Thứ ba 18/08/2026 00:17
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Nhiều điểm mới mang tính định hướng đáp ứng yêu cầu nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân

Để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng gắn với kiểm soát quyền lực nhà nước trong hoạt động giám sát, góp phần hoàn thiện chính sách, pháp luật, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, địa phương, bảo đảm kỷ luật, kỷ cương, nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước, Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2025 được thông qua trên cơ sở kế thừa, bổ sung nhiều quy định mới về nguyên tắc định hướng, chủ thể giám sát, nội dung và quy trình để hoạt động giám sát đạt hiệu quả, chất lượng. Việc gắn kết giữa hoạt động giám sát với việc hoàn thiện chính sách, pháp luật, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, địa phương có tính chất tương hỗ để hoàn thiện hệ thống pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng đất nước trong kỷ nguyên mới.

Xuất phát từ cách tiếp cận mới trong xây dựng luật, Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2025 được thông qua với nhiều quy định mới về nguyên tắc giám sát; quy định các chủ thể hoạt động giám sát; áp dụng chế tài trong hoạt động giám sát; tăng cường trách nhiệm của chủ thể giám sát; các bảo đảm để hoạt động giám sát được thực thi hiệu quả, cũng như bảo đảm quyền của các chủ thể chịu sự giám sát trong việc thực hiện các kết luận giám sát và các kiến nghị của các chủ thể giám sát. Bài viết phân tích những điểm mới trong Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2025, giải pháp nâng cao chất lượng, đạt kết quả cao trong hoạt động giám sát.

1. Những điểm mới cơ bản

1.1. Về cấu trúc

Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2025 gồm 05 chương, 45 điều với nhiều điểm mới như: Bổ sung sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động tác giám sát, bổ sung chế tài trong hoạt động giám sát, hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, giá trị văn bản giám sát, cơ chế phối hợp và các bảo đảm cho hoạt động giám sát.

1.2. Định nghĩa về hoạt động giám sát

Định nghĩa giám sát thể hiện nội hàm của hoạt động giám sát, thể hiện qua các nội dung như xác định bản chất hoạt động giám sát, cách thức tiến hành hoạt động giám sát, nội dung và mục đích của hoạt động giám sát. “Giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân là một phương thức kiểm soát quyền lực nhà nước thông qua việc chủ thể giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát trong việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật, xử lý theo thẩm quyền hoặc yêu cầu, kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý, góp phần hoàn thiện chính sách, pháp luật, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, địa phương, bảo đảm kỷ luật, kỷ cương, nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước” (khoản 1 Điều 2 Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2025). Qua định nghĩa cho thấy việc “kiểm soát quyền lực” đã được hiện thực hóa trong văn bản luật, nội hàm khái niệm giám sát thể hiện được ý kiến chỉ đạo, cũng như mục đích mà việc giám sát hướng tới. Văn bản luật xác định bản chất pháp lý của giám sát gắn với hoàn thiện chính sách, pháp luật và nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước, định nghĩa xác định rõ giám sát là “một phương thức kiểm soát quyền lực nhà nước”, mục đích “góp phần hoàn thiện chính sách pháp luật”.

1.3. Về nguyên tắc giám sát

Nguyên tắc mang tính định hướng, xuyên suốt trong toàn bộ văn bản Luật và tổ chức thực hiện, do vậy, nắm vững nguyên tắc là một yếu tố để đạt chất lượng, hiệu quả trong thực hiện. Luật bổ sung nhiều quy định mới, trong đó có sự lãnh đạo của Đảng: “Bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng cộng sản Việt Nam” (khoản 1 Điều 3 Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2025). Luật bổ sung quy định này là cơ sở pháp lý quan trọng để hiện thực sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của Nhà nước và xã hội đã được hiến định. Đây là việc thể chế sự lãnh đạo của Đảng thành pháp luật trong văn bản Luật, hiện thực sự lãnh đạo của Đảng[1] trong hoạt động của Nhà nước và thực thi pháp luật của các chủ thể phù hợp với yêu cầu hoàn thiện thể chế xây dựng đất nước trong thời kỳ mới. Nguyên tắc lãnh đạo của Đảng trong hoạt động giám sát xuyên suốt từ nguyên tắc, đến các quy định và trong tổ chức thực hiện.

Bên cạnh đó, Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2025 bổ sung nhiều quy định mới như phạm vi giám sát “tổng thể”, “chi tiết”, “giám sát toàn diện nhưng có trọng tâm, trọng điểm, đáp ứng yêu cầu của thực tiễn” (khoản 4 Điều 3); mục đích hoạt động giám sát “gắn kết giữa hoạt động giám sát với việc hoàn thiện chính sách, pháp luật, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, địa phương” (khoản 5 Điều 3), cũng như các bảo đảm, phối hợp trong hoạt động giám sát.

Có thể khái quát nguyên tắc giám sát tại Điều 3 Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2025 theo các yếu tố sau: Chủ thể lãnh đạo giám sát là Đảng Cộng sản Việt Nam; chủ thể thực hiện giám sát là Quốc hội, Hội đồng nhân dân; phạm vi thực hiện giám sát là “toàn diện”; yêu cầu của hoạt động giám sát là gắn với “thực tiễn”; mục đích của hoạt động giám sát là hoàn thiện chính sách, pháp luật, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, địa phương; bảo đảm cho hoạt động giám sát thể hiện dạng quy định “cấm”, không được cản trở.

