Thứ bảy 08/08/2026 12:27
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.

Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới (Nghị quyết số 66-NQ/TW) đã xác định rõ yêu cầu “bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng trong công tác xây dựng pháp luật và tổ chức thi hành pháp luật”; đồng thời, nhấn mạnh nhiệm vụ kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lợi ích nhóm, trục lợi chính sách. Điều này đòi hỏi công tác xây dựng Đảng trong Bộ Tư pháp phải tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, trở thành trụ cột trong việc định hướng, điều hành các lĩnh vực chuyên môn, đóng góp thiết thực cho việc nâng cao năng lực lãnh đạo, hiệu quả quản lý nhà nước và xây dựng nền tư pháp hiện đại, minh bạch, vì Nhân dân phục vụ.

1. Thành tựu đạt được trong công tác xây dựng Đảng của Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025

1.1. Vai trò lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của công tác xây dựng Đảng trong thực hiện nhiệm vụ chính trị

Trong giai đoạn 2015 - 2025, Đảng ủy Bộ Tư pháp đã xác lập và vận hành mô hình lãnh đạo toàn diện, xuyên suốt theo nguyên tắc tập trung dân chủ, tạo sự gắn kết chặt chẽ giữa công tác xây dựng Đảng và các hoạt động chuyên môn trọng yếu của Bộ. Đảng ủy Bộ đã ban hành nhiều nghị quyết, chương trình hành động, kế hoạch công tác sát thực tiễn từng giai đoạn, bảo đảm đồng bộ giữa định hướng chính trị và chiến lược chuyên môn. Các tổ chức đảng trực thuộc đã cụ thể hóa các chủ trương, phù hợp với đặc thù công tác xây dựng, thi hành pháp luật và cải cách tư pháp.

Cơ chế phối hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa Đảng ủy, Ban Cán sự Đảng và Lãnh đạo Bộ được củng cố thông qua các quy chế phối hợp rõ ràng về chức năng, nhiệm vụ, tránh chồng chéo, mâu thuẫn giữa tổ chức đảng và lãnh đạo chuyên môn. Nhờ đó, chủ trương của Đảng được triển khai sâu rộng và thấm sâu vào mọi quy trình xây dựng pháp luật, thi hành pháp luật, thi hành án dân sự, thi hành án hành chính cùng các hoạt động bổ trợ và hành chính tư pháp.

Đặc biệt, từ năm 2025, Nghị quyết số 66-NQ/TW đã khẳng định vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng trong công tác xây dựng và thi hành pháp luật; đồng thời, nhấn mạnh việc kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lợi ích nhóm và trục lợi chính sách. Đây là cơ sở lý luận và hành động quan trọng để Đảng ủy Bộ Tư pháp tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo công tác thể chế và thi hành pháp luật trong giai đoạn mới.

1.2. Kết quả nổi bật trong công tác xây dựng Đảng và lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị

Giai đoạn 2015 - 2025 đánh dấu bước phát triển mạnh mẽ, toàn diện trong công tác xây dựng Đảng của Đảng bộ Bộ Tư pháp, đồng thời, thể hiện rõ vai trò trung tâm, nòng cốt của Đảng trong lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị của Bộ, ngành Tư pháp.

Một là, đổi mới phương thức lãnh đạo và nâng cao vai trò hạt nhân chính trị: Đảng ủy Bộ Tư pháp không ngừng đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo, nâng cao tính chủ động, khoa học và thực tiễn, bảo đảm các nghị quyết, chỉ thị Trung ương và cấp trên được quán triệt đồng bộ, gắn kết chặt chẽ với nhiệm vụ chính trị của Bộ. Các quy chế phối hợp giữa Đảng ủy, Ban Cán sự Đảng và Lãnh đạo Bộ được thực hiện nghiêm túc, tạo sự đồng thuận, thống nhất trong chỉ đạo và điều hành, bảo đảm nguyên tắc “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ”.

