Thứ hai 27/07/2026 08:52
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Nhiều điểm mới mang tính định hướng đáp ứng yêu cầu nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân

Để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng gắn với kiểm soát quyền lực nhà nước trong hoạt động giám sát, góp phần hoàn thiện chính sách, pháp luật, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, địa phương, bảo đảm kỷ luật, kỷ cương, nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước, Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2025 được thông qua trên cơ sở kế thừa, bổ sung nhiều quy định mới về nguyên tắc định hướng, chủ thể giám sát, nội dung và quy trình để hoạt động giám sát đạt hiệu quả, chất lượng. Việc gắn kết giữa hoạt động giám sát với việc hoàn thiện chính sách, pháp luật, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, địa phương có tính chất tương hỗ để hoàn thiện hệ thống pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng đất nước trong kỷ nguyên mới.

Xuất phát từ cách tiếp cận mới trong xây dựng luật, Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2025 được thông qua với nhiều quy định mới về nguyên tắc giám sát; quy định các chủ thể hoạt động giám sát; áp dụng chế tài trong hoạt động giám sát; tăng cường trách nhiệm của chủ thể giám sát; các bảo đảm để hoạt động giám sát được thực thi hiệu quả, cũng như bảo đảm quyền của các chủ thể chịu sự giám sát trong việc thực hiện các kết luận giám sát và các kiến nghị của các chủ thể giám sát. Bài viết phân tích những điểm mới trong Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2025, giải pháp nâng cao chất lượng, đạt kết quả cao trong hoạt động giám sát.

1. Những điểm mới cơ bản

1.1. Về cấu trúc

Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2025 gồm 05 chương, 45 điều với nhiều điểm mới như: Bổ sung sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động tác giám sát, bổ sung chế tài trong hoạt động giám sát, hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, giá trị văn bản giám sát, cơ chế phối hợp và các bảo đảm cho hoạt động giám sát.

1.2. Định nghĩa về hoạt động giám sát

Định nghĩa giám sát thể hiện nội hàm của hoạt động giám sát, thể hiện qua các nội dung như xác định bản chất hoạt động giám sát, cách thức tiến hành hoạt động giám sát, nội dung và mục đích của hoạt động giám sát. “Giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân là một phương thức kiểm soát quyền lực nhà nước thông qua việc chủ thể giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát trong việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật, xử lý theo thẩm quyền hoặc yêu cầu, kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý, góp phần hoàn thiện chính sách, pháp luật, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, địa phương, bảo đảm kỷ luật, kỷ cương, nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước” (khoản 1 Điều 2 Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2025). Qua định nghĩa cho thấy việc “kiểm soát quyền lực” đã được hiện thực hóa trong văn bản luật, nội hàm khái niệm giám sát thể hiện được ý kiến chỉ đạo, cũng như mục đích mà việc giám sát hướng tới. Văn bản luật xác định bản chất pháp lý của giám sát gắn với hoàn thiện chính sách, pháp luật và nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước, định nghĩa xác định rõ giám sát là “một phương thức kiểm soát quyền lực nhà nước”, mục đích “góp phần hoàn thiện chính sách pháp luật”.

1.3. Về nguyên tắc giám sát

Nguyên tắc mang tính định hướng, xuyên suốt trong toàn bộ văn bản Luật và tổ chức thực hiện, do vậy, nắm vững nguyên tắc là một yếu tố để đạt chất lượng, hiệu quả trong thực hiện. Luật bổ sung nhiều quy định mới, trong đó có sự lãnh đạo của Đảng: “Bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng cộng sản Việt Nam” (khoản 1 Điều 3 Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2025). Luật bổ sung quy định này là cơ sở pháp lý quan trọng để hiện thực sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của Nhà nước và xã hội đã được hiến định. Đây là việc thể chế sự lãnh đạo của Đảng thành pháp luật trong văn bản Luật, hiện thực sự lãnh đạo của Đảng[1] trong hoạt động của Nhà nước và thực thi pháp luật của các chủ thể phù hợp với yêu cầu hoàn thiện thể chế xây dựng đất nước trong thời kỳ mới. Nguyên tắc lãnh đạo của Đảng trong hoạt động giám sát xuyên suốt từ nguyên tắc, đến các quy định và trong tổ chức thực hiện.

Bên cạnh đó, Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2025 bổ sung nhiều quy định mới như phạm vi giám sát “tổng thể”, “chi tiết”, “giám sát toàn diện nhưng có trọng tâm, trọng điểm, đáp ứng yêu cầu của thực tiễn” (khoản 4 Điều 3); mục đích hoạt động giám sát “gắn kết giữa hoạt động giám sát với việc hoàn thiện chính sách, pháp luật, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, địa phương” (khoản 5 Điều 3), cũng như các bảo đảm, phối hợp trong hoạt động giám sát.

Có thể khái quát nguyên tắc giám sát tại Điều 3 Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2025 theo các yếu tố sau: Chủ thể lãnh đạo giám sát là Đảng Cộng sản Việt Nam; chủ thể thực hiện giám sát là Quốc hội, Hội đồng nhân dân; phạm vi thực hiện giám sát là “toàn diện”; yêu cầu của hoạt động giám sát là gắn với “thực tiễn”; mục đích của hoạt động giám sát là hoàn thiện chính sách, pháp luật, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, địa phương; bảo đảm cho hoạt động giám sát thể hiện dạng quy định “cấm”, không được cản trở.

1.4. Thẩm quyền giám sát của chủ thể

Với cách tiếp cận hoàn toàn mới, việc quy định giám sát của các chủ thể theo hướng liệt kê với cấu trúc: Thẩm quyền giám sát, hoạt động giám sát và thẩm quyền xem xét kết quả giám sát. Để thuận tiện trong việc tiếp cận điểm mới đối với văn bản luật, tùy vào mỗi chủ thể, bài viết tiếp cận theo chiều dọc (thẩm quyền chủ thể) và chiều ngang (thẩm quyền thực hiện nội dung) để thấy được điểm nổi bật trong thực hiện hoạt động giám sát của các chủ thể.

