![]() |
| Ban Nghiệp vụ thi hành án hành chính và Thừa hành viên, Cục Quản lý THADS, Bộ Tư pháp |
1. Khái quát chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về thi hành án hành chính
Đảng và Nhà nước luôn xác định bảo đảm thi hành nghiêm minh các bản án, quyết định của Tòa án là yêu cầu quan trọng trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những năm qua, chủ trương, định hướng của Đảng về THAHC được thể hiện xuyên suốt trong nhiều nghị quyết, kết luận quan trọng[1]. Các văn kiện này nhấn mạnh yêu cầu bảo đảm mọi bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật phải được tôn trọng, chấp hành nghiêm chỉnh; nâng cao hiệu quả THAHC; tăng cường trách nhiệm của cơ quan hành chính, người có thẩm quyền và cơ chế kiểm tra, giám sát, xử lý trách nhiệm đối với các trường hợp không chấp hành bản án.
Để thể chế hóa các chủ trương của Đảng, khuôn khổ pháp lý về THAHC đã từng bước hoàn thiện, từ quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) đến Luật Tố tụng hành chính năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Luật Tố tụng hành chính năm 2015) và Nghị định số 71/2016/NĐ-CP[2]. Hiện, pháp luật THAHC quy định trách nhiệm “tự thi hành” của người phải thi hành án là cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước, song đã hoàn thiện thêm cơ chế kiểm soát trách nhiệm THAHC thông qua quy định Tòa án ra quyết định buộc thi hành án[3], Viện kiểm sát kiểm sát hoạt động THAHC của các đương sự[4], cơ quan thi hành án dân sự (THADS) thực hiện theo dõi THAHC[5] và người đứng đầu, người đứng đầu cơ quan cấp trên trực tiếp của người phải thi hành án có trách nhiệm đôn đốc, chỉ đạo, kiểm tra và xử lý trách nhiệm của người phải thi hành án không THAHC thuộc thẩm quyền quản lý[6]. Đặc biệt, Nghị định số 71/2016/NĐ-CP lần đầu quy định cụ thể biện pháp xử lý trách nhiệm đối với người phải thi hành án không thi hành bản án hành chính, vấn đề trước đó chỉ quy định mang tính nguyên tắc trong Pháp lệnh về thủ tục giải quyết các vụ án hành chính năm 1996 và Luật Tố tụng hành chính năm 2010. Cụ thể hóa các chủ trương, chính sách của Đảng, Luật Tố tụng hành chính năm 2015 và Nghị định số 71/2016/NĐ-CP đã tạo cơ sở pháp lý ngày càng đầy đủ cho công tác theo dõi, đôn đốc, kiểm tra, gắn cơ chế “tự thi hành” với xử lý trách nhiệm trong THAHC nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cơ quan, người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước là người phải thi hành án.
2. Vị trí, vai trò của thi hành án hành chính trong bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước
2.1. Vị trí của thi hành án hành chính trong hệ thống pháp luật và bộ máy nhà nước
Cùng với tố tụng dân sự, tố tụng hình sự, tố tụng hành chính là một trong ba trình tự, thủ tục từ giai đoạn khởi kiện, thụ lý, xét xử và thi hành bản án, quyết định của Tòa án nhằm giải quyết các khiếu kiện của người dân đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan nhà nước hoặc người có thẩm quyền, giúp cá nhân, tổ chức bảo vệ quyền lợi hợp pháp khi bị xâm phạm bởi các quyết định quản lý công. Trong đó, THAHC là khâu cuối cùng, bảo đảm các phán quyết của Tòa án được thực thi trên thực tế. Bản án, quyết định của Tòa án chỉ thực sự có giá trị khi được chấp hành đầy đủ, nghiêm túc. Một bản án tuyên đúng nhưng không được thi hành hoặc thi hành không đầy đủ sẽ làm giảm ý nghĩa của hoạt động xét xử, ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của công dân. Vì vậy, THAHC là một trong các cơ chế bảo đảm khắc phục các sai sót, sai phạm của các quyết định, hành vi hành chính của cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền tác động đến quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, qua 3 Điều 312 Luật Tố tụng hành chính năm 2015. 4 Điều 315 Luật Tố tụng hành chính năm 2015. 5 Khoản 2 Điều 312 Luật Tố tụng hành chính năm 2015; Điều 14 Nghị định số 71/2016/NĐ-CP. 6 Khoản 2 Điều 312 Luật Tố tụng hành chính năm 2015; Điều 7, Điều 8 Nghị định số 71/2016/NĐ-CP. đó, bảo đảm tuân thủ pháp luật trong hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước.