Hai là, lãnh đạo xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật đồng bộ, hiện đại: Bộ Tư pháp chủ trì và phối hợp tham mưu xây dựng, trình Quốc hội, Chính phủ nhiều dự án luật, pháp lệnh, nghị quyết quan trọng, kịp thời thể chế hóa các chủ trương lớn của Đảng như đổi mới mô hình tăng trưởng, cải cách tư pháp, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ quyền con người theo Hiến pháp năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2025). Công tác thẩm định, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật được thực hiện bài bản, tăng cường chất lượng và tính khả thi, góp phần loại bỏ mâu thuẫn, chồng chéo trong hệ thống pháp luật.

Ba là, đột phá trong cải cách tư pháp và thi hành án dân sự: các chương trình, đề án cải cách tư pháp được tập trung triển khai hiệu quả, nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trong thi hành án dân sự, hành chính, bổ trợ tư pháp và hành chính tư pháp. Tỷ lệ thi hành án dân sự về việc và tiền liên tục vượt chỉ tiêu Quốc hội giao, nhiều vụ việc phức tạp, kéo dài được xử lý hiệu quả. Hệ thống thi hành án được củng cố theo hướng chính quy, hiện đại, tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính. Trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, thủ tục hành chính được đơn giản hóa, phương thức quản lý nhà nước đối với các nghề luật sư, công chứng, giám định tư pháp, đấu giá tài sản được đổi mới, tạo môi trường pháp lý chuyên nghiệp, cạnh tranh và công bằng.

Bốn là, xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu mới: công tác tổ chức, cán bộ được xác định là nhiệm vụ trọng tâm, thực hiện đồng bộ các giải pháp về quy hoạch, tuyển dụng, bổ nhiệm, đào tạo, luân chuyển cán bộ theo hướng minh bạch, công khai và đúng quy định. Nhiều lớp đào tạo, bồi dưỡng được tổ chức nâng cao trình độ lý luận chính trị, chuyên môn nghiệp vụ, đạo đức công vụ, kỹ năng quản trị hiện đại, đặc biệt, gắn kết chặt chẽ với chuyển đổi số và hội nhập quốc tế.

Năm là, đẩy mạnh chuyển đổi số và ứng dụng công nghệ thông tin: Bộ Tư pháp tiên phong ứng dụng công nghệ số trong công tác chuyên môn và xây dựng Đảng, triển khai nhiều nền tảng số như hệ thống quản lý công việc, văn bản điện tử, họp trực tuyến, thi hành án điện tử, chứng thực điện tử, lý lịch tư pháp trực tuyến, đăng ký hộ tịch điện tử… Việc chuyển đổi số đã tạo bước chuyển căn bản trong phương thức điều hành, quản lý và phục vụ người dân, doanh nghiệp, đồng thời, nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ chức đảng.

Sáu là, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, giữ vững kỷ luật Đảng: công tác kiểm tra, giám sát được triển khai chặt chẽ, có trọng tâm, trọng điểm, góp phần phát hiện và phòng ngừa sai phạm, giữ vững kỷ luật, kỷ cương Đảng. Các kết luận kiểm tra được thực hiện nghiêm túc, có tác dụng cảnh tỉnh, răn đe và giáo dục sâu sắc.

Bảy là, phát huy dân chủ, đoàn kết nội bộ và xây dựng văn hóa công vụ: công tác dân vận, xây dựng văn hóa công vụ, phát huy vai trò các tổ chức đoàn thể được quan tâm đặc biệt, góp phần nâng cao tinh thần trách nhiệm, thái độ phục vụ của cán bộ, đảng viên. Nội bộ được duy trì dân chủ, cởi mở, đoàn kết, tôn trọng nguyên tắc, khuyến khích đổi mới sáng tạo và đề cao kỷ luật, kỷ cương. Sai phạm, tiêu cực được xử lý nghiêm, củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và quần chúng.

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030
Ảnh do Văn phòng Đảng ủy Bộ Tư pháp cung cấp.

Tám là, tăng cường hoạt động đối ngoại, nghiên cứu khoa học pháp lý và truyền thông: các hoạt động hợp tác quốc tế, nghiên cứu khoa học pháp lý và truyền thông, phổ biến, giáo dục pháp luật được đẩy mạnh, góp phần nâng cao vị thế pháp lý quốc gia, hỗ trợ hiệu quả quá trình xây dựng chính sách, pháp luật trong nước.

Như vậy, Đảng ủy Bộ Tư pháp đã phát huy tốt vai trò là hạt nhân chính trị, trung tâm đoàn kết, quy tụ trí tuệ, thống nhất hành động trong toàn hệ thống. Sự phối hợp nhịp nhàng, hiệu quả giữa các cấp ủy Đảng với Ban Cán sự đảng, Ban Thường vụ Đảng ủy và Lãnh đạo Bộ đã tạo thành một thể thống nhất trong chỉ đạo và tổ chức thực hiện, làm nên sức mạnh tổng hợp, đưa ngành Tư pháp phát triển ổn định, bền vững, thích ứng với những yêu cầu mới của đất nước.

2. Nhận diện một số hạn chế, nguyên nhân và bài học kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn

2.1. Một shạn chế và nguyên nhân

Bên cạnh những thành tựu quan trọng, công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025 còn tồn tại một số hạn chế như: (i) việc cụ thể hóa và tổ chức thực hiện một số nghị quyết, chỉ thị của Trung ương và cấp ủy cấp trên tại một số đơn vị chưa sâu sát, thiếu gắn kết với đặc thù nhiệm vụ chính trị; tính chủ động và sáng tạo trong lãnh đạo, sinh hoạt Đảng chưa đồng đều giữa các tổ chức cơ sở; (ii) công tác tham mưu xây dựng, hoàn thiện thể chế tuy đạt kết quả nhưng vẫn còn hiện tượng chồng chéo, thiếu đồng bộ và chưa thực sự khả thi ở một số nội dung; (iii) sinh hoạt chi bộ tại một số cơ sở còn mang tính hình thức, chưa đổi mới nội dung và phương pháp, chưa phát huy đầy đủ vai trò, trách nhiệm của đảng viên trong công tác Đảng và chuyên môn; (iv) công tác kiểm tra, giám sát, đặc biệt, tự kiểm tra nội bộ ở một số đơn vị chưa thường xuyên và quyết liệt, chưa phát huy hiệu quả trong việc cảnh báo, phòng ngừa vi phạm và điều chỉnh các biểu hiện lệch lạc về chính trị, đạo đức và kỷ luật.

Nguyên nhân của những hạn chế, tồn tại: (i) do áp lực khối lượng công việc lớn, tính chất phức tạp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế trong bối cảnh chuyển đổi mô hình tăng trưởng, hội nhập sâu, rộng; nguồn lực (nhân lực, tài chính, công nghệ) còn hạn chế trong khi yêu cầu của xã hội ngày càng cao về chất lượng quản trị nhà nước và dịch vụ pháp lý; (ii) do một số cấp ủy, người đứng đầu chưa nhận thức đầy đủ vai trò chiến lược của công tác xây dựng Đảng, còn tồn tại sự tách rời giữa công tác Đảng và chuyên môn; chưa đồng đều trong nắm bắt xu thế, vận dụng tư duy pháp lý hiện đại và đổi mới phương thức quản lý; thiếu cơ chế kiểm tra, giám sát định lượng, có hệ thống để đánh giá hiệu quả công tác xây dựng Đảng và chính sách, pháp luật.