1.4.1. Chủ thể giám sát

Ngay tên gọi văn bản Luật đã thể hiện chủ thể giám sát, Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2025, quy định thành 11 chủ thể được thực hiện hoạt động giám sát, đối với nội dung giám sát văn bản quy phạm pháp luật chỉ một số chủ thể được thực hiện[2].

Cấu trúc quy định về thẩm quyền của các chủ thể trong hoạt động giám sát theo các tiêu chí chủ thể giám sát được thực hiện những nội dung nào (lĩnh vực, đối tượng); tiến hành các hoạt động (hành vi); các biện pháp được áp dụng (trong đó có chế tài) phù hợp bảo đảm hoạt động giám sát đạt hiệu quả. Đây là quy định hoàn toàn mới về cấu trúc đối với chủ thể hoạt động giám sát so với Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015 nói riêng, cũng như hoạt động xây dựng luật nói chung.

(i) Quốc hội[3]

Theo quy định Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2025, chủ thể giám sát của Quốc hội gồm: Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội, đại biểu Quốc hội (khoản 2 Điều 2).

- Đối với hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội: Thẩm quyền giám sát của Quốc hội áp dụng cách tiếp cận theo chiều dọc theo thẩm quyền chủ thể trong hoạt động giám sát. Qua hoạt động giám sát, Quốc hội yêu cầu các chủ thể chịu sự giám sát ban hành văn bản quy định chi tiết luật, nghị quyết của Quốc hội (khoản 1 Điều 15); xử lý văn bản quy phạm pháp luật sai: “Bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản quy phạm pháp luật” (khoản 2 Điều 15).

- Đối với Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Qua hoạt động giám sát, Ủy ban Thường vụ Quốc hội quyết định giải thích Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; yêu cầu các chủ thể ban hành văn bản quy định chi tiết luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (khoản 1 Điều 18); đình chỉ thi hành một phần hoặc toàn bộ văn bản quy phạm pháp luật (khoản 2 Điều 18); bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản quy phạm pháp luật (khoản 3 Điều 18); bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ nghị quyết của Hội đồng nhân dân (khoản 6 Điều 18).

- Đối với các chủ thể Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội, đại biểu Quốc hội được tiếp cận theo chiều ngang (thẩm quyền thực hiện nhiệm vụ):

+ Về nội dung kiến nghị giải thích Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội; pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội thuộc thẩm quyền của Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội (điểm a khoản 1 Điều 21); thẩm quyền của đại biểu Quốc hội (khoản 1 Điều 26).

+ Về nội dung kiến nghị quy định chi tiết văn bản: Kiến nghị chủ thể thẩm quyền ban hành văn bản quy định chi tiết luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội thuộc thẩm quyền của Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội (điểm b khoản 1 Điều 21); thẩm quyền của đại biểu Quốc hội (khoản 2 Điều 26). Đối với Đoàn đại biểu Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội kiến nghị chủ thể có thẩm quyền “ở Trung ương” ban hành văn bản quy định chi tiết luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (khoản 3 Điều 24).

+ Về nội dung kiến nghị liên quan đến hiệu lực văn bản: Việc kiến nghị sửa đổi, bổ sung, thay thế tạm ngưng hiệu lực, đình chỉ việc thi hành, bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản quy phạm pháp luật được thực hiện bởi một số chủ thể giám sát, như: Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội (điểm b khoản 1 Điều 21); Đoàn đại biểu Quốc hội các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (khoản 1 và khoản 3 Điều 24); đại biểu Quốc hội (khoản 2 Điều 26).

+ Đối với nội dung kiến nghị giải quyết các vấn đề: Việc kiến nghị các chủ thể giải quyết các vấn đề liên quan đến việc thực hiện chủ trương, chính sách, pháp luật thuộc thẩm quyền các chủ thể Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội (điểm c khoản 1 Điều 21); Đoàn đại biểu Quốc hội các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (khoản 2 Điều 24); đại biểu Quốc hội (khoản 3 Điều 26).

(ii) Hội đồng nhân dân[4]

Theo quy định, chủ thể giám sát của Hội đồng nhân dân gồm Hội đồng nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân dân, Ban của Hội đồng nhân dân, Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân, đại biểu Hội đồng nhân dân (khoản 3 Điều 2 Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2025), cùng với đó là trách nhiệm báo cáo định kỳ của các chủ thể giám sát theo quy định tại Điều 12 Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2025 và các quy định liên quan.

- Đối với thẩm quyền của Hội đồng nhân dân trong hoạt động giám sát thể hiện qua một số nội dung về hoàn thiện pháp luật, giải quyết các vấn đề qua hoạt động giám sát. Về hoàn thiện pháp luật, Hội đồng nhân dân “kiến nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền ở Trung ương ban hành văn bản quy định chi tiết luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội”; kiến nghị chủ thể có thẩm quyền ở Trung ương liên quan đến hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật (khoản 4 Điều 29); Hội đồng nhân dân có thể đình chỉ việc thi hành, bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản quy phạm pháp luật theo thẩm quyền (khoản 1 Điều 29); kiến nghị giải quyết các vấn đề thuộc thẩm quyền có liên quan đến việc thực hiện chủ trương, chính sách, pháp luật ở địa phương (khoản 4 Điều 29). Qua quy định trên cho thấy, Hội đồng nhân dân thực hiện kiến nghị với các chủ thể cấp trên (theo cấu trúc bộ máy), điều này sẽ thấy có sự khác với thẩm quyền của các chủ thể phân tích dưới đây.

- Đối với thẩm quyền của Thường trực Hội đồng nhân dân, Ban của Hội đồng nhân dân, đại biểu Hội đồng nhân dân được tiếp cận theo chiều ngang (thẩm quyền thực hiện nhiệm vụ) để thấy điểm tương đồng giữa các chủ thể và điểm khác so với hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân.

+ Về hoàn thiện văn bản pháp luật: Việc kiến nghị các chủ thể có thẩm quyền ở Trung ương ban hành văn bản quy định chi tiết luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội thuộc thẩm quyền của Thường trực Hội đồng nhân dân (khoản 5 Điều 32); thẩm quyền của Ban của Hội đồng nhân dân (khoản 3 Điều 35); thẩm quyền của đại biểu Hội đồng nhân dân (khoản 4 Điều 38).