2.2. Vai trò của thi hành án hành chính trong bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước
Thứ nhất, bảo đảm hiệu lực thực tế của bản án, quyết định của Tòa án.
Điều 106 Hiến pháp năm 2013 quy định: ”Bản án, quyết định của Tòa án nhân dân có hiệu lực pháp luật phải được cơ quan, tổ chức, cá nhân tôn trọng; cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành”. Vì vậy, THAHC chính là cơ chế bảo đảm nguyên tắc hiến định được thực hiện trên thực tế, bảo đảm hiệu lực thực tế của các bản án, quyết định của Tòa án.
Thứ hai, bảo đảm nguyên tắc mọi chủ thể đều bình đẳng trước pháp luật.
Trong quan hệ hành chính, cơ quan nhà nước luôn ở vị trí quyền lực công, còn người dân, doanh nghiệp thường ở vị trí yếu thế. Tuy nhiên, với nguyên tắc mọi cá nhân, cơ quan, tổ chức phải tuân thủ pháp luật và chịu trách nhiệm trước pháp luật về các quyết định, hành vi của mình. Vì thế, khi bản án được thực thi, nhất là đối với bản án xác định nghĩa vụ thi hành án của cơ quan nhà nước, cơ quan hành chính không chỉ là chủ thể quản lý mà còn là đối tượng phải chấp hành pháp luật như mọi chủ thể khác, góp phần bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người dân, cá nhân, tổ chức trong mối quan hệ với cơ quan nhà nước, khẳng định vị trí trung tâm của pháp luật trong quản trị quốc gia.
Thứ ba, để khắc phục sai sót, vi phạm, nâng cao chất lượng ban hành quyết định hành chính, thực hiện hành vi hành chính trong hoạt động quản lý của cơ quan nhà nước.
Bản án, quyết định của Tòa án chỉ xác định quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền thực hiện đúng quy định hay không đúng quy định của pháp luật. Vì thế, việc thực thi bản án hành chính sẽ buộc cơ quan nhà nước phải ban hành quyết định mới, chấm dứt hành vi vi phạm hoặc thực thi lại trình tự, thủ tục để khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp là giai đoạn đưa bản án đã có hiệu lực pháp luật được thực thi trên thực tế. Việc khắc phục các sai sót, vi phạm đã được Tòa án xác định góp phần hoàn thiện hoạt động quản lý nhà nước, phòng ngừa vi phạm pháp luật và nâng cao chất lượng ban hành, tổ chức thực hiện các quyết định hành chính; nâng cao ý thức và trách nhiệm công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức trong quá trình thực thi nhiệm vụ. Đồng thời, quá trình thi hành các bản án hành chính, khoảng trống, bất cập của pháp luật được nhận diện, từ đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật về nội dung.
Thứ tư, tăng cường trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức trong chấp hành bản án hành chính.
Với cơ chế “tự thi hành”, kết quả THAHC phản ánh trực tiếp ý thức chấp hành pháp luật của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, cá nhân là người phải thi hành án. Thông qua cơ chế theo dõi, kiểm tra, đôn đốc, công khai kết quả thi hành án và xem xét trách nhiệm đối với trường hợp chậm thi hành, không thi hành án, tạo áp lực tích cực buộc người đứng đầu phải chủ động chỉ đạo thực hiện bản án, quyết định của Tòa án.
3. Quy định pháp luật về thi hành án hành chính
Theo Luật Tố tụng hành chính năm 2015 và Nghị định số 71/2016/NĐ-CP, pháp luật về THAHC gồm những nội dung cơ bản sau:
3.1. Về chủ thể thi hành án hành chính
Theo Luật Tố tụng hành chính năm 2015 và Nghị định số 71/2016/NĐ-CP, chủ thể THAHC gồm: người được thi hành án, người phải thi hành án và các chủ thể khác tham gia vào quá trình tổ chức thi hành bản án, quyết định của Tòa án về vụ án hành chính. Pháp luật tố tụng hành chính và THAHC quy định khá cụ thể quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của các chủ thể trong THAHC. Bên cạnh các chủ thể là người được thi hành án và người phải thi hành án, Điều 7, Điều 8 Nghị định số 71/2016/NĐ-CP quy định trách nhiệm đối với người đứng đầu cơ quan, tổ chức và người đứng đầu cơ quan cấp trên trực tiếp. Đây là chủ thể có tính đặc thù trong hoạt động THAHC; việc quy định trách nhiệm của các chủ thể này gắn nghĩa vụ thi hành án của người phải thi hành án giúp bảo đảm các bản án, quyết định của Tòa án được tôn trọng và thực hiện nghiêm túc trên thực tế; khắc phục tình trạng cơ quan phải thi hành án chây ỳ, né tránh hoặc kéo dài thời gian thi hành mà không bị kiểm soát.
Ngoài ra, Luật Tố tụng hành chính năm 2015 và Nghị định số 71/2016/NĐ-CP còn quy định trách nhiệm của Tòa án trong giải thích bản án, ra quyết định buộc THAHC và kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án về vụ án hành chính; trách nhiệm của Viện kiểm sát nhân dân trong kiểm sát việc tuân thủ pháp luật của đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến việc thi hành bản án, quyết định của Tòa án và quyền kiến nghị với cơ quan, tổ chức, cá nhân có nghĩa vụ THAHC và cơ quan, tổ chức cấp trên trực tiếp của cơ quan, tổ chức phải chấp hành bản án, quyết định của Tòa án; trách nhiệm của cơ quan THADS trong theo dõi THAHC để nâng cao hiệu quả cũng như tạo minh bạch trong thực thi các bản án, quyết định của Tòa án về vụ án hành chính.
3.2. Về đối tượng của thi hành án hành chính
Điều 309 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 quy định những bản án, quyết định của Tòa án về vụ án hành chính được đưa ra thi hành, gồm: bản án, quyết định hoặc phần bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm đã có hiệu lực pháp luật; bản án, quyết định của Tòa án cấp phúc thẩm; quyết định giám đốc thẩm hoặc tái thẩm của Tòa án; quyết định theo thủ tục đặc biệt của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quy định tại Điều 296 Luật Tố tụng hành chính năm 2015; quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Tòa án mặc dù có khiếu nại, kiến nghị.
3.3. Về trình tự, thủ tục thi hành án hành chính
Luật Tố tụng hành chính năm 2015 và Nghị định số 71/2016/NĐ-CP quy định trình tự, thủ tục THAHC gồm các quy định về tự nguyện thi hành án[7], yêu cầu ra quyết định buộc THAHC[8] và THAHC sau khi có quyết định buộc THAHC của Tòa án. Việc quy định rõ trình tự, thủ tục THAHC đã xác định rõ thời hạn, trách nhiệm của từng chủ thể, đặc biệt, trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan hành chính trong chấp hành bản án, quyết định của Tòa án, qua đó, nâng cao kỷ luật, kỷ cương hành chính.
3.4. Về chế tài, biện pháp bảo đảm thi hành án hành chính
Do THAHC theo cơ chế “tự thi hành”, không có các biện pháp cưỡng chế thi hành án nên việc quy định các biện pháp bảo đảm THAHC là cần thiết để bảo đảm trách nhiệm thực thi các bản án, quyết định của Tòa án trên thực tế. Luật Tố tụng hành chính năm 2015, Nghị định số 71/2016/NĐ-CP và các quy định của pháp luật có liên quan đã quy định cụ thể hình thức xử lý kỷ luật tương ứng đối với công chức, viên chức có hành vi vi phạm trong THAHC; trách nhiệm phải khắc phục hậu quả, bồi thường thiệt hại, hoàn trả theo quy định của pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, pháp luật về dân sự; xử phạt vi phạm hành chính hoặc xử lý hình sự theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính và các tội danh về thi hành án của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung các năm 2017, 2025). Ngoài ra, Nghị định số 71/2016/NĐ-CP quy định về công khai thông tin về việc không chấp hành án đối với các trường hợp có quyết định buộc THAHC của Tòa án.
4. Kết quả đạt được và những khó khăn, vướng mắc
4.1. Những kết quả nổi bật của thi hành án hành chính trong thời gian qua
4.1.1. Công tác lãnh đạo, chỉ đạo thi hành án hành chính được quan tâm thực hiện
Thứ nhất, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ quan tâm và chỉ đạo triển khai thi hành Luật Tố tụng hành chính và công tác THAHC.
Sau khi Luật Tố tụng hành chính năm 2015 và Nghị định số 71/2016/NĐ-CP được ban hành, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ triển khai nhiều giải pháp đồng bộ[9]. Chính vì vậy, các quy định của pháp luật đã được thực hiện trên thực tiễn. Các văn bản chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã tạo cơ sở chính trị, pháp lý quan trọng để các bộ, ngành, địa phương nâng cao trách nhiệm trong tổ chức THAHC, từng bước đưa công tác này đi vào nền nếp, hiệu quả hơn. Đặc biệt, Chỉ thị số 26/CT-TTg[10] đã thể hiện rõ quyết tâm chính trị của Chính phủ trong việc khắc phục những tồn tại, hạn chế kéo dài, tạo chuyển biến tích cực trong nhận thức và trách nhiệm của các cơ quan hành chính nhà nước đối với công tác THAHC.
Thứ hai, Bộ Tư pháp đã chủ động tham mưu hoàn thiện cơ chế tổ chức thực hiện và tăng cường hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra công tác thi hành án hành chính trên phạm vi cả nước.
Với vai trò là cơ quan tham mưu, giúp Chính phủ thực hiện thống nhất quản lý nhà nước về THAHC, Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực triển khai nhiều nhiệm vụ, giải pháp quan trọng. Bộ đã tổ chức Hội nghị trực tuyến toàn quốc giới thiệu những nội dung mới của Luật Tố tụng hành chính năm 2015; hướng dẫn, phổ biến và đôn đốc triển khai thực hiện Nghị định số 71/2016/NĐ-CP trong phạm vi cả nước. Dưới sự lãnh đạo của Đảng ủy Bộ Tư pháp, Tổng cục THADS (nay là Cục Quản lý THADS) đã ban hành Quy trình theo dõi THAHC trong Hệ thống cơ quan THADS và Quy chế công khai thông tin người phải thi hành án không chấp hành án hành chính; phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao thống nhất áp dụng một số quy định của Luật Tố tụng hành chính năm 2015 và Nghị định số 71/2016/NĐ-CP; đồng thời, hướng dẫn các bộ, ngành, địa phương phân công đầu mối tham mưu thực hiện nhiệm vụ quản lý và theo dõi THAHC theo quy định.
Ngoài ra, Bộ Tư pháp còn thực hiện tốt vai trò hướng dẫn, tổng hợp và tham mưu chính sách thông qua việc ban hành các quy định về chế độ báo cáo, thống kê công tác THADS và theo dõi THAHC; hướng dẫn thống nhất việc thực hiện chế độ báo cáo, thống kê trong phạm vi toàn quốc; định kỳ tổng hợp kết quả THAHC của các bộ, ngành, địa phương để báo cáo Chính phủ và tham mưu Chính phủ báo cáo Quốc hội.
Thực tế cho thấy, Bộ Tư pháp đã phát huy vai trò là cơ quan “nòng cốt” trong tham mưu thể chế, hướng dẫn nghiệp vụ, theo dõi, kiểm tra, đôn đốc và tổng hợp tình hình THAHC. Những hoạt động này không chỉ góp phần nâng cao hiệu quả thi hành các bản án hành chính mà còn tạo cơ chế giám sát, phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan nhà nước trong quá trình tổ chức thi hành án, qua đó, nâng cao trách nhiệm của cơ quan hành chính nhà nước trong thực thi công vụ.
Thứ ba, cơ chế phối hợp liên ngành giữa Bộ Tư pháp với các cơ quan ở trung ương ngày càng phát huy hiệu quả.
Bộ Tư pháp đã chủ trì, phối hợp với Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Văn phòng Chính phủ, Thanh tra Chính phủ, Bộ Nội vụ và các cơ quan liên quan thành lập nhiều đoàn kiểm tra liên ngành trung ương để kiểm tra việc chấp hành pháp luật tố tụng hành chính và THAHC tại các địa phương. Thông qua các cuộc kiểm tra, làm việc trực tiếp và trực tuyến với Ủy ban nhân dân (UBND), Chủ tịch UBND các cấp, nhiều vụ việc THAHC tồn đọng, kéo dài đã được rà soát, xác định nguyên nhân và đề xuất giải pháp xử lý; nhiều khó khăn, vướng mắc phát sinh từ thực tiễn đã được kịp thời hướng dẫn, tháo gỡ.
4.1.2. Kết quả thi hành án hành chính
Theo Báo cáo hằng năm của Chính phủ trình Quốc hội về công tác thi hành án, từ năm 2017 đến năm 2025 (số liệu hằng năm được tính từ ngày 01/10 năm trước đến hết ngày 30/9 năm sau), cả nước có tổng số 5.536 bản án, quyết định của Tòa án về vụ án hành chính mà người phải thi hành án là cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước và phần lớn trong số này người phải thi hành án là UBND, Chủ tịch UBND các cấp. Trong số các bản án hành chính đã có hiệu lực pháp luật phải thi hành, trên 90% bản án, quyết định của Tòa án về vụ án hành chính thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước về đất đai, số còn lại nằm rải rác ở một số lĩnh vực thuế, xây dựng, xử phạt vi phạm hành chính và hộ tịch… Kết quả, đã thi hành xong 4.306 bản án, quyết định, đang thi hành 1.223 bản án, quyết định; số bị hoãn, tạm đình chỉ thi hành: 07 bản án, quyết định. Phần lớn các bản án, quyết định đang thi hành là những bản án mới phát sinh hoặc có khó khăn, vướng mắc liên quan đến thể chế hoặc áp dụng pháp luật nội dung để thi hành.
4.1.3. Về công tác kiểm tra, giám sát
Công tác kiểm tra, giám sát trong THAHC thời gian qua đã được một số địa phương triển khai chủ động, linh hoạt và đạt hiệu quả tích cực. Cơ quan THADS đã tham mưu UBND tỉnh thành lập đoàn kiểm tra, làm việc trực tiếp với UBND, Chủ tịch UBND các cấp là người phải thi hành án để rà soát, xác định nguyên nhân chậm thi hành án trong từng bản án. Từ đó, đề xuất giải pháp hoặc kiến nghị người có thẩm quyền đôn đốc, xem xét, xử lý trách nhiệm đối với người phải thi hành án chậm hoặc không THAHC. Với các cách làm và thực hiện trách nhiệm theo dõi THAHC của các cơ quan THADS đã hạn chế tình trạng chậm thi hành, không thi hành hoặc thi hành không đầy đủ nội dung bản án, quyết định của Tòa án, nâng cao ý thức chấp hành; nâng cao trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, người phải thi hành án hoặc cấp trên của cơ quan, tổ chức là người phải thi hành án góp phần nâng cao kết quả THAHC.
4.2. Khó khăn, vướng mắc
4.2.1. Về thể chế
Pháp luật về tố tụng hành chính và THAHC mặc dù ngày càng được hoàn thiện nhưng trong quá trình triển khai thi hành còn một số tồn tại, hạn chế sau:
Một là, quy định về người đại diện trong tố tụng hành chính theo Luật Tố tụng hành chính năm 2015 có tính khả thi không cao. Thực tiễn cho thấy, mỗi vụ án hành chính thường kéo dài và người bị kiện phải tham gia nhiều giai đoạn từ phiên họp giao nộp, cung cấp chứng cứ, đối thoại, xác minh và các phiên xét xử, trong khi quy định người đại diện trong tố tụng là người đứng đầu với trách nhiệm quản lý, điều hành, khối lượng công việc phải chỉ đạo giải quyết rất lớn, nhất là trong bối cảnh sau sắp xếp tổ chức lại đơn vị hành chính và thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp gặp nhiều khó khăn trong việc bố trí tham gia các phiên họp hoặc phiên tòa theo triệu tập của Tòa án. Việc vắng mặt người bị kiện trong giải quyết vụ án đã gây khó khăn cho Hội đồng xét xử trong xem xét, đánh giá toàn diện, khách quan vụ việc, dẫn đến khó khăn, vướng mắc trong quá trình tổ chức THAHC.
Hai là, thẩm quyền xét xử của Tòa án đối với vụ án hành chính theo Luật Tố tụng hành chính năm 2015 còn hẹp. Theo quy định, Tòa án chỉ có thẩm quyền xem xét tính hợp pháp của quyết định hành chính, hành vi hành chính; trường hợp quyết định hành chính, hành vi hành chính được ban hành/thực hiện trái pháp luật, Tòa án chỉ có thẩm quyền tuyên hủy/tuyên trái pháp luật một phần hoặc toàn bộ quyết định hành chính, hành vi hành chính và buộc cơ quan nhà nước hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật. Trong trường hợp này, việc bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người được thi hành án tiếp tục phụ thuộc vào ý chí của bên bị kiện là cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước. Bên cạnh đó, cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước cũng gặp khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai thực hiện. Đây là một trong những nguyên nhân làm ảnh hưởng đến kết quả THAHC trên thực tế.
Ba là, pháp luật về THAHC chưa quy định cụ thể trình tự, thủ tục thi hành bản án, quyết định của Tòa án đã tuyên hủy toàn bộ hoặc một phần quyết định hành chính gây lúng túng cho việc thi hành, dẫn đến những quan điểm khác nhau trên thực tế thi hành như có phải ra quyết định thu hồi, hủy bỏ đối với một phần hoặc toàn bộ quyết định hành chính đã bị Tòa án tuyên hủy hay chỉ phải thông báo cho các tổ chức, cá nhân có liên quan biết để thực hiện.
Bốn là, pháp luật về THAHC chưa quy định rõ thế nào là hành vi cố ý gây khó khăn, trong xác định có hay không hành vi chậm, không chấp hành án hành chính khi xem xét, xử lý trách nhiệm của người phải thi hành án.
4.2.2. Trong quá trình thi hành án hành chính
Một là, thực tiễn tổ chức THAHC cho thấy, một số khó khăn, vướng mắc phát sinh từ chính nội dung bản án, quyết định của Tòa án. Cụ thể, có trường hợp các bản án, quyết định liên quan đến cùng một dự án, có tính chất pháp lý, nguồn gốc đất đai tương tự, cùng nội dung khởi kiện và hồ sơ vụ án có các tình tiết pháp lý giống nhau về quá trình sử dụng đất nhưng bản án lại có nội dung tuyên không thống nhất, thậm chí trái ngược nhau. Bên cạnh đó, có những vụ việc mà bản án, quyết định của các cấp xét xử đưa ra các phán quyết khác nhau, dẫn đến tâm lý thận trọng của người phải thi hành án trong quá trình tổ chức thực hiện.
Hai là, sự phối hợp giữa các cơ quan có liên quan trong công tác THAHC có lúc, có nơi chưa bảo đảm chặt chẽ, kịp thời và hiệu quả, trong đó có công tác phối hợp giữa các bộ, ban, ngành ở trung ương, giữa các bộ, ban, ngành ở trung ương với chính quyền địa phương, nhất là UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và giữa các sở, ban, ngành có liên quan trên địa bàn UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.
4.3. Nguyên nhân
Thứ nhất, nguyên nhân chủ quan.
Một số cấp ủy Đảng chưa thực sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo đối với công tác chấp hành pháp luật tố tụng hành chính và THAHC. Ở địa phương, nhiều tỉnh ủy, thành ủy mới chỉ ban hành chỉ thị, văn bản chung về thi hành án mà chưa ban hành chỉ thị, văn bản riêng liên quan đến công tác THAHC.
Nhận thức và ý thức chấp hành pháp luật của một bộ phận cơ quan, người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước chưa thực sự đầy đủ. Năng lực, trình độ của một bộ phận cán bộ, công chức làm công tác tham mưu THAHC còn hạn chế. Điều này dẫn đến sự lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện của cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước, trong đó có UBND, Chủ tịch UBND các cấp đối với công tác này trên địa bàn thiếu quyết liệt, chưa kịp thời và đầy đủ.
Thứ hai, nguyên nhân khách quan.
Pháp luật về tố tụng hành chính và THAHC còn một số bất cập chưa được sửa đổi, bổ sung hoàn thiện kịp thời, nhất là quy định về thẩm quyền của Tòa án trong xét xử các vụ án hành chính, gây khó khăn, vướng mắc cho người phải thi hành án và các cơ quan có liên quan trong quá trình tổ chức, theo dõi, kiểm tra, thanh tra, kiểm sát và giám sát về THAHC.
Chính sách, pháp luật về nội dung, nhất là pháp luật về đất đai thường xuyên thay đổi; hệ thống các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật Đất đai năm 2024 “đồ sộ, cồng kềnh” lại sửa đổi, bổ sung nhiều lần; nhiều quy định pháp luật về đất đai chưa rõ, chưa phù hợp, trong khi phần lớn các bản án hành chính cần phải thi hành là về lĩnh vực này.
5. Yêu cầu đặt ra đối với công tác thi hành án hành chính trong giai đoạn mới và giải pháp đột phá nâng cao hiệu quả thi hành án hành chính
Trong bối cảnh Đảng và Nhà nước đẩy mạnh cải cách tư pháp, đổi mới tổ chức bộ máy, hoàn thiện thể chế, tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính và chuyển đổi số quốc gia, công tác THAHC cần chuyển biến mạnh mẽ cả về nhận thức, thể chế, tổ chức thực hiện và cơ chế bảo đảm thi hành. Để tạo sự chuyển biến mạnh mẽ và nâng cao chất lượng, hiệu quả đối với công tác THAHC, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới đòi hỏi cần phải thực hiện đồng bộ các giải pháp mang tính đột phá nhằm khắc phục những hạn chế, bất cập hiện nay.
Một là, tăng cường công tác quán triệt, tuyên truyền, phổ biến chủ trương, chính sách của Đảng về THAHC nhằm nâng cao nhận thức và trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức Đảng, chính quyền đối với công tác THAHC; cấp ủy, tổ chức Đảng, chính quyền các cấp cần xác định lãnh đạo, chỉ đạo THAHC là một trong những nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên, cần có chương trình, kế hoạch, chỉ thị, kết luận để đề ra các nhiệm vụ, giải pháp cụ thể, phù hợp. Xác định rõ trách nhiệm chính trị của người đứng đầu cấp ủy, tổ chức Đảng trong THAHC, phát huy vai trò nêu gương của đảng viên trong chấp hành pháp luật về tố tụng hành chính và THAHC. Người đứng đầu cơ quan nhà nước, nhất là Chủ tịch UBND các cấp phải trực tiếp chỉ đạo và chịu trách nhiệm về kết quả THAHC tại cơ quan, đơn vị, địa phương mình.
Hai là, nghiên cứu, hoàn thiện tổng thể chính sách, pháp luật về tố tụng hành chính từ giai đoạn xét xử của Tòa án đến giai đoạn thi hành án, bảo đảm xử lý toàn diện, triệt để những khó khăn, vướng mắc, bất cập trong thực tiễn thụ lý, xét xử và thi hành các vụ án hành chính hiện nay, trong đó, quy định rõ trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong tham gia giải quyết vụ án hành chính và THAHC; nghiên cứu mở rộng phạm vi các chủ thể được ủy quyền tham gia giải quyết vụ án hành chính; tiếp tục nghiên cứu mở rộng thẩm quyền của Tòa án trong giải quyết các vụ án hành chính bảo đảm tính khả thi, theo đúng nguyên tắc Tòa án không quyết định các vấn đề thuộc chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền của cơ quan hành chính nhà nước; nghiên cứu, bổ sung các chế tài nghiêm khắc, khả thi hơn, gồm cả chế tài xử lý kỷ luật về Đảng đối với hành vi chậm thi hành hoặc không THAHC.
Ba là, các cấp ủy, tổ chức Đảng lãnh đạo, chỉ đạo đảng viên, công chức, cơ quan, đơn vị thuộc thẩm quyền quản lý chấp hành nghiêm bản án, quyết định của Tòa án về vụ án hành chính đã có hiệu lực thi hành. Xem xét, xác định trách nhiệm, đề xuất hình thức xử lý đối với người đứng đầu trong trường hợp bản thân, cơ quan, công chức thuộc thẩm quyền quản lý của người đứng đầu chậm thi hành án hoặc không THAHC.
Bốn là, nâng cao trách nhiệm và hiệu quả công tác phối hợp giữa các bộ, ban, ngành ở trung ương, giữa các bộ, ban, ngành ở trung ương với cấp ủy, chính quyền địa phương và quan hệ phối hợp giữa các sở, ban, ngành và UBND có liên quan trên địa bàn trong công tác THAHC, bảo đảm công tác phối hợp hiệu quả, góp phần tổ chức thi hành dứt điểm bản án, quyết định của Tòa án về vụ án hành chính. Đưa vào diện theo dõi, chỉ đạo của Ban Chỉ đạo phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực cấp tỉnh đối với các bản án, quyết định của Tòa án về vụ án hành chính thuộc trách nhiệm thi hành của UBND, Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố đã có hiệu lực pháp luật trên hai năm nhưng chưa được thi hành dứt điểm.
Năm là, tăng cường thanh tra, kiểm tra, giám sát, theo dõi, đôn đốc trách nhiệm THAHC của cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước là bên phải thi hành án, coi đây là nhiệm vụ thường xuyên của cấp ủy, tổ chức Đảng, chính quyền các cấp; đưa vào chương trình kiểm tra, giám sát định kỳ hằng năm hoặc đột xuất của Ủy ban kiểm tra các cấp đối với công tác THAHC. Phát huy hiệu quả trách nhiệm theo dõi THAHC của cơ quan THADS và trách nhiệm kiểm sát THAHC của Viện kiểm sát nhân dân, chú trọng kiểm sát việc thực hiện trách nhiệm của cơ quan, người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước là bên phải thi hành án; tăng cường vai trò giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đồng thời, phát huy hiệu quả vai trò giám sát, phản biện xã hội và nâng cao trách nhiệm giải trình, thực hiện kiến nghị sau giám sát của các cơ quan có liên quan đối với công tác THAHC.
Sáu là, tiếp tục củng cố, kiện toàn tổ chức bộ máy, nâng cao chất lượng đội ngũ thẩm phán, kiểm sát viên, chấp hành viên trong xét xử, kiểm sát các vụ án hành chính và theo dõi THAHC. Nâng cao năng lực, trình độ của đội ngũ cán bộ, công chức cơ quan quản lý nhà nước về THAHC, đội ngũ công chức trực tiếp làm công tác tổ chức, tham mưu tổ chức THAHC; chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng, hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ. Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về THAHC.
Bảy là, tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác sơ kết, tổng kết về việc xây dựng, hoàn thiện và tổ chức thi hành pháp luật về THAHC, trên cơ sở đó, kịp thời phát huy những kết quả đạt được, nhân rộng những cách làm hay, hiệu quả và thiết thực; đồng thời, kịp thời phát hiện những tồn tại, hạn chế, khó khăn, vướng mắc để lãnh đạo, chỉ đạo khắc phục, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện nhằm nâng cao chất lượng hiệu quả công tác THAHC.
Tám là, thúc đẩy chuyển đổi số trong quản lý THAHC, xây dựng và vận hành nền tảng số và cơ sở dữ liệu theo dõi THAHC, tiến tới liên thông cơ sở dữ liệu dùng chung, kết nối thông tin giữa Tòa án, cơ quan THADS và chính quyền địa phương nhằm nâng cao hiệu quả công tác theo dõi, kiểm tra, giám sát.
Ban Nghiệp vụ thi hành án hành chính và Thừa hành viên,
Cục Quản lý Thi hành án dân sự, Bộ Tư pháp
[1]. Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020; Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới; Quy định số 132-QĐ/TW ngày 27/10/2023 của Bộ Chính trị về kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án; Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
[2]. Nghị định số 71/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ quy định về thời hạn, trình tự, thủ tục THAHC và xử lý trách nhiệm đối với người không thi hành bản án, quyết định của Tòa án.
[3]. Điều 312 Luật Tố tụng hành chính năm 2015.
[4]. Điều 315 Luật Tố tụng hành chính năm 2015.
[5]. Khoản 2 Điều 312 Luật Tố tụng hành chính năm 2015; Điều 14 Nghị định số 71/2016/NĐ-CP.
[6]. Khoản 2 Điều 312 Luật Tố tụng hành chính năm 2015; Điều 7, Điều 8 Nghị định số 71/2016/NĐ-CP.
[7]. Khoản 2 Điều 311 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 và Điều 10 Nghị định số 71/2016/NĐ-CP.
[8]. Điều 312 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 và Điều 11 Nghị định số 71/2016/NĐ-CP.
[9]. Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 325/QĐ-TTg ngày 01/3/2016 phê duyệt Kế hoạch triển khai thi hành Luật Tố tụng hành chính năm 2015; đồng thời, giao Bộ Tư pháp chủ trì tổ chức triển khai thực hiện, tổ chức Hội nghị toàn quốc quán triệt, phổ biến các quy định mới của Luật và Nghị định số 71/2016/NĐ-CP đến các bộ, ngành, địa phương.
[10]. Chỉ thị số 26/CT-TTg ngày 15/11/2019 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường chấp hành pháp luật tố tụng hành chính và THAHC.
(Nguồn: Ấn phẩm “80 năm Thi hành án dân sự Việt Nam - Vẻ vang truyền thống, vững bước tương lai”, xuất bản năm 2026)