2.2. Bài học kinh nghiệm

Kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn lãnh đạo, chỉ đạo công tác xây dựng Đảng trong Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: (i) phát huy vai trò hạt nhân chính trị, lãnh đạo toàn diện của Đảng. Đảng ủy Bộ Tư pháp giữ vị trí trung tâm, là hạt nhân chính trị định hướng cho toàn bộ hoạt động của Bộ, ngành. Công tác xây dựng Đảng không chỉ là nhiệm vụ riêng lẻ mà là nền tảng dẫn dắt mọi hoạt động chuyên môn, bảo đảm sự thống nhất về đường lối chính trị và hiệu lực quản lý; (ii) gắn kết chặt chẽ công tác xây dựng Đảng với nhiệm vụ chính trị: công tác Đảng phải gắn liền mật thiết với nhiệm vụ chính trị, không tách rời hoặc hình thức. Hiệu quả thực hiện nhiệm vụ pháp lý phụ thuộc trực tiếp vào chất lượng lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức Đảng tại các đơn vị. Việc đồng bộ, lồng ghép công tác Đảng với chuyên môn, đặc biệt, trong các lĩnh vực trọng yếu như xây dựng thể chế, cải cách hành chính - tư pháp, chuyển đổi số và hội nhập quốc tế là kinh nghiệm quý giá, giúp ngành Tư pháp chủ động, sáng tạo trong tham mưu, tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật; (iii) đổi mới phương thức lãnh đạo, tổ chức và sinh hoạt Đảng: nhiệm vụ ngày càng chuyên sâu đòi hỏi đổi mới sinh hoạt chi bộ, tổ chức Đảng theo hướng thiết thực, phù hợp với chức năng quản lý pháp luật; (iv) xây dựng đội ngũ đảng viên có phẩm chất, năng lực toàn diện; (v) tăng cường kiểm tra, giám sát, đánh giá hiệu quả công tác xây dựng Đảng: cần phát triển cơ chế đánh giá định lượng hiệu quả việc thực thi nghị quyết, mức độ hoàn thành nhiệm vụ gắn với vai trò lãnh đạo của cấp ủy. Hệ thống chỉ tiêu, tiêu chí khách quan sẽ giúp phân loại tổ chức Đảng, đảng viên công bằng, tạo động lực phát triển thực chất; (vi) đẩy mạnh chuyển đổi số trong công tác xây dựng Đảng: cần xây dựng hệ sinh thái số gồm quản lý hồ sơ đảng viên điện tử, học tập lý luận trực tuyến, sinh hoạt chi bộ số và ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong phân tích, giám sát tư tưởng, cảnh báo sớm “tự diễn biến, tự chuyển hóa”. Đây là công cụ phòng ngừa hiệu quả, góp phần xây dựng tổ chức Đảng trong sạch, vững mạnh.

3. Một số định hướng phát huy vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng ủy Bộ Tư pháp trong thực hiện nhiệm vụ chính trị

Trước yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và cải cách tư pháp, Đảng ủy Bộ Tư pháp cần phát huy mạnh mẽ vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp đối với các lĩnh vực công tác trọng tâm của Bộ. Trên cơ sở tổng kết thành tựu, phân tích bối cảnh, bài học kinh nghiệm và các yêu cầu mới đặt ra, cần tập trung triển khai một số định hướng chiến lược, có tính đột phá trong trước mắt và lâu dài như sau:

Một là, tăng cường lãnh đạo toàn diện công tác xây dựng và hoàn thiện thể chế, pháp luật.

Đảng ủy Bộ cần xác định rõ vai trò trung tâm, dẫn dắt trong công tác lập pháp - thể chế, thể hiện qua việc: (i) chủ động xây dựng, định hướng chương trình lập pháp gắn với các mục tiêu phát triển đất nước, bảo đảm đồng bộ giữa xây dựng pháp luật với tổ chức thi hành pháp luật. Tập trung hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, pháp luật phục vụ hội nhập quốc tế và chuyển đổi số; (ii) tiếp tục đổi mới hoàn thiện quy trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật theo hướng khoa học, linh hoạt, có sự tham vấn đa chiều, đánh giá tác động đầy đủ, đặc biệt, có tính khả thi trong thực tiễn; (iii) tăng cường kiểm tra, giám sát quá trình thẩm định, hệ thống hóa văn bản pháp luật, kịp thời phát hiện, xử lý mâu thuẫn, chồng chéo, bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp và thống nhất của hệ thống pháp luật; (iv) thể hiện rõ vai trò lãnh đạo thống nhất của Đảng trong xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật, tránh tình trạng “luật tốt nhưng không thi hành được”, cần gắn kết hai khâu này trong cùng một chuỗi kiểm tra, giám sát liên thông.

Hai là, đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo trong tổ chức thi hành pháp luật và cải cách tư pháp.

Thực hiện chủ trương “đẩy mạnh cải cách tư pháp là khâu đột phá trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa”, Đảng ủy Bộ Tư pháp cần: (i) lãnh đạo hoàn thiện thể chế thi hành pháp luật, tập trung vào thi hành án dân sự, bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp và các lĩnh vực liên ngành; (ii) nâng cao năng lực dự báo, phân tích thực tiễn trong thi hành pháp luật để chủ động đề xuất sửa đổi, hoàn thiện pháp luật kịp thời, sát với yêu cầu cuộc sống; (iii) phát huy vai trò người đứng đầu, thực hiện nghiêm kỷ luật, kỷ cương, siết chặt công tác kiểm tra, giám sát nội bộ, xử lý nghiêm sai phạm, tiêu cực phát sinh trong lĩnh vực nhạy cảm, dễ bị lợi dụng; (iv) đưa cải cách tư pháp đi vào chiều sâu, lấy hiệu quả thực tế và niềm tin xã hội làm thước đo thành công của hoạt động lãnh đạo.

Ba là, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên ngang tầm nhiệm vụ chính trị.

Con người là nhân tố quyết định, vì vậy, cần: (i) xây dựng chiến lược quy hoạch, đào tạo cán bộ dài hạn, trọng tâm là cán bộ làm công tác pháp luật, tư pháp, thi hành án; (ii) tăng cường giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức công vụ, rèn luyện bản lĩnh, lòng trung thành với Tổ quốc và Nhân dân. Đề cao vai trò nêu gương của người đứng đầu, lấy “tự soi, tự sửa” làm phương pháp giáo dục hiệu quả; (iii) đổi mới công tác đánh giá, bổ nhiệm cán bộ theo hướng công khai, minh bạch, lấy kết quả công tác và uy tín thực tiễn làm tiêu chí trung tâm. Thực hiện đánh giá đa chiều, phản hồi từ tổ chức, đồng nghiệp và người dân.

Bốn là, gắn chặt công tác xây dựng Đảng với thực hiện nhiệm vụ chuyên môn.

Chi bộ - “hạt nhân chính trị cơ sở”, nơi kết nối trực tiếp giữa công tác Đảng và nhiệm vụ chuyên môn cần: (i) đổi mới nội dung, phương thức sinh hoạt chi bộ, tập trung vào những vấn đề thiết thực gắn với nhiệm vụ cụ thể, gắn nghị quyết với hành động; (ii) tổ chức học tập nghị quyết của Đảng nghiêm túc, sáng tạo, gắn lý luận với thực tiễn công việc; đổi mới hình thức quán triệt, tạo sự chuyển biến rõ ràng trong tư duy và hành động của cán bộ, đảng viên; (iii) thực hiện kiểm tra, giám sát thường xuyên, đặc biệt, trong các lĩnh vực dễ phát sinh vi phạm. Phát huy vai trò phản biện xã hội của tổ chức Đảng đối với hoạt động chuyên môn, tạo động lực để các đơn vị đổi mới, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.

Năm là, đẩy mạnh chuyển đổi số, hiện đại hóa hoạt động lãnh đạo và quản lý ngành Tư pháp.

Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và yêu cầu hiện đại hóa bộ máy, Đảng ủy Bộ cần: (i) triển khai nền tảng quản trị số toàn diện, tích hợp công nghệ thông tin vào quy trình xây dựng, thẩm định, ban hành, giám sát pháp luật. Đẩy mạnh số hóa hồ sơ pháp lý, dịch vụ công trực tuyến mức độ cao; (ii) phát triển cơ sở dữ liệu pháp luật quốc gia, hệ thống pháp lý số, ứng dụng công nghệ trí tuệ nhân tạo vào công tác tư vấn, hỗ trợ pháp luật; (iii) giám sát tiến độ chuyển đổi số bằng tổ chức Đảng, lồng ghép nội dung chuyển đổi số vào công tác kiểm tra, đánh giá thi đua - khen thưởng. Gắn trách nhiệm người đứng đầu với kết quả ứng dụng công nghệ thông tin và hiện đại hóa quản trị; (iv) đào tạo, nâng cao năng lực số cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, từ tư duy dữ liệu đến bảo mật, vận hành nền tảng số, bảo đảm ngành Tư pháp vận hành hiệu quả trong môi trường số hóa toàn diện.

Tư tưởng chủ đạo: “Lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định thành công của công cuộc xây dựng pháp luật, thi hành pháp luật và cải cách tư pháp”, “Chi bộ mạnh - chuyên môn tốt, tổ chức Đảng đổi mới - ngành Tư pháp phát triển bền vững”; “Chuyển đổi số không chỉ là xu thế, mà là nhiệm vụ chính trị, thể hiện rõ vai trò lãnh đạo chiến lược của Đảng trong thời đại mới”.

Phát huy vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng ủy Bộ Tư pháp là nhân tố quyết định thành công trong công cuộc xây dựng, hoàn thiện pháp luật và cải cách tư pháp. Thông qua việc đổi mới phương thức lãnh đạo, nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ, gắn kết chặt chẽ công tác Đảng với nhiệm vụ chuyên môn; đồng thời, chủ động ứng dụng chuyển đổi số và hiện đại hóa quản lý, ngành Tư pháp sẽ không ngừng nâng cao hiệu lực, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân. Đây là sứ mệnh chính trị trọng đại, vừa thách thức vừa cơ hội để Bộ Tư pháp khẳng định vai trò “then chốt” trong hệ thống chính trị, góp phần xây dựng đất nước phát triển bền vững và công bằng xã hội./.

TS. Nguyễn Quang Thái

Phó Bí thư Đảng ủy Bộ Tư pháp

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật ấn phẩm đặc biệt “Ngành Tư pháp - Tự hào truyền thống, vững bước tương lai”)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh ngân hàng số phát triển, thông tin chưa được kiểm chứng có thể tác động nhanh đến tâm lý và hành vi của người gửi tiền. Nghiên cứu phân tích quy định pháp luật và thực tiễn phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hoạt động này chưa chú trọng đầy đủ đến mức độ hiểu và khả năng vận dụng pháp luật của người gửi tiền; nội dung còn thiên về tính chuyên môn; phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật và cơ chế cung cấp thông tin kịp thời còn hạn chế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá, tích hợp thông tin pháp luật ngắn gọn vào dịch vụ ngân hàng số và tăng cường cung cấp thông tin chính thức, kịp thời nhằm bảo vệ người gửi tiền và củng cố niềm tin vào hệ thống ngân hàng.
Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Quyền con người phản ánh sự kết tinh những giá trị nhân phẩm cao quý của nhân loại. Nghiên cứu công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người là phân tích, đánh giá phương thức thể chế hóa các chủ trương của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời, đề xuất giải pháp khắc phục những hạn chế của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 trước thách thức mới từ công nghệ số. Trên cơ sở tổng hợp và so sánh luật học, nghiên cứu phân tích, đánh giá vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người và thực trạng thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012. Đồng thời, nghiên cứu đánh giá tính phù hợp, khả thi của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Từ đó, kiến nghị và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 quy định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy mà không tự nguyện cai nghiện. Mặc dù không được xem là biện pháp xử lý hành chính nhưng biện pháp này mang tính cách ly người bị áp dụng khỏi cộng đồng. Để bảo vệ quyền của người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, pháp luật cho phép các chủ thể liên quan khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định quyền khởi kiện hay kháng cáo đối với quyết định này. Nghiên cứu phân tích bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, đồng thời, đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng biện pháp này.
Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã xác định rõ trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách tư pháp và chuyển đổi số quốc gia, vai trò này ngày càng trở nên quan trọng. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý, thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Tòa án nhân dân; trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động này trong hệ thống Tòa án nhân dân.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Sự phát triển của nền tảng số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang làm thay đổi phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật, đồng thời, đặt ra nhiều thách thức trong kiểm soát thông tin pháp luật trên môi trường số. Bên cạnh việc mở rộng khả năng tiếp cận pháp luật của người dân, tình trạng lan truyền thông tin pháp luật sai lệch, thiếu kiểm chứng hoặc được tạo sinh bởi hệ thống trí tuệ nhân tạo đang ảnh hưởng đến hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật và quyền tiếp cận thông tin pháp luật chính xác. Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam, nghiên cứu phân tích bất cập trong kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm chính xác của thông tin pháp luật trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

(Cập nhật bởi LuatVietnam.vn)
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Tóm tắt: Mô hình chính quyền địa phương hai cấp được triển khai ở Việt Nam từ ngày 01/7/2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quá trình đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, tăng cường phân quyền, phân cấp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị địa phương. Nghiên cứu phân tích các cơ hội và thách thức trong quá trình triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam, làm rõ những vấn đề đặt ra trong hoàn thiện thể chế, bảo đảm nguồn lực và nâng cao năng lực quản trị địa phương, từ đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam thời gian tới.
Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ và Nhân dân. Tuy nhiên, trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số và hoàn thiện thể chế theo chủ trương, định hướng của Đảng, nhiều quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 bộc lộ những hạn chế, bất cập. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, tổng kết thực tiễn thi hành và bối cảnh phát triển đất nước giai đoạn mới, nghiên cứu làm rõ những bất cập về tổ chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật, đối tượng đặc thù, nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật và sự không thống nhất của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 với một số luật liên quan. Từ đó, kiến nghị sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong bối cảnh hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Tóm tắt: Việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 là cấp thiết trước yêu cầu khắc phục tình trạng tuyên truyền thiên về hình thức, chưa gắn chặt với những vấn đề pháp lý mà người dân thực sự cần được hỗ trợ. Nghiên cứu phân tích khoảng cách giữa nguyên tắc phù hợp với nhu cầu và cơ chế nhận diện, phản ánh, đáp ứng, đo lường nhu cầu pháp lý trong dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật[1] (dự thảo Luật). Trên cơ sở phân tích quy phạm, bình luận chính sách và tiếp cận liên ngành về nhu cầu pháp lý, năng lực pháp lý, tiếp cận công lý, nghiên cứu tập trung vào các quy định về nguyên tắc, nội dung, hình thức, hướng dẫn và giải đáp pháp luật, đối tượng đặc thù, giáo dục pháp luật trong cơ sở giáo dục, trách nhiệm tổ chức thực hiện, cơ chế cấp xã, chuyển đổi số và đánh giá hiệu quả. Kết quả nghiên cứu cho thấy, dự thảo Luật đã có nhiều định hướng tích cực nhưng thiếu cơ chế khảo sát nhu cầu, thiết kế nội dung theo tình huống, chuyển tuyến hỗ trợ pháp lý và đánh giá khả năng hiểu, vận dụng pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các cơ chế bảo đảm cách tiếp cận lấy nhu cầu pháp lý của người dân làm trung tâm.
Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh, mạnh mẽ của không gian mạng đang tác động sâu sắc đến đời sống xã hội, đồng thời, đặt ra nhiều rủi ro đối với người chưa thành niên. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật cho nhóm đối tượng này. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết của chuyển đổi số trong phổ biến, giáo dục pháp luật đối với người chưa thành niên; đánh giá thực trạng triển khai tại Việt Nam, chỉ ra những hạn chế, bất cập, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập

Tóm tắt: Pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập là một bộ phận của pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật, có vai trò quan trọng trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trên cơ sở làm rõ khái niệm, đặc trưng và các tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện, nghiên cứu phân tích thực trạng pháp luật hiện hành, chỉ ra những kết quả đạt được và các hạn chế. Từ đó, nghiên cứu đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Nguyên tắc “6 rõ” trong tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Nguyên tắc “6 rõ” trong tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Trong đợt tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật năm 2026 - một nhiệm vụ trọng yếu được triển khai theo Kết luận số 09-KL/TW ngày 10/3/2026 của Bộ Chính trị về hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới - nguyên tắc “6 rõ” đã được xác lập như một chuẩn mực kỹ thuật và quản trị cốt lõi. Nội dung của nguyên tắc này bao gồm: rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ thẩm quyền và rõ kết quả.
Nâng cao nhận thức, chung tay đẩy lùi tội phạm mua bán người

Nâng cao nhận thức, chung tay đẩy lùi tội phạm mua bán người

Ngày 30/7 hằng năm được Đại hội đồng Liên hợp quốc chọn là Ngày Thế giới phòng, chống mua bán người (World Day Against Trafficking in Persons) nhằm nâng cao nhận thức của cộng đồng về những hậu quả nghiêm trọng của tội phạm mua bán người, đồng thời kêu gọi các quốc gia tăng cường hợp tác, triển khai các giải pháp phòng ngừa, đấu tranh và bảo vệ nạn nhân.
"Tầm nhìn mới, tư duy mới, hành động mới" - Động lực xây dựng chính quyền Thủ đô Hà Nội kiến tạo, phục vụ

"Tầm nhìn mới, tư duy mới, hành động mới" - Động lực xây dựng chính quyền Thủ đô Hà Nội kiến tạo, phục vụ

Ngày 23/3/2026, Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội đã ban hành Chỉ thị số 09-CT/TU về nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực thi công vụ; siết chặt kỷ luật, kỷ cương và trách nhiệm của cán bộ, nhất là người đứng đầu trong giai đoạn phát triển mới của Thủ đô Hà Nội (Chỉ thị số 09-CT/TU). Theo đó, Thành phố xác định rõ việc định vị hình ảnh và giá trị cốt lõi của Thủ đô với 09 đặc trưng "Thủ đô văn hiến - kết nối toàn cầu - thanh lịch, hào hoa - phát triển hài hòa - thanh bình, thịnh vượng - chính quyền phục vụ - doanh nghiệp cống hiến - xã hội niềm tin - người dân hạnh phúc", lấy "Văn hiến - bản sắc - sáng tạo" làm trục giá trị xuyên suốt.
Nhiều điểm mới mang tính định hướng đáp ứng yêu cầu nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân

Nhiều điểm mới mang tính định hướng đáp ứng yêu cầu nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân

Để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng gắn với kiểm soát quyền lực nhà nước trong hoạt động giám sát, góp phần hoàn thiện chính sách, pháp luật, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, địa phương, bảo đảm kỷ luật, kỷ cương, nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước, Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2025 được thông qua trên cơ sở kế thừa, bổ sung nhiều quy định mới về nguyên tắc định hướng, chủ thể giám sát, nội dung và quy trình để hoạt động giám sát đạt hiệu quả, chất lượng. Việc gắn kết giữa hoạt động giám sát với việc hoàn thiện chính sách, pháp luật, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, địa phương có tính chất tương hỗ để hoàn thiện hệ thống pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng đất nước trong kỷ nguyên mới.

Theo dõi chúng tôi trên: