![]() |
| Ra mắt Ban chấp hành Đảng bộ Tổng cục THADS nhiệm kỳ 2025-2030 |
1. Sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thi hành án
Nền tảng tư tưởng, quan điểm chỉ đạo và sự lãnh đạo của Đảng đối với các cơ quan tư pháp nói chung, Hệ thống THADS nói riêng là nguyên tắc hiến định. Dưới góc độ lý luận, tư tưởng Hồ Chí Minh về tư pháp luôn là kim chỉ nam cho mọi hành động. “Nghĩ cho cùng, vấn đề tư pháp, cũng như mọi vấn đề khác, trong lúc này là vấn đề ở đời và làm người. Ở đời và làm người là phải thương nước, thương dân, thương nhân loại đau khổ bị áp bức”[3]. Vận dụng vào công tác thi hành án - giai đoạn bảo đảm công lý được thực thi trọn vẹn, sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định tinh thần “thượng tôn pháp luật”, bảo đảm bản án, quyết định được thực hiện không chỉ bằng sức mạnh cưỡng chế nhà nước mà bằng cả sự đồng thuận của xã hội, phục tùng của cơ quan, tổ chức và cá nhân liên quan.
Bước vào kỷ nguyên mới, nhận thức lý luận chiến lược về vai trò của Đảng trong công tác xây dựng và thi hành pháp luật được nâng tầm đột phá tại Nghị quyết số 66-NQ/TW. Nghị quyết khẳng định rõ vai trò lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp, toàn diện của Đảng đối với công tác thi hành pháp luật, đồng thời, xác lập yêu cầu xuyên suốt: xây dựng và hoàn thiện thể chế pháp luật đồng bộ, khả thi, ổn định, lấy hiệu lực thực thi làm thước đo cuối cùng của chất lượng lập pháp và quản lý nhà nước. Tinh thần này đòi hỏi chuyển trọng tâm từ ban hành văn bản sang tổ chức thực hiện thi hành, bảo đảm mọi quy định của pháp luật và phán quyết của Tòa án được thực hiện nghiêm minh bằng kỷ cương, trách nhiệm. Trong hệ thống tư pháp, hiệu lực thi hành án là thước đo cụ thể, phản ánh trực quan năng lực tổ chức thực hiện pháp luật của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và mức độ bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong xã hội.
Qua các giai đoạn cách mạng, Đảng luôn khẳng định kiểm soát quyền lực và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng là nhiệm vụ cốt lõi của cải cách tư pháp. Việc kiểm soát quyền lực để phòng, chống tham nhũng, tiêu cực[4] đặt công tác xây dựng Đảng tại các cơ quan THADS vào vị trí trung tâm. Yêu cầu đặt ra, mỗi tổ chức Đảng là một “pháo đài” chính trị vững chắc, lãnh đạo toàn diện công tác hoàn thiện thể chế thực hiện, phân định rõ thẩm quyền và kiểm soát trách nhiệm công vụ, nhằm ngăn ngừa từ sớm, từ xa mọi biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.
Vai trò lãnh đạo của Đảng bộ Cục Quản lý THADS và của các tổ chức Đảng trong toàn hệ thống, ngày càng được khẳng định qua việc thể chế hóa, cụ thể hóa các chỉ thị, nghị quyết của trung ương thành các chương trình hành động, kế hoạch chuyên môn sát thực tiễn. Đặc biệt, trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, các tổ chức Đảng đã phát huy vai trò tiền phong, chỉ đạo quyết liệt việc thu hồi tài sản bị chiếm đoạt, thất thoát trong các vụ án hình sự về tham nhũng, kinh tế theo đúng chỉ đạo của Đảng[5]. Ngược lại, thực tiễn cũng cho thấy, ở những đơn vị công tác xây dựng Đảng bị buông lỏng, tính chiến đấu của tổ chức Đảng suy giảm, thì ở đó xuất hiện tình trạng cán bộ, Chấp hành viên vi phạm quy trình nghiệp vụ, “sa ngã” trước cám dỗ vật chất. Điều này cho thấy, chuyên môn có thể gặp khó khăn do yếu tố khách quan, nhưng nếu gốc rễ chính trị - tư tưởng của tổ chức Đảng bị lung lay, hệ thống sẽ đối mặt với nguy cơ suy thoái về mặt tổ chức.
2. Kết quả đạt được giai đoạn 2025 - 2026: dấu ấn và bước chuyển dịch lịch sử[6]
Giai đoạn 2025 - 2026 chứng kiến bước chuyển mô hình tổ chức mang tính lịch sử của toàn Hệ thống THADS. Dưới sự chỉ đạo sát sao của Đảng ủy Bộ Tư pháp, công tác xây dựng Đảng trong Hệ thống THADS đạt được những dấu ấn vượt bậc, gắn liền với nhiệm vụ chính trị và công cuộc đổi mới trên nền tảng số, song cũng đặt ra nhiều thách thức cần giải quyết.
2.1. Định hướng chính trị tư tưởng gắn với đổi mới tư duy trong kỷ nguyên số
Sự thống nhất tư tưởng trong toàn hệ thống được chỉ đạo xuyên suốt từ các cấp ủy Đảng cấp trên. Cụ thể:
- Đảng ủy Chính phủ: định hướng rõ nét chuyển đổi số là động lực chính đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới; xác định dữ liệu và công nghệ số là đột phá để tái cấu trúc phương thức quản trị quốc gia, nâng cao hiệu năng, hiệu lực quản lý nhà nước và siết chặt kỷ cương hành chính.
- Đảng ủy Bộ Tư pháp: chỉ đạo quyết liệt việc tham mưu xây dựng hành lang pháp lý đồng bộ, nổi bật là Nghị định số 152/2026/NĐ-CP[7] nhằm thực hiện Kết luận số 162-KL/TW[8]; đồng thời, ban hành Nghị quyết số 48-NQ/ĐU ngày 08/6/2026 của Ban Thường vụ Đảng ủy Bộ Tư pháp về lãnh đạo thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm THADS, THAHC giai đoạn 2026 - 2030 định hướng chính trị, ổn định tư tưởng cho toàn bộ bộ máy sau sáp nhập.
- Đảng ủy Cục Quản lý THADS: bám sát Nghị quyết số 57-NQ/TW[9], Đảng ủy Cục Quản lý THADS ban hành Kế hoạch thực hiện cụ thể và Quyết định điều chỉnh toàn diện Chương trình công tác nhiệm kỳ 2025 - 2030, coi chuyển đổi số là mệnh lệnh chính trị sống còn để vừa vận hành hiệu quả bộ máy mới, vừa đổi mới tận gốc chuyên môn trên không gian số.
- Đảng bộ Cục Quản lý THADS và cấp ủy các cấp đã triển khai nghiêm túc phong trào học tập, quán triệt sâu sắc tinh thần Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, lan tỏa mạnh mẽ tư duy “tổ chức thực hiện quyết liệt đến cùng”. Đảng bộ đã khẳng định vai trò là tập thể gương mẫu, trong sạch, vững mạnh, luôn chú trọng đổi mới, nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ, gắn giáo dục chính trị với rèn luyện phẩm chất đạo đức công vụ theo Quy định số 144-QĐ/TW[10]. Định hướng tư tưởng này tạo đồng thuận xã hội cao qua công tác truyền thông chính sách, khơi dậy khát vọng bứt phá, tăng năng suất lao động và xóa bỏ tư duy né tránh, sợ sai, sợ trách nhiệm, đùn đẩy công việc trong cán bộ, đảng viên.
2.2. Những kết quả đạt được trên các mặt công tác chuyên môn
Sự đồng thuận về tư tưởng và nền tảng pháp lý vững chắc đã thúc đẩy toàn hệ thống đạt được những kết quả mang tính đột phá, thể hiện sinh động qua các dữ liệu định lượng cụ thể:
- Về công tác hoàn thiện thể chế: thể chế hóa thành công Luật THADS năm 2025; triển khai Quyết định số 1187/QĐ-BTP ngày 05/5/2026 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp về việc sử dụng Cơ sở dữ liệu thay thế hoàn toàn cho hồ sơ giấy. Thiết lập hành lang pháp lý số đồng bộ, xóa bỏ việc nộp giấy tờ cư trú và lý lịch tư pháp bản giấy nhờ liên thông dữ liệu nền tảng.
- Về kết quả thi hành án tính theo việc: năm 2025, đã tổ chức thi hành xong 576.884 việc (đạt tỷ lệ 84,27%). Tính đến ngày 27/5/2026, toàn hệ thống nền tảng số đã thụ lý 978.324 hồ sơ (giải quyết xong 48,2% số việc có điều kiện thi hành); tiếp nhận và xử lý ổn định 17.949 hồ sơ thủ tục hành chính ngành Tư pháp, giải tỏa hiệu quả áp lực thụ lý mới đang tăng mạnh.
- Về kết quả thi hành án tính theo tiền: năm 2025, thu hồi đạt trên 150.060 tỷ đồng, bảo đảm an ninh tài chính quốc gia. Tính đến ngày 27/5/2026, đã thu đạt tỷ lệ 21,62% về tiền nhờ liên thông thành công phần mềm Kế toán nghiệp vụ với hệ thống Biên lai điện tử và Kho bạc Nhà nước.
- Về công tác thu hồi tài sản trong các vụ án tham nhũng, kinh tế: năm 2025, giải quyết xong 6.471 việc (đạt tỷ lệ 82,04%), thu hồi số tiền lên tới 27.416 tỷ 433 triệu đồng. Năm 2026 (tính đến tháng 5/2026), riêng án tham nhũng, kinh tế có đột phá về giá trị thực thu khi thi hành xong 117.507 tỷ đồng (tăng 40,53% so với cùng kỳ năm 2025), trong đó, thu hồi hơn 12.062 tỷ đồng trong đại án Vạn Thịnh Phát, tạo điểm sáng trong bảo vệ tài sản công và củng cố niềm tin của Nhân dân vào pháp luật. Đối với án tín dụng ngân hàng, Cục đã kịp thời tháo gỡ vướng mắc sau sáp nhập bộ máy, tập trung rà soát và xử lý dứt điểm các vụ việc tồn đọng trên 10 tỷ đồng tại các địa bàn trọng điểm.
- Đẩy mạnh xã hội hóa tư pháp: hoạt động của các văn phòng THADS và Thừa hành viên (được đổi tên từ Văn phòng Thừa phát lại và Thừa phát lại từ ngày 01/7/2026) bước đầu khẳng định vai trò trên thực tế, góp phần giảm tải áp lực hiệu quả cho bộ máy nhà nước.
2.3. Công tác kiểm tra, giám sát và kiểm soát quyền lực công
Đảng ủy Cục đã lãnh đạo cụ thể hóa Quy định số 132-QĐ/TW bằng việc đưa toàn bộ quy trình nghiệp vụ lên môi trường số thông qua hệ thống văn bản hướng dẫn chi tiết (Nghị định số 150/2026/NĐ-CP, Nghị định số 151/2026/NĐ-CP, Nghị định số 152/2026/NĐ-CP). Dưới sự lãnh đạo của Đảng, chuyển đổi số đã trở thành cuộc cách mạng về phương thức quản trị mới.
- Chuyển dịch không gian quản trị: dịch chuyển toàn bộ hoạt động từ không gian vật lý lên không gian số công khai, minh bạch. Khi hồ sơ giấy được thay thế bằng hồ sơ điện tử có ký số, mọi hành vi can thiệp, làm sai lệch tiến độ đều để lại dấu vết số không thể xóa bỏ.
- Thiết lập cơ chế “phòng ngừa tự động”: các quyết định được phân hệ công nghệ kiểm soát tự động dựa trên thuật toán thiết lập theo Luật THADS năm 2025, ngăn chặn sự trì hoãn cảm tính của Chấp hành viên. Dòng tiền được quản lý bằng biên lai điện tử liên thông với Kho bạc Nhà nước và ngân hàng, triệt tiêu nguy cơ hình thành các tài khoản bất minh, cắt bỏ khâu tiền mặt dễ phát sinh tiêu cực để chủ động bảo vệ cán bộ.