+ Về kiến nghị liên quan đến hiệu lực văn bản: Đối với nội dung này, các chủ thể thực hiện kiến nghị đối với các chủ thể ở Trung ương và địa phương về sửa đổi, bổ sung, thay thế, tạm ngưng hiệu lực, đình chỉ việc thi hành, bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền của một số chủ thể sau: Thường trực Hội đồng nhân dân (khoản 1 khoản 5 Điều 32); Ban của Hội đồng nhân dân (khoản 1 khoản 3 Điều 35); đại biểu Hội đồng nhân dân (khoản 1 khoản 4 Điều 38).

+ Đối với kiến nghị giải quyết các vấn đề liên quan đến việc thực thi chủ trương, chính sách, pháp luật ở địa phương thuộc thẩm quyền của các chủ thể sau: Thường trực Hội đồng nhân dân[5] (khoản 2 khoản 5 Điều 32); Ban của Hội đồng nhân dân (khoản 2 khoản 3 Điều 35); đại biểu Hội đồng nhân dân (khoản 2 khoản 4 Điều 38).

Qua phân tích trên cơ sở quy định của Luật có thể thấy điểm khác thẩm quyền của Hội đồng nhân dân kiến nghị về hiệu lực văn bản và giải quyết vấn đề về thực hiện chính sách, pháp luật với chủ thể có thẩm quyền ở Trung ương. Thẩm quyền Thường trực Hội đồng nhân dân, Ban của Hội đồng nhân dân, đại biểu Hội đồng nhân dân kiến nghị về hiệu lực văn bản và giải quyết vấn đề về thực hiện chính sách, pháp luật đối với chủ thể có thẩm quyền ở Trung ương và địa phương.

- Đối với Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân: Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân chỉ tiến hành giám sát đối với việc “thi hành pháp luật ở địa phương” khi được Hội đồng nhân dân hoặc Thường trực Hội đồng nhân dân “cùng cấp giao” và báo với Hội đồng nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân dân xem xét, quyết định (Điều 37). Có thể hiểu Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân giám sát theo phái sinh, thực hiện nhiệm vụ được giao và báo cáo chủ thể giao nhiệm vụ, đây là điểm cần chú ý trong hoạt động giám của Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân.

- Để bảo đảm chia sẻ thông tin cũng như tính thống nhất trong hoạt động giám sát, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh gửi kiến nghị đến các chủ thể ở Trung ương, đồng thời gửi đến Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội; Hội đồng nhân dân cấp xã gửi kiến nghị đến Thường trực Hội đồng nhân dân cấp tỉnh để xem xét, tổng hợp (khoản 4 Điều 29).

(iii) Mội số biện pháp xử lý đối với chủ thể chịu sự giám sát

Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2025 quy định chủ thể giám sát thực hiện một số biện pháp liên quan đến xử lý các cá nhân liên quan đến hoạt động giám sát, như: Thẩm quyền của Quốc hội yêu cầu xử lý người vi phạm pháp luật nghiêm trọng (miễn nhiệm, bãi nhiệm, cách chức, xử lý theo pháp luật) tùy theo tính chất và mức độ của hành vi vi phạm và vị trí trong tổ chức để áp dụng hình thức phù hợp (khoản 5 Điều 15); thẩm quyền của Ủy ban Thường vụ Quốc hội đề nghị Quốc hội bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn (khoản 5 Điều 18); thẩm quyền của đại biểu Quốc hội (khoản 4 Điều 26).

1.4.2. Giá trị của các văn bản sau hoạt động giám sát

Đây là quy định có phương thức tiếp cận hoàn toàn mới và gắn giá trị pháp lý, nghị quyết, kết luận, kiến nghị giám sát trong tổ chức thực hiện. Đối với nghị quyết giám sát của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng nhân dân có giá trị “bắt buộc” các chủ thể thực hiện: “Nghị quyết giám sát của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng nhân dân có giá trị pháp lý bắt buộc thực hiện” (khoản 1 Điều). Đây là quy định rất mới, gắn với giá trị pháp lý.

- Đối với kết luận, kiến nghị giám sát của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và các chủ thể khác “phải được” các chủ thể chịu sự giám sát nghiêm chỉnh thực hiện (khoản 1 Điều 40) và gắn với thời hạn thực hiện trong thời hạn 15 ngày, trường hợp phức tạp không quá 30 ngày và quá thời hạn do Luật quy định, cơ quan chịu sự giám sát không trả lời hoặc không tán thành thì chủ thể tiến hành giám sát xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị xử lý theo quy định của pháp luật (khoản 3 Điều 40).

- Luật Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2025 cũng quy định chủ thể chịu sự giám sát bảo vệ quan điểm trong hoạt động thực hiện nhiệm vụ. Chủ thể chịu sự giám sát có thể tự mình hoặc báo cáo cấp trên xem xét kết luận, kiến nghị: “Trường hợp không tán thành với kết quả trả lời của chủ thể giám sát thì cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát tự mình hoặc báo cáo với người đứng đầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền để đề nghị Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng nhân dân xem xét kết luận, kiến nghị giám sát đó” (khoản 2 Điều 40).

- Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2025 đề cao vai trò của các chủ thể giám sát, đặc biệt phát huy vai trò, năng lực giám sát của đại biểu Hội đồng nhân dân thể hiện ở việc kiến nghị các cơ quan, người có thẩm quyền ở Trung ương và địa phương trong việc sửa đổi, bổ sung, thay thế, tạm ngưng hiệu lực, đình chỉ việc thi hành, bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản quy phạm pháp luật trái với Hiến pháp, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên, như: Đại biểu Quốc hội (điểm b khoản 1 Điều 25, Điều 26); đại biểu Hội đồng nhân dân (khoản 1 khoản 4 Điều 38).

1.4.3. Một số điểm mới nổi bật về chủ thể giám sát

Qua phân tích thẩm quyền của các thủ thể có thể thấy những điểm nổi bật cần chú ý, đó là việc hoàn thiện hệ thống pháp luật qua hoạt động giám sát 10/11 chủ thể giám sát được kiến nghị ban hành văn bản chi tiết và áp dụng chế tài bảo đảm tính đồng bộ trong quy định thẩm quyền và bảo đảm thực hiện. Cụ thể:

Một là, đối với việc ban hành văn bản chi tiết. Qua giám sát các chủ thể tiến hành hoạt động giám sát yêu cầu các chủ thể bị giám sát ban hành văn bản quy định chi tiết luật, nghị quyết theo quy định.

Hai là, đối với hiệu lực văn bản. Nội dung này tùy vào tính chất văn bản ban hành mà chủ thể giám sát thực hiện việc bãi bỏ, đình chỉ, sửa đổi, bổ sung, thay thế, tạm ngưng hiệu lực, đình chỉ việc thi hành, bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản quy phạm pháp luật theo thẩm quyền.

Ba là, liên quan đến điều ước Quốc tế. Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội có thẩm quyền kiến nghị những nội dung liên quan đến điều ước Quốc tế như hoàn thiện chính sách pháp luật, cơ chế tổ chức thực hiện, sửa đổi, bổ sung… liên quan đến điều ước quốc tế (khoản 2 Điều 21 Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2025).

Bốn là, giải thích Hiến pháp, luật, nghị quyết. Ủy ban Thường vụ Quốc hội giải thích Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (khoản 1 Điều 18 Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2025) và Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội sẽ kiến nghị Ủy ban Thường vụ Quốc hội thực hiện nhiệm vụ giải thích này (điểm a khoản 1 Điều 21 Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2025).

Năm là, tăng cường vai trò của Thường trực Hội đồng nhân dân trong hoạt động giám sát. Thường trực Hội đồng nhân dân thực hiện “chỉ đạo, điều hòa, phối hợp” với các chủ thể giám sát ở địa phương, như điều chỉnh, phân công, yêu cầu điều chỉnh hoạt động giám sát của các chủ thể (khoản 2 Điều 39 Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2025); Thường trực Hội đồng nhân dân cấp tỉnh tổng hợp kiến nghị của mình, kiến nghị của Ban của Hội đồng nhân dân tỉnh, đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh; Hội đồng nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân dân, đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã. Thường trực Hội đồng nhân dân cấp xã tổng hợp kiến nghị theo thẩm quyền gửi Hội đồng nhân dân cấp xã và gửi Thường trực Hội đồng nhân cấp tỉnh (khoản 5 Điều 32 Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2025).

1.5. Sự phối hợp trong hoạt động giám sát

Trong tổng thể văn bản Luật có thể tiếp cận sự phối hợp trong nội bộ (Quốc hội và các chủ thể trong hoạt động giám sát của Quốc hội; Hội đồng nhân dân và các chủ thể trong hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân); sự phối hợp bên ngoài giữa các cơ quan giám sát với các chủ thể có liên quan. Cụ thể:

Thứ nhất, sự phối hợp trong nội bộ các chủ thể thực hiện hoạt động giám sát (mối quan hệ bên trong của các chủ thể Quốc hội, Hội đồng nhân dân). Trong mối quan hệ này, cơ quan thường trực có thể “phân công”, “yêu cầu” đối với các chủ thể liên quan. Đối với mối quan hệ này, Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2025 đề cao trách nhiệm các cơ quan thường trực (Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Thường trực Hội đồng nhân dân) là những chủ thể thực hiện nhiệm vụ giám sát độc lập theo thẩm quyền, nhưng cũng phải có trách nhiệm bảo đảm sự thống nhất, đồng bộ trong hoạt động giám sát trong tổ chức, như: Ủy ban Thường vụ Quốc hội điều chỉnh dự kiến hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội; phân công cho các cơ quan của Quốc hội (Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban) và Đoàn đại biểu Quốc hội thực hiện một số nội dung trong chương trình giám sát của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội; yêu cầu các chủ thể điều chỉnh chương trình để phù hợp với chương trình chung (điểm c khoản 1 Điều 39).

- Tương tự với Thường trực Hội đồng nhân dân là điều chỉnh dự kiến chương trình giám sát tại các kỳ họp Hội đồng nhân dân trong năm, chủ động điều chỉnh chương trình giám sát của mình; phân công, giao các Ban của Hội đồng nhân dân, tổ đại biểu thực hiện một số nội dung trong chương trình giám sát của Hội đồng nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân dân; yêu cầu Ban của Hội đồng nhân dân, Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, Thường trực Hội đồng nhân dân cấp xã điều chỉnh chương trình cho phù hợp, thống nhất trên địa bàn địa phương. Thường trực Hội đồng nhân dân cấp xã yêu cầu Ban của Hội đồng nhân dân, Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã điều chỉnh chương trình, kế hoạch để tránh trùng lặp, bảo đảm thống nhất trong các chương trình giám sát nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả giám sát (khoản 2 Điều 39 Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2025).

- Một chi tiết cần chú ý trong hoạt động giám sát là có sự giám sát trong nội bộ, như Quốc hội giám sát tối cao Ủy ban Thường vụ Quốc hội (khoản 1 Điều 13); Ủy ban Thường vụ Quốc hội giám sát Hội đồng nhân dân cấp tỉnh (khoản 1 Điều 16); Hội đồng nhân dân cấp tỉnh giám sát Thường trực Hội đồng nhân dân, các Ban của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh (khoản 1 Điều 27); Thường trực Hội đồng nhân dân cấp tỉnh giám sát Hội đồng nhân dân cấp xã (khoản 1 Điều 30); Hội đồng nhân dân cấp xã giám sát Thường trực Hội đồng nhân dân cấp xã (khoản 2 Điều 27).

Thứ hai, sự phối hợp bên ngoài với các chủ thể có liên quan trong hoạt động giám sát (quan hệ của Quốc hội, Hội đồng nhân dân với các chủ thể Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Kiểm toán Nhà nước,…). Quy định này kế thừa và bổ sung để hoàn thiện thành một điều riêng, đó là sự phối hợp giữa các chủ thể giám sát và giữa chủ thể giám sát với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, cơ quan thanh tra, kiểm toán, cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền (Điều 9 Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2025), sự phối hợp giữa các chủ thể trong phối hợp giải quyết các vấn đề phát sinh, trách nhiệm của các thành viên khi tham gia đoàn giám sát, cũng như tuân thủ các thời hạn theo pháp luật quy định. Với mục đích là bảo đảm chính sách, pháp luật được thực hiện đạt hiệu quả và hoàn thiện chính sách, pháp luật để quản lý, xây dựng đất nước.

Thứ ba, sự phối hợp thể hiện việc chia sẻ thông tin. Việc phối hợp giữa các chủ thể bên cạnh việc phối hợp hoạt động giám sát còn thể hiện qua việc chia sẻ thông tin giữa các chủ thể trong nội bộ và các cơ quan phối hợp. Ví dụ: Hội đồng nhân dân cấp tỉnh gửi kiến nghị đến các chủ thể có thẩm quyền ở Trung ương thì đồng thời gửi đến Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội theo các lĩnh vực phụ trách (khoản 4 Điều 29 Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2025). Thường trực Hội đồng nhân dân cấp tỉnh xem xét tổng hợp ý kiến của mình và các chủ thể giám sát ở địa phương theo quy định (khoản 5 Điều 32 Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2025). Việc cung cấp thông tin giữa chủ thể giám sát và cơ quan thanh tra, kiểm toán và các chủ thể có thẩm quyền (khoản 3 Điều 9 Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2025).

1.6. Quy trình, thủ thục giám sát văn bản quy phạm pháp luật[6]

Hoạt động giám sát là một nhiệm vụ quan trọng, có tính đặc thù, đòi hỏi phải nắm bắt quy trình pháp luật, cũng như việc nắm bắt các kiến thức pháp luật và thực tiễn áp dụng. Tuy nhiên, giám sát văn bản quy phạm pháp luật có đặc thù riêng yêu cầu ở một tầm cao hơn. Công tác ban hành văn bản quy phạm pháp luật có quy trình riêng, được điều chỉnh bằng văn bản luật[7] và một hệ thống văn bản dưới luật quy định chi tiết để thực hiện. Để ban hành một văn bản quy phạm pháp luật phải tuân theo những quy trình về thể thức, nội dung, thẩm quyền để điều chỉnh các vấn đề thực tiễn đời sống đặt ra.

Do vậy, nội dung giám sát văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2025 được quy định chi tiết thành quy trình riêng tại Nghị quyết số 115/2025/UBTVQH15 ngày 24/12/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân về giám sát văn bản quy phạm pháp luật. Trong đó, chỉ có một số chủ thể sau mới có thẩm quyền giám sát văn bản quy phạm pháp luật: gồm Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, đại biểu Quốc hội; Hội đồng nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân dân, Ban của Hội đồng nhân dân, đại biểu Hội đồng nhân dân. Nghị quyết cũng quy định phạm vi, mục đích, nội dung, nguồn tiếp cận văn bản quy phạm pháp luật, văn bản quy phạm pháp luật có nội dung bí mật[8] nhà nước.

Như vậy, với quy định pháp luật hiện hành về hoạt động giám sát có thể khẳng định Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2025 đã tiếp thu, phản ánh đúng thực tiễn để hoàn thiện pháp luật, phục vụ cho hoạt động giám sát chất lượng và hiệu quả hơn, góp phần hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, điều hành đất nước trong kỷ nguyên mới.

2. Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động giám sát

Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2025 được thông qua trong thời điểm hệ thống chính trị của nước ta nói chung, bộ máy chính quyền nói riêng đang được tổ chức và hoạt động theo mô hình chính quyền địa phương hai cấp, với nhiều nội dung hoàn thiện tổ chức bộ máy và hoàn thiện hệ thống pháp luật[9]. Khi hoạt động giám sát thực hiện tốt, đúng thẩm quyền, với tư duy tiếp thu sẽ nâng cao hiệu lực pháp luật cho cả chủ thể thực thi pháp luật cũng như chủ thể giám sát trong mối quan hệ tăng cường, nhưng tương hỗ lẫn nhau trong hoàn thiện hệ thống pháp luật. Để đạt được điều này cần có các giải pháp sau:

Thứ nhất, xác định được mục đích hoạt động giám sát. Quy định pháp luật đang được hoàn thiện để phục vụ cho hoạt động giám sát, nhưng trong xây dựng các chương trình giám sát cụ thể cần xác định được mục đích cụ thể để có bước đi phù hợp trong thực hiện các chương trình giám sát. Đây là một nội dung quan trọng để chứng minh hiệu quả hệ thống pháp luật hiện hành, nhưng cũng phải tìm ra những vấn đề phát sinh của xã hội cần hoàn thiện pháp luật để điều chỉnh. Do vậy, việc giám sát cần tuân thủ các quy trình, trong đó, đặc biệt chú trọng quy trình giám sát văn bản quy phạm pháp luật để định hướng góp phần vào xây dựng, hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật.

Thứ hai, đối với các chủ thể tiến hành hoạt động giám sát. Việc nâng cao năng lực giám sát của các chủ thể (Quốc hội, Hội đồng nhân dân) là yêu cầu khách quan do thực tiễn đặt ra trong việc hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật. Mỗi chủ thể cần nâng cao năng lực trong hoạt động giám sát phát hiện vấn đề và đề ra giải pháp cho việc hoàn thiện pháp luật. Để làm được điều đó, việc nâng cao năng lực cá nhân đại biểu là rất quan trọng trong hoạt động giám sát và cần xem đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân là “hạt nhân” cấu thành nên chất lượng, kết quả hoạt động giám sát của các chủ thể. Xét về cấu trúc chủ thể, đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân cấu thành nên các chủ thể tập thể như Quốc hội, Hội đồng nhân dân,… nhưng theo pháp luật, đại biểu là một chủ thể giám sát độc lập, cũng như thể hiện chính kiến trong việc hoàn thiện chính sách, pháp luật nói chung và văn bản quy phạm pháp luật địa phương nói riêng, nên việc nâng cao năng lực đại biểu cần được quan tâm trong tổ chức thực hiện.

Thứ ba, nâng cao năng lực tham mưu. Trong tổ chức và hoạt động của cơ quan dân cử (Quốc hội, Hội đồng nhân dân), thì Văn phòng[10] là một bộ phận cấu thành nên bộ máy của các cơ quan dân cử (được quy định trong các văn bản luật). Việc nâng cao trình độ, phẩm chất của đội ngũ công chức Văn phòng là một yêu cầu đặt ra từ việc thực hiện nhiệm vụ của các chủ thể giám sát, do vậy, cần quan tâm xây dựng đội ngũ Văn phòng có chất lượng để thực hiện nhiệm vụ “tổng hợp tham mưu, phục vụ”. Bên cạnh đó, Văn phòng có thể cung cấp các ý kiến tham khảo cho chủ thể thực hiện hoạt động giám sát, góp phần nâng cao hiệu quả của hoạt động giám sát.

Kết luận

Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2025 bổ sung nhiều quy định mới mang tính định hướng đáp ứng yêu cầu hoạt động giám sát để nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân. Luật được thông qua cùng với việc tiến hành bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp[11], khi áp dụng vào thực tiễn cần có các giải pháp trong từng chương trình giám sát sẽ kiểm nghiệm trong thực tiễn việc nâng cao chất lượng, hiệu quả giám sát, góp phần hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật phục vụ quản lý và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong thời kỳ mới.


[1] Đảng Cộng sản Việt Nam - Đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của Nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, Nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội (Điều 4 Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025).

[2] Nghị quyết số 115/2025/UBTVQH15 ngày 24/12/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân về giám sát văn bản quy phạm pháp luật.

[3] Quy định chi tiết tại Nghị quyết số 113/2025/UBTVQH15 ngày 24/12/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XV quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân về hoạt động giám sát của Quốc hội.

[4] Quy định chi tiết tại Nghị quyết số 114/2025/UBTVQH15 ngày 24/12/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XV quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân về hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân.

[5] Để thuận tiện trong tiếp cận điểm mới, bài viết gộp thẩm quyền kiến nghị chủ thể ở Trung ương và chủ thể ở địa phương. Ví dụ: Kiến nghị chủ thể có thẩm quyền ở địa phương giải quyết các vấn đề liên quan đến việc thực thiện (khoản 2 Điều 32); kiến nghị chủ thể có thẩm quyền ở Trung ương giải quyết các vấn đề liên quan đến việc thực hiện ở địa phương (khoản 5 Điều 32).

[6] Được quy định chi tiết tại Nghị quyết số 115/2025/UBTVQH15.

[7] Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật số 64/2025/QH15, sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15.

[8] Khoản 3 Điều 6 Nghị quyết 115/2025/UBTVQH15.

[9] Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.

[10] Quốc hội: Văn phòng Quốc hội (Điều 99 Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014, sửa đổi, bổ sung năm 2025); địa phương Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân cấp tỉnh (khoản 4 Điều 43 Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014, sửa đổi, bổ sung năm 2025. Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố thực hiện theo quy định tại Nghị quyết số 1004/2020/UBTVQH14 ngày 18/9/2020 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội).

[11] Bầu cử Quốc hội và Hội đồng nhân dân ngày 15/3/2026.

(Ảnh: Internet)

ThS. Trần Đức Thú, Văn phòng Đoàn ĐBQH và HĐND tỉnh Gia Lai

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hà Nội thí điểm cơ chế phát triển nhà ở cho thuê: Bước chuyển trong chính sách nhà ở

Hà Nội thí điểm cơ chế phát triển nhà ở cho thuê: Bước chuyển trong chính sách nhà ở

Việc Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội thông qua cơ chế đặc thù về đầu tư, phát triển nhà ở cho thuê được xem là bước đi mới trong thực hiện Luật Thủ đô năm 2026. Với nhiều ưu đãi về đất đai, thủ tục đầu tư và cơ chế khai thác dự án, chính sách này không chỉ tạo động lực thu hút doanh nghiệp tham gia phát triển nhà ở cho thuê mà còn góp phần mở rộng nguồn cung nhà ở, bảo đảm an sinh xã hội và thúc đẩy phát triển đô thị bền vững.
Luật Chuyển đổi số năm 2025: Đòn bẩy pháp lý phát triển đất nước

Luật Chuyển đổi số năm 2025: Đòn bẩy pháp lý phát triển đất nước

Trong những năm gần đây, chủ trương về chuyển đổi số đã trở thành một trong những định hướng chiến lược quan trọng của Đảng và Nhà nước. Với tinh thần chủ động, tích cực tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư là yêu cầu khách quan (Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị) tới Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đã xác định “Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính để phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại, hoàn thiện quan hệ sản xuất, đổi mới phương thức quản trị quốc gia, phát triển kinh tế - xã hội, ngăn chặn nguy cơ tụt hậu, đưa đất nước phát triển bứt phá, giàu mạnh trong kỷ nguyên mới”.
Miễn thuế thu nhập cá nhân đối với tiền lương làm thêm giờ

Miễn thuế thu nhập cá nhân đối với tiền lương làm thêm giờ

Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 253/2026/NĐ-CP quy định miễn thuế thu nhập cá nhân đối với khoản thu nhập từ tiền lương làm thêm giờ đánh dấu bước điều chỉnh quan trọng trong chính sách thuế theo hướng hỗ trợ người lao động (NLĐ) và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Đây không chỉ là giải pháp nhằm tăng thu nhập thực nhận mà còn thể hiện sự kết nối giữa pháp luật thuế với pháp luật lao động. Tuy nhiên, quá trình triển khai cũng đặt ra nhiều vấn đề liên quan đến quản lý thuế, bảo hiểm xã hội và quan hệ lao động, đòi hỏi tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý để bảo đảm tính minh bạch và hiệu quả của chính sách.
80 năm Thi hành án dân sự: Dấu ấn công tác thu hồi tài sản trong các vụ án tham nhũng, kinh tế

80 năm Thi hành án dân sự: Dấu ấn công tác thu hồi tài sản trong các vụ án tham nhũng, kinh tế

Công tác thu hồi tài sản bị thất thoát, chiếm đoạt trong các vụ án về tham nhũng, kinh tế là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, góp phần bảo đảm hiệu lực của các bản án, quyết định của Tòa án, khắc phục thiệt hại cho Nhà nước, tổ chức và cá nhân, đồng thời, củng cố niềm tin của Nhân dân vào tính nghiêm minh của pháp luật. Trong quá trình đó, Hệ thống Thi hành án dân sự giữ vai trò đặc biệt quan trọng, là khâu trực tiếp tổ chức thi hành các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, đưa các phán quyết của Tòa án vào thực tiễn.
Chuyển đổi số trong Hệ thống Thi hành án dân sự: Bước ngoặt sau 80 năm xây dựng và phát triển

Chuyển đổi số trong Hệ thống Thi hành án dân sự: Bước ngoặt sau 80 năm xây dựng và phát triển

Năm 2026 đánh dấu chặng đường 80 năm xây dựng và trưởng thành của Hệ thống Thi hành án dân sự Việt Nam. Đây không chỉ là dấu mốc có ý nghĩa lịch sử mà còn là thời điểm để nhìn nhận những yêu cầu mới đặt ra đối với Hệ thống trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia, xây dựng Chính phủ số, xã hội số và nền kinh tế số. Đây là bước chuyển có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, tạo nền tảng để Hệ thống Thi hành án dân sự thích ứng với yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới.
Công tác đánh giá cán bộ, công chức và thi đua, khen thưởng trong Hệ thống Thi hành án dân sự - Động lực phát triển qua 80 năm xây dựng và phát triển

Công tác đánh giá cán bộ, công chức và thi đua, khen thưởng trong Hệ thống Thi hành án dân sự - Động lực phát triển qua 80 năm xây dựng và phát triển

Trong cấu trúc của hệ thống tư pháp và hành chính công quyền, thi hành án dân sự (THADS) là khâu cuối cùng, có vai trò quyết định bảo đảm tính thực thi và nghiêm minh của pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức, cá nhân. Trải qua 80 năm xây dựng và phát triển (19/7/1946 - 19/7/2026), Hệ thống THADS Việt Nam từng bước lớn mạnh về cả tổ chức bộ máy và chất lượng đội ngũ công chức.
Nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo: Giữ vững kỷ cương, liêm chính trong Hệ thống Thi hành án dân sự

Nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo: Giữ vững kỷ cương, liêm chính trong Hệ thống Thi hành án dân sự

Trải qua 80 năm xây dựng và phát triển, Hệ thống Thi hành án dân sự (THADS) từng bước khẳng định vai trò là khâu cuối cùng bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật, góp phần bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức, cá nhân và giữ vững trật tự, kỷ cương xã hội. Cùng với quá trình đổi mới tổ chức và hoạt động của Hệ thống THADS, công tác kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo được xác định là công cụ quản lý quan trọng nhằm bảo đảm sự tuân thủ pháp luật, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của các cơ quan THADS.
Hoàn thiện thể chế đáp ứng yêu cầu đổi mới mô hình hoạt động thi hành án dân sự trong kỷ nguyên mới

Hoàn thiện thể chế đáp ứng yêu cầu đổi mới mô hình hoạt động thi hành án dân sự trong kỷ nguyên mới

Sau quá trình thực hiện chủ trương sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo sát sao của Ban Thường vụ Đảng ủy Bộ Tư pháp, Lãnh đạo Bộ Tư pháp, Lãnh đạo Cục Quản lý Thi hành án dân sự, cùng sự chủ động, quyết tâm, toàn Hệ thống Thi hành án dân sự đã tập trung mọi nguồn lực để hoàn thành các chỉ tiêu, nhiệm vụ chính trị trọng tâm. Đặc biệt, công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế tiếp tục có nhiều đổi mới, tạo nền tảng nâng cao hiệu lực, hiệu quả tổ chức thi hành pháp luật, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới.
Xây dựng, hoàn thiện tổ chức bộ máy và phát triển nguồn nhân lực Hệ thống Thi hành án dân sự đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới

Xây dựng, hoàn thiện tổ chức bộ máy và phát triển nguồn nhân lực Hệ thống Thi hành án dân sự đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới

Năm 2026 đánh dấu mốc son đặc biệt trong lịch sử hình thành và phát triển của Hệ thống Thi hành án dân sự (THADS) - 80 năm Ngày truyền thống THADS (19/7/1946 - 19/7/2026), ghi nhận những đóng góp quan trọng của Hệ thống THADS trong bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần giữ vững trật tự, kỷ cương pháp luật và củng cố niềm tin của Nhân dân vào công lý. Trong suốt quá trình phát triển đó, tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ, công chức đóng vai trò xương sống, mang tính quyết định đối với hiệu quả công tác THADS. Một bộ máy được tổ chức hợp lý, vận hành thông suốt cùng đội ngũ công chức có trình độ chuyên môn, năng lực thực thi và trách nhiệm nghề nghiệp cao không chỉ bảo đảm việc tổ chức thi hành bản án, quyết định của Tòa án đúng pháp luật, mà còn nâng cao chất lượng quản trị, tăng cường trách nhiệm giải trình và khả năng đáp ứng yêu cầu thực tiễn.
Vai trò và đóng góp của đoàn thanh niên trong Hệ thống Thi hành án dân sự qua 80 năm xây dựng và phát triển

Vai trò và đóng góp của đoàn thanh niên trong Hệ thống Thi hành án dân sự qua 80 năm xây dựng và phát triển

Hệ thống Thi hành án dân sự (THADS) bước vào cột mốc lịch sử đặc biệt ý nghĩa: Kỷ niệm 80 năm Ngày Truyền thống (19/7/1946 - 19/7/2026). Trải qua 80 năm, cùng những thăng trầm và vinh quang của đất nước, Hệ thống THADS không ngừng lớn mạnh, khẳng định vai trò trọng yếu trong bảo vệ tính nghiêm minh của pháp luật, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của Nhà nước, người dân và doanh nghiệp. Trong chặng đường vẻ vang đó, những thành tựu của Hệ thống THADS không chỉ được kiến tạo bởi bộ máy quản lý, chuyên môn, mà còn mang dấu ấn đậm nét, sự cống hiến to lớn và tinh thần dấn thân của tuổi trẻ, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh.
Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực thi hành án dân sự - Dấu ấn hội nhập trong hành trình 80 năm phát triển

Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực thi hành án dân sự - Dấu ấn hội nhập trong hành trình 80 năm phát triển

Trải qua 80 năm xây dựng và phát triển dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, lĩnh vực thi hành án dân sự (THADS) đã khẳng định vai trò là mắt xích trọng yếu trong hệ thống tư pháp, bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật. Trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng, công tác THADS không còn giới hạn trong phạm vi biên giới quốc gia. Hội nhập và hợp tác quốc tế thúc đẩy quan hệhợp tác giữa Việt Nam, các cơ quan tư pháp Việt Nam với các cơ quan pháp luật và tư pháp các quốc gia và các tổ chức quốc tế trong lĩnh vực pháp luật và tư pháp, góp phần tăng cường hiểu biết, trao đổi kiến thức, kinh nghiệm và giải quyết các vụ việc cụ thể, cũng như kinh nghiệm giải quyết những vấn đề khó khăn, vướng mắc và hoàn thiện thể chế chính sách, pháp luật. Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực THADS đã trở thành yêu cầu khách quan, một bộ phận cấu thành quan trọng trong chiến lược cải cách tư pháp, góp phần bảo đảm pháp luật THADS Việt Nam tiệm cận với chuẩn mực thế giới và nâng cao uy tín của nền tư pháp Việt Nam trên trường quốc tế.
Công tác xây dựng Đảng trong Hệ thống Thi hành án dân sự: Tăng cường sự lãnh đạo của đảng đối với công tác thi hành án dân sự, thi hành án hành chính

Công tác xây dựng Đảng trong Hệ thống Thi hành án dân sự: Tăng cường sự lãnh đạo của đảng đối với công tác thi hành án dân sự, thi hành án hành chính

Thi hành án dân sự (THADS) và thi hành án hành chính (THAHC) là mắt xích trọng yếu, bảo đảm cho quyền lực tư pháp được hiện thực hóa trong đời sống kinh tế - xã hội, giữ vững sự tôn nghiêm của pháp luật và củng cố niềm tin của Nhân dân vào chế độ. Trong bối cảnh toàn Đảng, toàn dân đẩy mạnh xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam theo tinh thần Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nghị quyết số 27-NQ/TW[1], Nghị quyết số 66-NQ/TW[2] đặt ra yêu cầu định vị lại tầm vóc và phương thức lãnh đạo của Đảng đối với công tác THADS, THAHC. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng là yêu cầu tất yếu nhằm bảo đảm Hệ thống THADS, THAHC luôn đi đúng định hướng chính trị, vận hành liêm chính, tinh, gọn, hiệu lực, hiệu quả, đóng góp trực tiếp vào công cuộc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.
Công tác đào tạo, bồi dưỡng các chức danh thi hành án dân sự - Kết quả và định hướng xây dựng, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao

Công tác đào tạo, bồi dưỡng các chức danh thi hành án dân sự - Kết quả và định hướng xây dựng, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao

Yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật nói chung và đội ngũ công chức thi hành án dân sự (THADS) nói riêng đang trở thành nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trong bối cảnh hoạt động THADS ngày càng chịu áp lực lớn về số lượng việc, giá trị tài sản phải thi hành và tính chất phức tạp của các vụ việc, đồng thời, quá trình chuyển đổi số, cải cách thủ tục hành chính, tinh, gọn tổ chức bộ máy đặt ra những đòi hỏi mới đối với năng lực chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, bản lĩnh chính trị và khả năng thích ứng của đội ngũ công chức THADS.
80 năm đồng hành cùng sự phát triển của ngành Thi hành án dân sự: Dấu ấn của nghiên cứu khoa học và những định hướng cho giai đoạn mới

80 năm đồng hành cùng sự phát triển của ngành Thi hành án dân sự: Dấu ấn của nghiên cứu khoa học và những định hướng cho giai đoạn mới

Trong chặng đường 80 năm xây dựng và phát triển Hệ thống Thi hành án dân sự (19/7/1946 - 19/7/2026), nghiên cứu khoa học là “bộ phận hữu cơ” của quá trình xây dựng thể chế, hoàn thiện tổ chức bộ máy và nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực thi công vụ. Từ những nghiên cứu đầu tiên về mô hình quản lý thống nhất công tác thi hành án đến các công trình nghiên cứu chiến lược về Nhà nước pháp quyền, chuyển đổi số, bảo vệ quyền tài sản, thu hồi tài sản tham nhũng và hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự, hoàn thiện thể chế về quyền tài sản đều có dấu ấn của hoạt động nghiên cứu khoa học. Hoạt động nghiên cứu khoa học góp phần quan trọng hình thành nền tảng lý luận, cung cấp luận cứ khoa học cho hoạch định chính sách và tổ chức thực hiện nhiệm vụ của hệ thống. Nhân dịp kỷ niệm 80 năm Ngày Truyền thống Thi hành án dân sự, nghiên cứu phân tích những dấu ấn nổi bật của hoạt động nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực này và đánh giá những đóng góp đối với sự phát triển của hệ thống và đề xuất các định hướng nghiên cứu trong giai đoạn mới.
Phát huy vai trò của cả hệ thống chính trị - Nhân tố quyết định thành công của công tác thi hành án dân sự, thi hành án hành chính

Phát huy vai trò của cả hệ thống chính trị - Nhân tố quyết định thành công của công tác thi hành án dân sự, thi hành án hành chính

Thi hành án dân sự (THADS) là khâu cuối cùng của quá trình tố tụng, giữ vai trò hiện thực hóa các bản án, quyết định của Tòa án trên thực tế, qua đó, bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức và cá nhân. Hiệu quả công tác THADS, thi hành án hành chính (THAHC) không chỉ phản ánh chất lượng hoạt động tư pháp mà còn là thước đo hiệu lực, hiệu quả của Nhà nước pháp quyền.

Theo dõi chúng tôi trên: