật khác chỉ tập trung vào bảo vệ hoặc khai thác dữ liệu trong từng lĩnh vực chuyên ngành, Luật Chuyển đổi số quy định toàn diện về việc tạo lập, thu thập, kết nối, chia sẻ, khai thác và sử dụng dữ liệu trong toàn bộ quá trình chuyển đổi số. Cụ thể, tại khoản 3 Điều 4 quy định rõ "xây dựng, phát triển, bảo vệ, quản trị, xử lý, sử dụng dữ liệu; điều phối, kết nối, chia sẻ, mở, giám sát, đánh giá, khai thác, kiểm toán, xếp hạng dữ liệu và các hoạt động khác theo quy định của pháp luật về dữ liệu". Đồng thời, Luật hình thành cơ chế liên thông dữ liệu giữa các cơ quan nhà nước, doanh nghiệp và các tổ chức cung cấp dịch vụ số; thúc đẩy xây dựng hạ tầng dữ liệu quốc gia, thị trường dữ liệu và dịch vụ dữ liệu. Cách tiếp cận này góp phần chuyển đổi phương thức quản trị từ “quản lý hồ sơ” sang “quản trị bằng dữ liệu”, lấy dữ liệu làm trung tâm trong hoạch định chính sách, cung cấp dịch vụ công và phát triển kinh tế số đã được thể hiện rõ ràng tại Điều 9 (chính sách của Nhà nước về chuyển đổi số).
Hoàn thiện cơ sở pháp lý cho phát triển nền kinh tế số
Luật Chuyển đổi số năm 2025 không chỉ điều chỉnh hoạt động của cơ quan nhà nước mà còn xây dựng khuôn khổ pháp lý thúc đẩy doanh nghiệp và thị trường số phát triển. Điều 36 quy định: "Phát triển kinh tế số là nhiệm vụ trọng tâm, đột phá trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước nhằm thúc đẩy tăng trưởng nhanh, bền vững, bao trùm và hiệu quả dựa trên hệ thống số, nền tảng số, công nghệ số và dữ liệu số" và phải "lấy doanh nghiệp là trung tâm, thúc đẩy việc ứng dụng, phát triển công nghệ số". Quy định cụ thể tạo điều kiện pháp lý cho việc phát triển doanh nghiệp công nghệ số, nền tảng số, dịch vụ số, tài sản số, mô hình kinh doanh số và các hoạt động đổi mới sáng tạo dựa trên công nghệ số. Đặc biệt, "Nhà nước thực hiện các biện pháp hỗ trợ tài chính và các hình thức hỗ trợ khác cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, hợp tác xã, hộ kinh doanh chuyển đổi số, tham gia vào hoạt động phát triển kinh tế số, đóng góp cho mục tiêu tăng trưởng nhanh, bền vững". Đồng thời, các quy định đều khuyến khích đầu tư vào hạ tầng số, phát triển công nghệ mới và tăng cường ứng dụng trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, điện toán đám mây và các công nghệ số tiên tiến. Đây là điểm khác biệt quan trọng so với các luật trước đây vốn chủ yếu điều chỉnh khía cạnh quản lý nhà nước mà chưa hình thành cơ chế pháp lý tổng thể thúc đẩy phát triển kinh tế số. Một điểm tiến bộ của Luật Chuyển đổi số năm 2025 là chuyển từ tư duy “quản lý công nghệ” sang “phục vụ con người”. Theo đó, mọi hoạt động chuyển đổi số đều hướng đến nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân, giảm chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp và nâng cao hiệu quả quản trị của Nhà nước. Với việc xác lập rõ quyền và trách nhiệm của người dân, doanh nghiệp trong môi trường số; thúc đẩy phổ cập kỹ năng số, phát triển công dân số, mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ số, dịch vụ công trực tuyến và các nền tảng số dùng chung, Luật Chuyển đổi số năm 2025 thể hiện sự phù hợp với nguyên tắc quản trị hiện đại, lấy người dân làm trung tâm, lấy doanh nghiệp làm động lực và lấy dữ liệu làm nền tảng cho phát triển.
Tăng cường cơ chế phối hợp liên ngành trong quản trị chuyển đổi số
Luật Chuyển đổi số năm 2025 đã xác định rõ trách nhiệm của Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương và các chủ thể liên quan trong việc tổ chức thực hiện chuyển đổi số, “bảo đảm điều phối thống nhất giữa các Bộ, ngành, địa phương; hoàn thiện cơ chế, chính sách, tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật phục vụ chuyển đổi số; tránh phân tán nguồn lực, trùng lặp hệ thống số, nền tảng số và dữ liệu số” (khoản 8 Điều 9). Luật đã thiết lập cơ chế điều phối thống nhất giữa các cơ quan nhà nước; quy định nguyên tắc chia sẻ dữ liệu, phối hợp quản lý và giám sát việc triển khai các chương trình chuyển đổi số trên phạm vi toàn quốc. Điều này góp phần nâng cao hiệu quả quản trị nhà nước, hạn chế tình trạng đầu tư trùng lặp, “cát cứ” dữ liệu và thiếu kết nối giữa các hệ thống thông tin. Trong khi các đạo luật chuyên ngành điều chỉnh từng lĩnh vực cụ thể thì Luật Chuyển đổi số năm 2025 xác lập các nguyên tắc chung, định hướng thống nhất và cơ chế phối hợp giữa các lĩnh vực, góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật về chuyển đổi số theo hướng đồng bộ, thống nhất và tránh chồng chéo, trùng lặp. Đạo luật không chỉ quy định về công nghệ mà còn xây dựng cơ chế phát triển nguồn nhân lực số, văn hóa số, kỹ năng số, đổi mới sáng tạo và quản trị dữ liệu. Đây là xu hướng lập pháp phổ biến tại nhiều quốc gia trong bối cảnh chuyển đổi số trở thành động lực phát triển kinh tế - xã hội.
3. Ý nghĩa của việc ban hành Luật Chuyển đổi số năm 2025
Một là, hoàn thiện thể chế pháp luật về chuyển đổi số quốc gia.
Ý nghĩa quan trọng nhất của Luật Chuyển đổi số năm 2025 là tạo lập khuôn khổ pháp lý thống nhất, toàn diện để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình chuyển đổi số. Việc ban hành Luật đánh dấu bước chuyển từ mô hình điều chỉnh pháp luật theo từng lĩnh vực sang xây dựng một đạo luật nền tảng với vai trò điều phối toàn bộ hoạt động chuyển đổi số trên phạm vi quốc gia. Qua đó, Luật góp phần bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ và minh bạch của hệ thống pháp luật, tạo cơ sở cho việc rà soát, sửa đổi và hoàn thiện các đạo luật chuyên ngành có liên quan.
Hai là, kiến tạo mô hình quản trị quốc gia hiện đại dựa trên dữ liệu và công nghệ số.
Sự đặc biệt của Luật Chuyển đổi số năm 2025 là tạo nền tảng pháp lý cho quá trình đổi mới phương thức quản trị quốc gia. Nếu mô hình quản lý truyền thống chủ yếu dựa trên hồ sơ giấy và quy trình hành chính thủ công thì Luật định hướng chuyển sang mô hình quản trị số, trong đó dữ liệu trở thành nguồn lực cốt lõi cho việc hoạch định chính sách, tổ chức thực thi và cung cấp dịch vụ công. Việc thiết lập cơ chế kết nối, chia sẻ và khai thác dữ liệu giữa các cơ quan nhà nước góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, giảm chi phí hành chính, tăng tính minh bạch và trách nhiệm giải trình của bộ máy nhà nước. Các nhà lập pháp đã có góc nhìn toàn diện, tiếp cận dữ liệu như một nguồn lực phát triển, có giá trị kinh tế, xã hội và quản trị. Việc xây dựng cơ chế pháp lý về tạo lập, kết nối, chia sẻ, khai thác và sử dụng dữ liệu góp phần phát huy giá trị của dữ liệu trong quản lý nhà nước, phát triển doanh nghiệp và cung cấp dịch vụ công, đồng thời tạo nền tảng cho sự hình thành thị trường dữ liệu và các dịch vụ dữ liệu trong tương lai.
Ba là, thúc đẩy phát triển kinh tế số và xã hội số, cạnh tranh quốc gia.
Luật Chuyển đổi số năm 2025 có ý nghĩa đặc biệt trong việc tạo lập môi trường pháp lý ổn định cho phát triển kinh tế số. Thông qua việc quy định các nguyên tắc về hạ tầng số, dữ liệu số, nền tảng số, dịch vụ số và các hoạt động đổi mới sáng tạo, Luật góp phần khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào công nghệ mới, phát triển các mô hình kinh doanh số và nâng cao năng suất lao động. Đối với người dân, Luật tạo điều kiện mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ công trực tuyến, nâng cao chất lượng phục vụ và thúc đẩy hình thành công dân số, không để ai bị bỏ lại phía sau, đặc biệt quan tâm tới những đối tượng công dân là người yếu thế, công dân ở những khu vực có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, giúp họ thu hẹp dần khoảng cách số: "hỗ trợ phát triển hạ tầng chuyển đổi số, thu hẹp khoảng cách số; hỗ trợ tiếp cận, khai thác, sử dụng hiệu quả hạ tầng chuyển đổi số, thiết bị công nghệ số, năng lực số; nâng cao năng lực tiếp cận thông tin, tri thức chuyển đổi số cho người khuyết tật, người cao tuổi, trẻ em, người dân sinh sống ở khu vực biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn, các nhóm dễ bị tổn thương khác trong xã hội theo quy định của pháp luật" (khoản 11 Điều 9). Đối với doanh nghiệp, Luật góp phần tạo lập môi trường pháp lý minh bạch, bình đẳng và thuận lợi cho hoạt động đầu tư, kinh doanh và đổi mới sáng tạo. Đồng thời, các quy định trong Luật Chuyển đổi số năm 2025 góp phần giảm thiểu rủi ro pháp lý trong hoạt động đầu tư, tăng tính dự báo của môi trường kinh doanh và nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam trong nền kinh tế số toàn cầu.
Luật Chuyển đổi số năm 2025 không chỉ giải quyết các yêu cầu trước mắt mà còn đặt nền móng cho sự phát triển bền vững của quốc gia trong tương lai. Bằng việc định hướng phát triển đồng bộ hạ tầng số, nguồn nhân lực số, dữ liệu số, đổi mới sáng tạo và văn hóa số, Luật góp phần hình thành hệ sinh thái số toàn diện, tạo động lực mới cho tăng trưởng kinh tế, cải cách hành chính và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân, doanh nghiệp và của toàn xã hội.
Kết luận
Luật Chuyển đổi số năm 2025 thay thế Luật Công nghệ thông tin năm 2006 là cần thiết, trở thành cơ sở pháp lý góp phần đưa đất nước phát triển trong sự hòa nhập với quốc tế, bảo đảm thực hiện các cam kết quốc tế về thương mại điện tử, kinh tế số, quản trị dữ liệu và hợp tác quốc tế công nghệ; nâng cao uy tín, thu hút đầu tư và tăng cường năng lực cạnh tranh quốc gia trong quá trình hội nhập, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trong kỷ nguyên số với phương châm “Nhà nước đẩy mạnh hợp tác song phương, đa phương với các quốc gia, tổ chức quốc tế, doanh nghiệp toàn cầu trong lĩnh vực chuyển đổi số theo nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền và bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng”.