- Vận hành Nền tảng số và triển khai Đề án phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2022 - 2025, tầm nhìn đến năm 2030[11]: khai trương Hệ thống IOC ngày 02/4/2026 và vận hành toàn quốc 04 phân hệ cốt lõi từ ngày 20/01/2026, giúp lãnh đạo giám sát thời gian thực hoạt động của từng Phòng THADS khu vực, từng Chấp hành viên theo tiêu chí dữ liệu “đúng, đủ, sạch, sống”. Hệ thống đã đồng bộ 246.640 bản ghi vào C12 (Bộ Công an); phát hành 1.047.785 biên lai điện tử (thực thu hơn 44.879 tỷ đồng); tiếp nhận 318.815 bản án, ban hành 464.258 quyết định số hóa; gửi 9.039 văn bản/biên lai tới công dân qua VNeID, sẵn sàng phục vụ cấp lý lịch tư pháp điện tử từ ngày 01/7/2026.
2.4. Kiện toàn mô hình tổ chức bộ máy sau sáp nhập
Hệ thống THADS là trường hợp điển hình để nhận diện những vấn đề mới của công tác xây dựng Đảng trong điều kiện sắp xếp lại tổ chức bộ máy quy mô lớn. Sau quá trình sắp xếp theo Kết luận số 162-KL/TW, toàn hệ thống được tổ chức theo mô hình mới, gồm Cục Quản lý THADS ở trung ương và 34 cơ quan THADS cấp tỉnh (trong đó có 355 Phòng THADS khu vực)[12]. Đây là sự thay đổi lớn về mô hình tổ chức, đồng thời, kéo theo sự thay đổi về lãnh đạo, phương pháp quản lý và trách nhiệm trong toàn hệ thống. Tính đến ngày 30/5/2026, toàn hệ thống có 7.561 cán bộ, công chức ổn định bộ máy. Quy mô tổ chức Đảng sau sáp nhập đã được kiện toàn đồng bộ:
- Ở trung ương: Đảng bộ Cục Quản lý THADS là Đảng bộ cơ sở trực thuộc Đảng bộ Bộ Tư pháp, gồm 07 chi bộ trực thuộc và 128 đảng viên.
- Ở địa phương: Đảng bộ (hoặc chi bộ) cơ quan THADS tỉnh, thành phố là tổ chức Đảng cơ sở trực thuộc Đảng bộ Ủy ban nhân dân tỉnh (UBND), thành phố; các chi bộ phòng chuyên môn và chi bộ các Phòng THADS khu vực trực thuộc Đảng bộ cơ quan THADS cấp tỉnh, với tổng số 487 chi bộ và 6.456 đảng viên.
Điểm đặc thù của hệ thống này là quản lý theo ngành dọc nhưng tổ chức Đảng lại gắn với địa giới hành chính địa phương. Do đó, tổ chức Đảng tồn tại trong cấu trúc hai chiều: vừa bảo đảm sự lãnh đạo thống nhất theo ngành, vừa gắn chặt với cơ chế phối hợp lãnh đạo trên địa bàn. Giai đoạn sáp nhập bộ máy chứng kiến những nỗ lực lớn của cấp ủy khi vừa thực hiện chính sách tinh giản biên chế, giải quyết nghỉ hưu trước tuổi theo Nghị định số 178/2024/NĐ-CP[13], vừa tổ chức đào tạo lực lượng cán bộ vững vàng phẩm chất và năng lực chuyên môn. Cơ cấu chức danh tư pháp đổi mới mạnh mẽ khi Luật THADS năm 2025 quy định chức danh Chấp hành viên trưởng gắn liền với vị trí đứng đầu về chuyên môn nghiệp vụ tại 355 Phòng THADS khu vực, bảo đảm cắt giảm tầng nấc trung gian, giảm biên chế lãnh đạo nhưng không bỏ trống chức năng chỉ đạo, điều hành tại cơ sở.
3. Những hạn chế, bất cập và nguyên nhân
3.1. Hạn chế, bất cập
Thứ nhất, về cơ chế phối hợp lãnh đạo và áp lực sáp nhập bộ máy. Mối quan hệ phối hợp giữa trục dọc (hệ thống) và trục ngang (địa phương) trong quản lý cán bộ chủ chốt chưa được thể chế hóa đồng bộ, gây lúng túng trong chỉ đạo, điều hành và phân tán trách nhiệm giải trình khi xảy ra sai phạm. Đối chiếu với Nghị quyết số 66-NQ/TW về bảo đảm tính đồng bộ, thông suốt của thể chế tổ chức thực hiện pháp luật, cơ chế phối hợp liên ngành sau sáp nhập bộ máy quy mô lớn theo Kết luận số 162-KL/TW còn bộc lộ “khoảng trống”, làm cho Hội đồng tiêu hủy vật chứng tại địa phương có thể bị quá tải nghiêm trọng.
Thứ hai, về công tác tài chính, nhân sự và hệ thống kho vật chứng. Mô hình kế toán tập trung làm cho khối lượng công việc khổng lồ về đầu mối cấp tỉnh; áp lực đi làm xa làm cho nhiều công chức kế toán xin nghỉ việc, gây thiếu hụt nhân lực chất lượng cao. Hệ thống kho vật chứng toàn quốc bị quá tải nghiêm trọng khi nguồn kinh phí mới chỉ đáp ứng được 1/10 nhu cầu thực tế.
Thứ ba, về vận hành Nền tảng số và liên thông dữ liệu. Nền tảng số mới vận hành kiểm soát tự động bước đầu phát sinh lỗi kỹ thuật gây treo hồ sơ điện tử. Các phần mềm chuyên môn phân tán chưa được liên thông API hoàn toàn với phần mềm kế toán MISA Panda, dẫn đến sự chênh lệch lớn giữa số liệu thống kê thủ công và số liệu tự động (Quảng Ngãi lệch 13,33%, Ninh Bình lệch 2,14%).
Thứ tư, về hiệu quả lãnh đạo công tác theo dõi THAHC. Một số cấp ủy cơ sở chưa thực sự quyết liệt, còn xuất hiện tâm lý nể nang, ngại va chạm trong kiểm tra, đôn đốc thi hành bản án hành chính do bên phải THAHC là UBND hoặc Chủ tịch UBND địa phương, là cấp ủy cấp trên trực tiếp tại địa bàn địa phương. Điều này dẫn đến tình trạng chậm thi hành án, chưa đạt yêu cầu lấy hiệu lực thực thi làm thước đo chất lượng thể chế theo Nghị quyết số 66-NQ/TW.
3.2. Nguyên nhân của tồn tại, hạn chế
Thứ nhất, nguyên nhân chủ quan: nhận thức của một số cấp ủy, người đứng đầu về trách nhiệm kiểm soát quyền lực và theo dõi THAHC còn nể nang. Khối lượng thụ lý mới 06 tháng đầu năm 2026 tăng đột biến lên tới 449.279 việc (tăng 23,73% so với cùng kỳ) gây áp lực quá tải lớn lên hạ tầng công nghệ và đội ngũ công chức, cơ quan THADS. Kỹ năng số, tư duy xử lý dữ liệu của một bộ phận cán bộ kiêm nhiệm công tác Đảng chưa đáp ứng yêu cầu quản trị tư pháp hiện đại.
Thứ hai, nguyên nhân khách quan: mô hình tổ chức một cấp và đơn vị hành chính mới vận hành trong thời gian ngắn; hạ tầng mạng bảo mật quốc gia chưa đồng bộ, thống nhất giữa các cơ quan liên ngành; kinh phí sự nghiệp cấp cho công tác bảo trì trụ sở, xử lý tài sản công dôi dư sau sáp nhập còn thấp, không đủ và vướng mắc nhiều quy trình, thủ tục.
4. Giải pháp thực hiện 2026 - 2030
Để đáp ứng yêu cầu của “kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc”, quán triệt quan điểm chỉ đạo của Đảng về lấy hiệu lực thực thi pháp luật làm tiêu chí trung tâm, công tác xây dựng Đảng trong Hệ thống THADS, THAHC giai đoạn 2026 - 2030 cần triển khai đồng bộ các giải pháp đột phá nhằm khắc phục triệt để các hạn chế.
4.1. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng
Một là, lãnh đạo chính trị, tư tưởng làm nền tảng, giữ vững bản chất cách mạng. Công tác tư tưởng phải đi trước một bước. Quán triệt sâu sắc mỗi quyết định thi hành án là một hành động chính trị tác động trực tiếp đến lòng tin của quần chúng; xây dựng đội ngũ cán bộ “vừa hồng, vừa chuyên”, đặt lợi ích của quốc gia, dân tộc và quyền lợi hợp pháp của Nhân dân lên trên hết.
Hai là, đề cao trách nhiệm nêu gương của người đứng đầu cấp ủy, cơ quan thi hành án. Người đứng đầu phải thực sự là tấm gương sáng về bản lĩnh chính trị, giữ gìn đạo đức lối sống theo Quy định số 144-QĐ/TW, quyết liệt đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân để nâng cao tính thuyết phục.
Ba là, lãnh đạo công tác cán bộ và kiện toàn tổ chức bộ máy. Quán triệt sâu sắc các quan điểm chiến lược của Đảng về công tác cán bộ trong giai đoạn mới và yêu cầu nâng cao năng lực tổ chức thực thi pháp luật của Nghị quyết số 66-NQ/TW, Hệ thống THADS cần tập trung thực hiện mô hình tổ chức bộ máy tinh, gọn, hiệu năng, đánh giá cán bộ dựa trên sản phẩm cụ thể (kết quả giải quyết việc, tiền, thu hồi tài sản tham nhũng). Kiên quyết đưa ra khỏi hệ thống những cán bộ đùn đẩy, né tránh, sợ sai, sợ trách nhiệm, trì trệ.
Bốn là, kiểm soát quyền lực và đổi mới phương thức kiểm tra, giám sát. Tập trung vào các khâu dễ phát sinh tiêu cực trong nghiệp vụ; thực hiện phòng ngừa từ sớm, từ xa theo Quy định số 132-QĐ/TW, phát hiện các sơ hở về thể chế, không để khuyết điểm nhỏ tích tụ thành vi phạm lớn.
Năm là, lãnh đạo công tác chuyển đổi số và hiện đại hóa quản trị tư pháp. Đưa nội dung ứng dụng công nghệ thông tin, xây dựng Cơ sở dữ liệu điện tử toàn quốc, vận hành Trung tâm IOC vào nghị quyết thường niên; coi đây là công cụ hữu hiệu để kiểm soát quyền lực, minh bạch hóa, triệt tiêu tham nhũng vặt.
4.2. Tổ chức thực thi có hiệu quả đường lối, chính sách của Đảng
Một là, hoàn thiện đồng bộ thể chế pháp lý, tháo gỡ “điểm nghẽn” cơ chế phối hợp chỉ đạo và xử lý tài sản. Cục Quản lý THADS tham mưu Bộ Tư pháp thể chế hóa rõ ràng mối quan hệ giữa trục dọc (hệ thống) và trục ngang (địa phương) trong quản lý cán bộ chủ chốt. Đồng thời, tham mưu cơ chế nâng hạn mức giữ lại kinh phí sự nghiệp từ nguồn thu thi hành án để tăng đầu tư xây dựng hệ thống kho vật chứng và hỗ trợ hoạt động của Hội đồng tiêu hủy vật chứng dôi dư sau sáp nhập theo tinh thần đổi mới thể chế của Nghị quyết số 66-NQ/TW.
Hai là, đầu tư công nghệ, đồng bộ hạ tầng số và liên thông dữ liệu tuyệt đối. Tập trung tối ưu hóa, xử lý lỗi kỹ thuật của Nền tảng số để chấm dứt tình trạng treo hồ sơ. Thiết lập lộ trình bắt buộc liên thông API hoàn toàn giữa các phần mềm nghiệp vụ chuyên ngành với phần mềm kế toán MISA Panda. Chuẩn hóa quy trình nhập liệu tự động để triệt tiêu hoàn toàn chênh lệch số liệu giữa thống kê thủ công và hệ thống máy tính, nâng cao tính bảo mật và đồng tốc dữ liệu liên ngành.
Ba là, thắt chặt kỷ cương kiểm soát quyền lực, nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ gắn với giải quyết án hành chính. Kiên quyết xóa bỏ tâm lý nể nang, ngại va chạm thông qua việc đưa kết quả đôn đốc, theo dõi THAHC thành tiêu chí cứng để bình xét thi đua, đánh giá chất lượng sinh hoạt của cấp ủy, chi bộ. Các chi bộ cơ sở đổi mới nội dung sinh hoạt, đưa các bản án hành chính chưa thi hành của UBND hoặc Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố thảo luận trực diện dưới góc độ phân tích trách nhiệm chính trị của đảng viên, phát huy các biện pháp kiến nghị xử lý trách nhiệm theo Quy định số 132-QĐ/TW.
Bốn là, đổi mới công tác nhân sự, xây dựng văn hóa liêm chính và giáo dục thế hệ trẻ. Điều tiết và cơ cấu lại lực lượng nhân sự hệ thống hợp lý giữa cấp tỉnh và các khu vực để giảm tải áp lực cho công chức kế toán, giảm thiểu tình trạng xin nghỉ việc. Tập trung xây dựng hệ giá trị chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp Chấp hành viên, Thẩm tra viên theo Quy định số 144-QĐ/TW. Phát huy vai trò xung kích của Đoàn Thanh niên trong rèn luyện thực tiễn chuyên môn trên không gian số, tạo nguồn cán bộ trẻ có đức, có tài, vững vàng bản lĩnh chính trị để kế cận cho hệ thống bộ máy mới.
Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác THADS, THAHC là “chìa khóa” để giải quyết những nút thắt, lực cản trong quá trình thực thi công lý. Đứng trước vận hội mới của đất nước, toàn Hệ thống THADS, dưới sự chỉ đạo sát sao của các cấp ủy Đảng, quyết tâm đổi mới tư duy, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức Đảng, xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên liêm chính, tinh thông nghiệp vụ, phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân, xứng đáng là công cụ sắc bén bảo vệ pháp luật của Đảng và Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Đảng bộ Cục Quản lý Thi hành án dân sự, Bộ Tư pháp
[1]. Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
[2]. Nghị quyết 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
[3]. Hồ Chí Minh toàn tập, t.4, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.156.
[4]. Theo Quy định số 132-QĐ/TW ngày 27/10/2023 của Bộ Chính trị về kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án, kết hợp cùng tư duy lấy hiệu lực thực thi làm trung tâm của Nghị quyết số 66-NQ/TW.
[5]. Chỉ thị số 04-CT/TW ngày 02/6/2021 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thu hồi tài sản bị thất thoát, chiếm đoạt trong các vụ án hình sự về tham nhũng, kinh tế.
[6]. Số liệu trong mục này do tác giả tự thống kê.
[7]. Nghị định số 152/2026/NĐ-CP ngày 13/5/2026 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật THADS.
[8]. Kết luận số 162-KL/TW ngày 06/6/2025 của Bộ Chính trị, Ban Bí thư về nội dung lớn của dự án Luật Tổ chức chính quyền địa phương (sửa đổi) và Đề án tiếp tục sắp xếp, tinh gọn bộ máy hệ thống THADS bảo đảm hoạt động hiệu lực, hiệu quả.
[9]. Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
[10]. Quy định số 144-QĐ/TW ngày 09/5/2024 của Bộ Chính trị quy định chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên giai đoạn mới.
[11]. Ban hành kèm theo Quyết định số 06/QĐ-TTg ngày 06/01/2022 của Thủ tướng Chính phủ.
[12]. Đề án “Tiếp tục sắp xếp, tinh gọn bộ máy hệ thống THADS bảo đảm hoạt động hiệu lực, hiệu quả”; các tài liệu tổng hợp của Ban Thường vụ Đảng ủy Bộ Tư pháp và Cục Quản lý THADS về mô hình 34 cơ quan THADS cấp tỉnh, 355 Phòng THADS khu vực.
[13]. Nghị định số 178/2024/NĐ-CP ngày 31/12/2024 của Chính phủ về chính sách, chế độ đối với cán bộ, công chức, viên chức, người lao động và lực lượng vũ trang trong thực hiện sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị.
(Nguồn: Ấn phẩm “80 năm Thi hành án dân sự Việt Nam - Vẻ vang truyền thống, vững bước tương lai”, xuất bản năm 2026)