1.4. Thẩm quyền giám sát của chủ thể

Với cách tiếp cận hoàn toàn mới, việc quy định giám sát của các chủ thể theo hướng liệt kê với cấu trúc: Thẩm quyền giám sát, hoạt động giám sát và thẩm quyền xem xét kết quả giám sát. Để thuận tiện trong việc tiếp cận điểm mới đối với văn bản luật, tùy vào mỗi chủ thể, bài viết tiếp cận theo chiều dọc (thẩm quyền chủ thể) và chiều ngang (thẩm quyền thực hiện nội dung) để thấy được điểm nổi bật trong thực hiện hoạt động giám sát của các chủ thể.

1.4.1. Chủ thể giám sát

Ngay tên gọi văn bản Luật đã thể hiện chủ thể giám sát, Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2025, quy định thành 11 chủ thể được thực hiện hoạt động giám sát, đối với nội dung giám sát văn bản quy phạm pháp luật chỉ một số chủ thể được thực hiện[2].

Cấu trúc quy định về thẩm quyền của các chủ thể trong hoạt động giám sát theo các tiêu chí chủ thể giám sát được thực hiện những nội dung nào (lĩnh vực, đối tượng); tiến hành các hoạt động (hành vi); các biện pháp được áp dụng (trong đó có chế tài) phù hợp bảo đảm hoạt động giám sát đạt hiệu quả. Đây là quy định hoàn toàn mới về cấu trúc đối với chủ thể hoạt động giám sát so với Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015 nói riêng, cũng như hoạt động xây dựng luật nói chung.

(i) Quốc hội[3]

Theo quy định Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2025, chủ thể giám sát của Quốc hội gồm: Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội, đại biểu Quốc hội (khoản 2 Điều 2).

- Đối với hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội: Thẩm quyền giám sát của Quốc hội áp dụng cách tiếp cận theo chiều dọc theo thẩm quyền chủ thể trong hoạt động giám sát. Qua hoạt động giám sát, Quốc hội yêu cầu các chủ thể chịu sự giám sát ban hành văn bản quy định chi tiết luật, nghị quyết của Quốc hội (khoản 1 Điều 15); xử lý văn bản quy phạm pháp luật sai: “Bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản quy phạm pháp luật” (khoản 2 Điều 15).

- Đối với Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Qua hoạt động giám sát, Ủy ban Thường vụ Quốc hội quyết định giải thích Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; yêu cầu các chủ thể ban hành văn bản quy định chi tiết luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (khoản 1 Điều 18); đình chỉ thi hành một phần hoặc toàn bộ văn bản quy phạm pháp luật (khoản 2 Điều 18); bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản quy phạm pháp luật (khoản 3 Điều 18); bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ nghị quyết của Hội đồng nhân dân (khoản 6 Điều 18).

- Đối với các chủ thể Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội, đại biểu Quốc hội được tiếp cận theo chiều ngang (thẩm quyền thực hiện nhiệm vụ):

+ Về nội dung kiến nghị giải thích Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội; pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội thuộc thẩm quyền của Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội (điểm a khoản 1 Điều 21); thẩm quyền của đại biểu Quốc hội (khoản 1 Điều 26).

+ Về nội dung kiến nghị quy định chi tiết văn bản: Kiến nghị chủ thể thẩm quyền ban hành văn bản quy định chi tiết luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội thuộc thẩm quyền của Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội (điểm b khoản 1 Điều 21); thẩm quyền của đại biểu Quốc hội (khoản 2 Điều 26). Đối với Đoàn đại biểu Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội kiến nghị chủ thể có thẩm quyền “ở Trung ương” ban hành văn bản quy định chi tiết luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (khoản 3 Điều 24).

+ Về nội dung kiến nghị liên quan đến hiệu lực văn bản: Việc kiến nghị sửa đổi, bổ sung, thay thế tạm ngưng hiệu lực, đình chỉ việc thi hành, bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản quy phạm pháp luật được thực hiện bởi một số chủ thể giám sát, như: Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội (điểm b khoản 1 Điều 21); Đoàn đại biểu Quốc hội các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (khoản 1 và khoản 3 Điều 24); đại biểu Quốc hội (khoản 2 Điều 26).

+ Đối với nội dung kiến nghị giải quyết các vấn đề: Việc kiến nghị các chủ thể giải quyết các vấn đề liên quan đến việc thực hiện chủ trương, chính sách, pháp luật thuộc thẩm quyền các chủ thể Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội (điểm c khoản 1 Điều 21); Đoàn đại biểu Quốc hội các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (khoản 2 Điều 24); đại biểu Quốc hội (khoản 3 Điều 26).

(ii) Hội đồng nhân dân[4]

Theo quy định, chủ thể giám sát của Hội đồng nhân dân gồm Hội đồng nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân dân, Ban của Hội đồng nhân dân, Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân, đại biểu Hội đồng nhân dân (khoản 3 Điều 2 Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2025), cùng với đó là trách nhiệm báo cáo định kỳ của các chủ thể giám sát theo quy định tại Điều 12 Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2025 và các quy định liên quan.

- Đối với thẩm quyền của Hội đồng nhân dân trong hoạt động giám sát thể hiện qua một số nội dung về hoàn thiện pháp luật, giải quyết các vấn đề qua hoạt động giám sát. Về hoàn thiện pháp luật, Hội đồng nhân dân “kiến nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền ở Trung ương ban hành văn bản quy định chi tiết luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội”; kiến nghị chủ thể có thẩm quyền ở Trung ương liên quan đến hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật (khoản 4 Điều 29); Hội đồng nhân dân có thể đình chỉ việc thi hành, bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản quy phạm pháp luật theo thẩm quyền (khoản 1 Điều 29); kiến nghị giải quyết các vấn đề thuộc thẩm quyền có liên quan đến việc thực hiện chủ trương, chính sách, pháp luật ở địa phương (khoản 4 Điều 29). Qua quy định trên cho thấy, Hội đồng nhân dân thực hiện kiến nghị với các chủ thể cấp trên (theo cấu trúc bộ máy), điều này sẽ thấy có sự khác với thẩm quyền của các chủ thể phân tích dưới đây.

- Đối với thẩm quyền của Thường trực Hội đồng nhân dân, Ban của Hội đồng nhân dân, đại biểu Hội đồng nhân dân được tiếp cận theo chiều ngang (thẩm quyền thực hiện nhiệm vụ) để thấy điểm tương đồng giữa các chủ thể và điểm khác so với hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân.

+ Về hoàn thiện văn bản pháp luật: Việc kiến nghị các chủ thể có thẩm quyền ở Trung ương ban hành văn bản quy định chi tiết luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội thuộc thẩm quyền của Thường trực Hội đồng nhân dân (khoản 5 Điều 32); thẩm quyền của Ban của Hội đồng nhân dân (khoản 3 Điều 35); thẩm quyền của đại biểu Hội đồng nhân dân (khoản 4 Điều 38).

+ Về kiến nghị liên quan đến hiệu lực văn bản: Đối với nội dung này, các chủ thể thực hiện kiến nghị đối với các chủ thể ở Trung ương và địa phương về sửa đổi, bổ sung, thay thế, tạm ngưng hiệu lực, đình chỉ việc thi hành, bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền của một số chủ thể sau: Thường trực Hội đồng nhân dân (khoản 1 khoản 5 Điều 32); Ban của Hội đồng nhân dân (khoản 1 khoản 3 Điều 35); đại biểu Hội đồng nhân dân (khoản 1 khoản 4 Điều 38).

+ Đối với kiến nghị giải quyết các vấn đề liên quan đến việc thực thi chủ trương, chính sách, pháp luật ở địa phương thuộc thẩm quyền của các chủ thể sau: Thường trực Hội đồng nhân dân[5] (khoản 2 khoản 5 Điều 32); Ban của Hội đồng nhân dân (khoản 2 khoản 3 Điều 35); đại biểu Hội đồng nhân dân (khoản 2 khoản 4 Điều 38).

Qua phân tích trên cơ sở quy định của Luật có thể thấy điểm khác thẩm quyền của Hội đồng nhân dân kiến nghị về hiệu lực văn bản và giải quyết vấn đề về thực hiện chính sách, pháp luật với chủ thể có thẩm quyền ở Trung ương. Thẩm quyền Thường trực Hội đồng nhân dân, Ban của Hội đồng nhân dân, đại biểu Hội đồng nhân dân kiến nghị về hiệu lực văn bản và giải quyết vấn đề về thực hiện chính sách, pháp luật đối với chủ thể có thẩm quyền ở Trung ương và địa phương.

- Đối với Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân: Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân chỉ tiến hành giám sát đối với việc “thi hành pháp luật ở địa phương” khi được Hội đồng nhân dân hoặc Thường trực Hội đồng nhân dân “cùng cấp giao” và báo với Hội đồng nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân dân xem xét, quyết định (Điều 37). Có thể hiểu Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân giám sát theo phái sinh, thực hiện nhiệm vụ được giao và báo cáo chủ thể giao nhiệm vụ, đây là điểm cần chú ý trong hoạt động giám của Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân.

- Để bảo đảm chia sẻ thông tin cũng như tính thống nhất trong hoạt động giám sát, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh gửi kiến nghị đến các chủ thể ở Trung ương, đồng thời gửi đến Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội; Hội đồng nhân dân cấp xã gửi kiến nghị đến Thường trực Hội đồng nhân dân cấp tỉnh để xem xét, tổng hợp (khoản 4 Điều 29).

(iii) Mội số biện pháp xử lý đối với chủ thể chịu sự giám sát

Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2025 quy định chủ thể giám sát thực hiện một số biện pháp liên quan đến xử lý các cá nhân liên quan đến hoạt động giám sát, như: Thẩm quyền của Quốc hội yêu cầu xử lý người vi phạm pháp luật nghiêm trọng (miễn nhiệm, bãi nhiệm, cách chức, xử lý theo pháp luật) tùy theo tính chất và mức độ của hành vi vi phạm và vị trí trong tổ chức để áp dụng hình thức phù hợp (khoản 5 Điều 15); thẩm quyền của Ủy ban Thường vụ Quốc hội đề nghị Quốc hội bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn (khoản 5 Điều 18); thẩm quyền của đại biểu Quốc hội (khoản 4 Điều 26).

1.4.2. Giá trị của các văn bản sau hoạt động giám sát

Đây là quy định có phương thức tiếp cận hoàn toàn mới và gắn giá trị pháp lý, nghị quyết, kết luận, kiến nghị giám sát trong tổ chức thực hiện. Đối với nghị quyết giám sát của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng nhân dân có giá trị “bắt buộc” các chủ thể thực hiện: “Nghị quyết giám sát của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng nhân dân có giá trị pháp lý bắt buộc thực hiện” (khoản 1 Điều). Đây là quy định rất mới, gắn với giá trị pháp lý.

- Đối với kết luận, kiến nghị giám sát của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và các chủ thể khác “phải được” các chủ thể chịu sự giám sát nghiêm chỉnh thực hiện (khoản 1 Điều 40) và gắn với thời hạn thực hiện trong thời hạn 15 ngày, trường hợp phức tạp không quá 30 ngày và quá thời hạn do Luật quy định, cơ quan chịu sự giám sát không trả lời hoặc không tán thành thì chủ thể tiến hành giám sát xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị xử lý theo quy định của pháp luật (khoản 3 Điều 40).

- Luật Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2025 cũng quy định chủ thể chịu sự giám sát bảo vệ quan điểm trong hoạt động thực hiện nhiệm vụ. Chủ thể chịu sự giám sát có thể tự mình hoặc báo cáo cấp trên xem xét kết luận, kiến nghị: “Trường hợp không tán thành với kết quả trả lời của chủ thể giám sát thì cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát tự mình hoặc báo cáo với người đứng đầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền để đề nghị Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng nhân dân xem xét kết luận, kiến nghị giám sát đó” (khoản 2 Điều 40).

- Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2025 đề cao vai trò của các chủ thể giám sát, đặc biệt phát huy vai trò, năng lực giám sát của đại biểu Hội đồng nhân dân thể hiện ở việc kiến nghị các cơ quan, người có thẩm quyền ở Trung ương và địa phương trong việc sửa đổi, bổ sung, thay thế, tạm ngưng hiệu lực, đình chỉ việc thi hành, bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản quy phạm pháp luật trái với Hiến pháp, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên, như: Đại biểu Quốc hội (điểm b khoản 1 Điều 25, Điều 26); đại biểu Hội đồng nhân dân (khoản 1 khoản 4 Điều 38).

1.4.3. Một số điểm mới nổi bật về chủ thể giám sát

Qua phân tích thẩm quyền của các thủ thể có thể thấy những điểm nổi bật cần chú ý, đó là việc hoàn thiện hệ thống pháp luật qua hoạt động giám sát 10/11 chủ thể giám sát được kiến nghị ban hành văn bản chi tiết và áp dụng chế tài bảo đảm tính đồng bộ trong quy định thẩm quyền và bảo đảm thực hiện. Cụ thể:

Một là, đối với việc ban hành văn bản chi tiết. Qua giám sát các chủ thể tiến hành hoạt động giám sát yêu cầu các chủ thể bị giám sát ban hành văn bản quy định chi tiết luật, nghị quyết theo quy định.

Hai là, đối với hiệu lực văn bản. Nội dung này tùy vào tính chất văn bản ban hành mà chủ thể giám sát thực hiện việc bãi bỏ, đình chỉ, sửa đổi, bổ sung, thay thế, tạm ngưng hiệu lực, đình chỉ việc thi hành, bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản quy phạm pháp luật theo thẩm quyền.

Ba là, liên quan đến điều ước Quốc tế. Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội có thẩm quyền kiến nghị những nội dung liên quan đến điều ước Quốc tế như hoàn thiện chính sách pháp luật, cơ chế tổ chức thực hiện, sửa đổi, bổ sung… liên quan đến điều ước quốc tế (khoản 2 Điều 21 Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2025).

Bốn là, giải thích Hiến pháp, luật, nghị quyết. Ủy ban Thường vụ Quốc hội giải thích Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (khoản 1 Điều 18 Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2025) và Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội sẽ kiến nghị Ủy ban Thường vụ Quốc hội thực hiện nhiệm vụ giải thích này (điểm a khoản 1 Điều 21 Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2025).

Năm là, tăng cường vai trò của Thường trực Hội đồng nhân dân trong hoạt động giám sát. Thường trực Hội đồng nhân dân thực hiện “chỉ đạo, điều hòa, phối hợp” với các chủ thể giám sát ở địa phương, như điều chỉnh, phân công, yêu cầu điều chỉnh hoạt động giám sát của các chủ thể (khoản 2 Điều 39 Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2025); Thường trực Hội đồng nhân dân cấp tỉnh tổng hợp kiến nghị của mình, kiến nghị của Ban của Hội đồng nhân dân tỉnh, đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh; Hội đồng nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân dân, đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã. Thường trực Hội đồng nhân dân cấp xã tổng hợp kiến nghị theo thẩm quyền gửi Hội đồng nhân dân cấp xã và gửi Thường trực Hội đồng nhân cấp tỉnh (khoản 5 Điều 32 Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2025).

1.5. Sự phối hợp trong hoạt động giám sát

Trong tổng thể văn bản Luật có thể tiếp cận sự phối hợp trong nội bộ (Quốc hội và các chủ thể trong hoạt động giám sát của Quốc hội; Hội đồng nhân dân và các chủ thể trong hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân); sự phối hợp bên ngoài giữa các cơ quan giám sát với các chủ thể có liên quan. Cụ thể:

Thứ nhất, sự phối hợp trong nội bộ các chủ thể thực hiện hoạt động giám sát (mối quan hệ bên trong của các chủ thể Quốc hội, Hội đồng nhân dân). Trong mối quan hệ này, cơ quan thường trực có thể “phân công”, “yêu cầu” đối với các chủ thể liên quan. Đối với mối quan hệ này, Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2025 đề cao trách nhiệm các cơ quan thường trực (Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Thường trực Hội đồng nhân dân) là những chủ thể thực hiện nhiệm vụ giám sát độc lập theo thẩm quyền, nhưng cũng phải có trách nhiệm bảo đảm sự thống nhất, đồng bộ trong hoạt động giám sát trong tổ chức, như: Ủy ban Thường vụ Quốc hội điều chỉnh dự kiến hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội; phân công cho các cơ quan của Quốc hội (Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban) và Đoàn đại biểu Quốc hội thực hiện một số nội dung trong chương trình giám sát của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội; yêu cầu các chủ thể điều chỉnh chương trình để phù hợp với chương trình chung (điểm c khoản 1 Điều 39).

- Tương tự với Thường trực Hội đồng nhân dân là điều chỉnh dự kiến chương trình giám sát tại các kỳ họp Hội đồng nhân dân trong năm, chủ động điều chỉnh chương trình giám sát của mình; phân công, giao các Ban của Hội đồng nhân dân, tổ đại biểu thực hiện một số nội dung trong chương trình giám sát của Hội đồng nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân dân; yêu cầu Ban của Hội đồng nhân dân, Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, Thường trực Hội đồng nhân dân cấp xã điều chỉnh chương trình cho phù hợp, thống nhất trên địa bàn địa phương. Thường trực Hội đồng nhân dân cấp xã yêu cầu Ban của Hội đồng nhân dân, Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã điều chỉnh chương trình, kế hoạch để tránh trùng lặp, bảo đảm thống nhất trong các chương trình giám sát nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả giám sát (khoản 2 Điều 39 Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2025).

- Một chi tiết cần chú ý trong hoạt động giám sát là có sự giám sát trong nội bộ, như Quốc hội giám sát tối cao Ủy ban Thường vụ Quốc hội (khoản 1 Điều 13); Ủy ban Thường vụ Quốc hội giám sát Hội đồng nhân dân cấp tỉnh (khoản 1 Điều 16); Hội đồng nhân dân cấp tỉnh giám sát Thường trực Hội đồng nhân dân, các Ban của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh (khoản 1 Điều 27); Thường trực Hội đồng nhân dân cấp tỉnh giám sát Hội đồng nhân dân cấp xã (khoản 1 Điều 30); Hội đồng nhân dân cấp xã giám sát Thường trực Hội đồng nhân dân cấp xã (khoản 2 Điều 27).

Thứ hai, sự phối hợp bên ngoài với các chủ thể có liên quan trong hoạt động giám sát (quan hệ của Quốc hội, Hội đồng nhân dân với các chủ thể Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Kiểm toán Nhà nước,…). Quy định này kế thừa và bổ sung để hoàn thiện thành một điều riêng, đó là sự phối hợp giữa các chủ thể giám sát và giữa chủ thể giám sát với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, cơ quan thanh tra, kiểm toán, cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền (Điều 9 Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2025), sự phối hợp giữa các chủ thể trong phối hợp giải quyết các vấn đề phát sinh, trách nhiệm của các thành viên khi tham gia đoàn giám sát, cũng như tuân thủ các thời hạn theo pháp luật quy định. Với mục đích là bảo đảm chính sách, pháp luật được thực hiện đạt hiệu quả và hoàn thiện chính sách, pháp luật để quản lý, xây dựng đất nước.

Thứ ba, sự phối hợp thể hiện việc chia sẻ thông tin. Việc phối hợp giữa các chủ thể bên cạnh việc phối hợp hoạt động giám sát còn thể hiện qua việc chia sẻ thông tin giữa các chủ thể trong nội bộ và các cơ quan phối hợp. Ví dụ: Hội đồng nhân dân cấp tỉnh gửi kiến nghị đến các chủ thể có thẩm quyền ở Trung ương thì đồng thời gửi đến Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội theo các lĩnh vực phụ trách (khoản 4 Điều 29 Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2025). Thường trực Hội đồng nhân dân cấp tỉnh xem xét tổng hợp ý kiến của mình và các chủ thể giám sát ở địa phương theo quy định (khoản 5 Điều 32 Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2025). Việc cung cấp thông tin giữa chủ thể giám sát và cơ quan thanh tra, kiểm toán và các chủ thể có thẩm quyền (khoản 3 Điều 9 Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2025).

1.6. Quy trình, thủ thục giám sát văn bản quy phạm pháp luật[6]

Hoạt động giám sát là một nhiệm vụ quan trọng, có tính đặc thù, đòi hỏi phải nắm bắt quy trình pháp luật, cũng như việc nắm bắt các kiến thức pháp luật và thực tiễn áp dụng. Tuy nhiên, giám sát văn bản quy phạm pháp luật có đặc thù riêng yêu cầu ở một tầm cao hơn. Công tác ban hành văn bản quy phạm pháp luật có quy trình riêng, được điều chỉnh bằng văn bản luật[7] và một hệ thống văn bản dưới luật quy định chi tiết để thực hiện. Để ban hành một văn bản quy phạm pháp luật phải tuân theo những quy trình về thể thức, nội dung, thẩm quyền để điều chỉnh các vấn đề thực tiễn đời sống đặt ra.

Do vậy, nội dung giám sát văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2025 được quy định chi tiết thành quy trình riêng tại Nghị quyết số 115/2025/UBTVQH15 ngày 24/12/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân về giám sát văn bản quy phạm pháp luật. Trong đó, chỉ có một số chủ thể sau mới có thẩm quyền giám sát văn bản quy phạm pháp luật: gồm Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, đại biểu Quốc hội; Hội đồng nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân dân, Ban của Hội đồng nhân dân, đại biểu Hội đồng nhân dân. Nghị quyết cũng quy định phạm vi, mục đích, nội dung, nguồn tiếp cận văn bản quy phạm pháp luật, văn bản quy phạm pháp luật có nội dung bí mật[8] nhà nước.

Như vậy, với quy định pháp luật hiện hành về hoạt động giám sát có thể khẳng định Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2025 đã tiếp thu, phản ánh đúng thực tiễn để hoàn thiện pháp luật, phục vụ cho hoạt động giám sát chất lượng và hiệu quả hơn, góp phần hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, điều hành đất nước trong kỷ nguyên mới.

2. Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động giám sát

Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2025 được thông qua trong thời điểm hệ thống chính trị của nước ta nói chung, bộ máy chính quyền nói riêng đang được tổ chức và hoạt động theo mô hình chính quyền địa phương hai cấp, với nhiều nội dung hoàn thiện tổ chức bộ máy và hoàn thiện hệ thống pháp luật[9]. Khi hoạt động giám sát thực hiện tốt, đúng thẩm quyền, với tư duy tiếp thu sẽ nâng cao hiệu lực pháp luật cho cả chủ thể thực thi pháp luật cũng như chủ thể giám sát trong mối quan hệ tăng cường, nhưng tương hỗ lẫn nhau trong hoàn thiện hệ thống pháp luật. Để đạt được điều này cần có các giải pháp sau:

Thứ nhất, xác định được mục đích hoạt động giám sát. Quy định pháp luật đang được hoàn thiện để phục vụ cho hoạt động giám sát, nhưng trong xây dựng các chương trình giám sát cụ thể cần xác định được mục đích cụ thể để có bước đi phù hợp trong thực hiện các chương trình giám sát. Đây là một nội dung quan trọng để chứng minh hiệu quả hệ thống pháp luật hiện hành, nhưng cũng phải tìm ra những vấn đề phát sinh của xã hội cần hoàn thiện pháp luật để điều chỉnh. Do vậy, việc giám sát cần tuân thủ các quy trình, trong đó, đặc biệt chú trọng quy trình giám sát văn bản quy phạm pháp luật để định hướng góp phần vào xây dựng, hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật.

Thứ hai, đối với các chủ thể tiến hành hoạt động giám sát. Việc nâng cao năng lực giám sát của các chủ thể (Quốc hội, Hội đồng nhân dân) là yêu cầu khách quan do thực tiễn đặt ra trong việc hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật. Mỗi chủ thể cần nâng cao năng lực trong hoạt động giám sát phát hiện vấn đề và đề ra giải pháp cho việc hoàn thiện pháp luật. Để làm được điều đó, việc nâng cao năng lực cá nhân đại biểu là rất quan trọng trong hoạt động giám sát và cần xem đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân là “hạt nhân” cấu thành nên chất lượng, kết quả hoạt động giám sát của các chủ thể. Xét về cấu trúc chủ thể, đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân cấu thành nên các chủ thể tập thể như Quốc hội, Hội đồng nhân dân,… nhưng theo pháp luật, đại biểu là một chủ thể giám sát độc lập, cũng như thể hiện chính kiến trong việc hoàn thiện chính sách, pháp luật nói chung và văn bản quy phạm pháp luật địa phương nói riêng, nên việc nâng cao năng lực đại biểu cần được quan tâm trong tổ chức thực hiện.

Thứ ba, nâng cao năng lực tham mưu. Trong tổ chức và hoạt động của cơ quan dân cử (Quốc hội, Hội đồng nhân dân), thì Văn phòng[10] là một bộ phận cấu thành nên bộ máy của các cơ quan dân cử (được quy định trong các văn bản luật). Việc nâng cao trình độ, phẩm chất của đội ngũ công chức Văn phòng là một yêu cầu đặt ra từ việc thực hiện nhiệm vụ của các chủ thể giám sát, do vậy, cần quan tâm xây dựng đội ngũ Văn phòng có chất lượng để thực hiện nhiệm vụ “tổng hợp tham mưu, phục vụ”. Bên cạnh đó, Văn phòng có thể cung cấp các ý kiến tham khảo cho chủ thể thực hiện hoạt động giám sát, góp phần nâng cao hiệu quả của hoạt động giám sát.

Kết luận

Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2025 bổ sung nhiều quy định mới mang tính định hướng đáp ứng yêu cầu hoạt động giám sát để nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân. Luật được thông qua cùng với việc tiến hành bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp[11], khi áp dụng vào thực tiễn cần có các giải pháp trong từng chương trình giám sát sẽ kiểm nghiệm trong thực tiễn việc nâng cao chất lượng, hiệu quả giám sát, góp phần hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật phục vụ quản lý và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong thời kỳ mới.


[1] Đảng Cộng sản Việt Nam - Đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của Nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, Nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội (Điều 4 Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025).

[2] Nghị quyết số 115/2025/UBTVQH15 ngày 24/12/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân về giám sát văn bản quy phạm pháp luật.

[3] Quy định chi tiết tại Nghị quyết số 113/2025/UBTVQH15 ngày 24/12/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XV quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân về hoạt động giám sát của Quốc hội.

[4] Quy định chi tiết tại Nghị quyết số 114/2025/UBTVQH15 ngày 24/12/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XV quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân về hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân.

[5] Để thuận tiện trong tiếp cận điểm mới, bài viết gộp thẩm quyền kiến nghị chủ thể ở Trung ương và chủ thể ở địa phương. Ví dụ: Kiến nghị chủ thể có thẩm quyền ở địa phương giải quyết các vấn đề liên quan đến việc thực thiện (khoản 2 Điều 32); kiến nghị chủ thể có thẩm quyền ở Trung ương giải quyết các vấn đề liên quan đến việc thực hiện ở địa phương (khoản 5 Điều 32).

[6] Được quy định chi tiết tại Nghị quyết số 115/2025/UBTVQH15.

[7] Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật số 64/2025/QH15, sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15.

[8] Khoản 3 Điều 6 Nghị quyết 115/2025/UBTVQH15.

[9] Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.

[10] Quốc hội: Văn phòng Quốc hội (Điều 99 Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014, sửa đổi, bổ sung năm 2025); địa phương Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân cấp tỉnh (khoản 4 Điều 43 Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014, sửa đổi, bổ sung năm 2025. Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố thực hiện theo quy định tại Nghị quyết số 1004/2020/UBTVQH14 ngày 18/9/2020 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội).

[11] Bầu cử Quốc hội và Hội đồng nhân dân ngày 15/3/2026.

(Ảnh: Internet)

ThS. Trần Đức Thú, Văn phòng Đoàn ĐBQH và HĐND tỉnh Gia Lai

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Ngày 16/6/2022, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIII ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW về "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao" (Nghị quyết số 18-NQ/TW). Để hiện thực hóa mục tiêu đưa đất nước trở thành nước phát triển có thu nhập cao, trong thời điểm hiện tại, nhằm phù hợp với sự phát triển chung của đất nước, Hội nghị lần thứ ba, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIV đã đưa ra những quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan tại Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 (Nghị quyết số 21-NQ/TW) làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động sửa đổi chính sách pháp luật sau này. Nghị quyết số 21-NQ/TW đã thể hiện những điểm mới trong chủ trương của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.
Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026 được Quốc hội thông qua ngày 23/4/2026 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm xây dựng và phát triển Thủ đô. Đáng chú ý, tại Điều 26 của Luật đã thiết lập khung chính sách tương đối toàn diện về thu hút đầu tư, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư và phát triển doanh nghiệp, mở rộng cơ hội cho nhiều dự án trên địa bàn Thành phố được tiếp cận các chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng, hạ tầng, phát triển nhân lực và đổi mới sáng tạo.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.
Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh ngân hàng số phát triển, thông tin chưa được kiểm chứng có thể tác động nhanh đến tâm lý và hành vi của người gửi tiền. Nghiên cứu phân tích quy định pháp luật và thực tiễn phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hoạt động này chưa chú trọng đầy đủ đến mức độ hiểu và khả năng vận dụng pháp luật của người gửi tiền; nội dung còn thiên về tính chuyên môn; phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật và cơ chế cung cấp thông tin kịp thời còn hạn chế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá, tích hợp thông tin pháp luật ngắn gọn vào dịch vụ ngân hàng số và tăng cường cung cấp thông tin chính thức, kịp thời nhằm bảo vệ người gửi tiền và củng cố niềm tin vào hệ thống ngân hàng.
Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Quyền con người phản ánh sự kết tinh những giá trị nhân phẩm cao quý của nhân loại. Nghiên cứu công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người là phân tích, đánh giá phương thức thể chế hóa các chủ trương của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời, đề xuất giải pháp khắc phục những hạn chế của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 trước thách thức mới từ công nghệ số. Trên cơ sở tổng hợp và so sánh luật học, nghiên cứu phân tích, đánh giá vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người và thực trạng thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012. Đồng thời, nghiên cứu đánh giá tính phù hợp, khả thi của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Từ đó, kiến nghị và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 quy định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy mà không tự nguyện cai nghiện. Mặc dù không được xem là biện pháp xử lý hành chính nhưng biện pháp này mang tính cách ly người bị áp dụng khỏi cộng đồng. Để bảo vệ quyền của người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, pháp luật cho phép các chủ thể liên quan khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định quyền khởi kiện hay kháng cáo đối với quyết định này. Nghiên cứu phân tích bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, đồng thời, đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng biện pháp này.
Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã xác định rõ trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách tư pháp và chuyển đổi số quốc gia, vai trò này ngày càng trở nên quan trọng. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý, thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Tòa án nhân dân; trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động này trong hệ thống Tòa án nhân dân.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Sự phát triển của nền tảng số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang làm thay đổi phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật, đồng thời, đặt ra nhiều thách thức trong kiểm soát thông tin pháp luật trên môi trường số. Bên cạnh việc mở rộng khả năng tiếp cận pháp luật của người dân, tình trạng lan truyền thông tin pháp luật sai lệch, thiếu kiểm chứng hoặc được tạo sinh bởi hệ thống trí tuệ nhân tạo đang ảnh hưởng đến hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật và quyền tiếp cận thông tin pháp luật chính xác. Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam, nghiên cứu phân tích bất cập trong kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm chính xác của thông tin pháp luật trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

(Cập nhật bởi LuatVietnam.vn)
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Tóm tắt: Mô hình chính quyền địa phương hai cấp được triển khai ở Việt Nam từ ngày 01/7/2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quá trình đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, tăng cường phân quyền, phân cấp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị địa phương. Nghiên cứu phân tích các cơ hội và thách thức trong quá trình triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam, làm rõ những vấn đề đặt ra trong hoàn thiện thể chế, bảo đảm nguồn lực và nâng cao năng lực quản trị địa phương, từ đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam thời gian tới.
Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ và Nhân dân. Tuy nhiên, trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số và hoàn thiện thể chế theo chủ trương, định hướng của Đảng, nhiều quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 bộc lộ những hạn chế, bất cập. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, tổng kết thực tiễn thi hành và bối cảnh phát triển đất nước giai đoạn mới, nghiên cứu làm rõ những bất cập về tổ chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật, đối tượng đặc thù, nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật và sự không thống nhất của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 với một số luật liên quan. Từ đó, kiến nghị sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong bối cảnh hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Tóm tắt: Việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 là cấp thiết trước yêu cầu khắc phục tình trạng tuyên truyền thiên về hình thức, chưa gắn chặt với những vấn đề pháp lý mà người dân thực sự cần được hỗ trợ. Nghiên cứu phân tích khoảng cách giữa nguyên tắc phù hợp với nhu cầu và cơ chế nhận diện, phản ánh, đáp ứng, đo lường nhu cầu pháp lý trong dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật[1] (dự thảo Luật). Trên cơ sở phân tích quy phạm, bình luận chính sách và tiếp cận liên ngành về nhu cầu pháp lý, năng lực pháp lý, tiếp cận công lý, nghiên cứu tập trung vào các quy định về nguyên tắc, nội dung, hình thức, hướng dẫn và giải đáp pháp luật, đối tượng đặc thù, giáo dục pháp luật trong cơ sở giáo dục, trách nhiệm tổ chức thực hiện, cơ chế cấp xã, chuyển đổi số và đánh giá hiệu quả. Kết quả nghiên cứu cho thấy, dự thảo Luật đã có nhiều định hướng tích cực nhưng thiếu cơ chế khảo sát nhu cầu, thiết kế nội dung theo tình huống, chuyển tuyến hỗ trợ pháp lý và đánh giá khả năng hiểu, vận dụng pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các cơ chế bảo đảm cách tiếp cận lấy nhu cầu pháp lý của người dân làm trung tâm.
Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh, mạnh mẽ của không gian mạng đang tác động sâu sắc đến đời sống xã hội, đồng thời, đặt ra nhiều rủi ro đối với người chưa thành niên. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật cho nhóm đối tượng này. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết của chuyển đổi số trong phổ biến, giáo dục pháp luật đối với người chưa thành niên; đánh giá thực trạng triển khai tại Việt Nam, chỉ ra những hạn chế, bất cập, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập

Tóm tắt: Pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập là một bộ phận của pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật, có vai trò quan trọng trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trên cơ sở làm rõ khái niệm, đặc trưng và các tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện, nghiên cứu phân tích thực trạng pháp luật hiện hành, chỉ ra những kết quả đạt được và các hạn chế. Từ đó, nghiên cứu đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Hoàn thiện pháp luật để thúc đẩy hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số cho người cao tuổi

Hoàn thiện pháp luật để thúc đẩy hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số cho người cao tuổi

Tóm tắt: Chuyển đổi số đặt ra yêu cầu cấp thiết cần đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật, nhất là đối với các nhóm đối tượng đặc thù có năng lực số hạn chế. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số trên cơ sở chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước và yêu cầu của chuyển đổi số; đánh giá thực trạng quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Thông qua trường hợp cảnh báo về “hợp đồng kỳ nghỉ”, nghiên cứu làm rõ những hạn chế trong việc tiếp cận thông tin pháp luật của người cao tuổi trên môi trường số, từ đó, chỉ ra những bất cập của pháp luật hiện hành. Trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm quốc tế, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các quy định pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số.

Theo dõi chúng tôi trên: