Thứ năm 10/09/2026 08:39
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.

Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới (Nghị quyết số 66-NQ/TW) đã xác định rõ yêu cầu “bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng trong công tác xây dựng pháp luật và tổ chức thi hành pháp luật”; đồng thời, nhấn mạnh nhiệm vụ kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lợi ích nhóm, trục lợi chính sách. Điều này đòi hỏi công tác xây dựng Đảng trong Bộ Tư pháp phải tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, trở thành trụ cột trong việc định hướng, điều hành các lĩnh vực chuyên môn, đóng góp thiết thực cho việc nâng cao năng lực lãnh đạo, hiệu quả quản lý nhà nước và xây dựng nền tư pháp hiện đại, minh bạch, vì Nhân dân phục vụ.

1. Thành tựu đạt được trong công tác xây dựng Đảng của Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025

1.1. Vai trò lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của công tác xây dựng Đảng trong thực hiện nhiệm vụ chính trị

Trong giai đoạn 2015 - 2025, Đảng ủy Bộ Tư pháp đã xác lập và vận hành mô hình lãnh đạo toàn diện, xuyên suốt theo nguyên tắc tập trung dân chủ, tạo sự gắn kết chặt chẽ giữa công tác xây dựng Đảng và các hoạt động chuyên môn trọng yếu của Bộ. Đảng ủy Bộ đã ban hành nhiều nghị quyết, chương trình hành động, kế hoạch công tác sát thực tiễn từng giai đoạn, bảo đảm đồng bộ giữa định hướng chính trị và chiến lược chuyên môn. Các tổ chức đảng trực thuộc đã cụ thể hóa các chủ trương, phù hợp với đặc thù công tác xây dựng, thi hành pháp luật và cải cách tư pháp.

Cơ chế phối hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa Đảng ủy, Ban Cán sự Đảng và Lãnh đạo Bộ được củng cố thông qua các quy chế phối hợp rõ ràng về chức năng, nhiệm vụ, tránh chồng chéo, mâu thuẫn giữa tổ chức đảng và lãnh đạo chuyên môn. Nhờ đó, chủ trương của Đảng được triển khai sâu rộng và thấm sâu vào mọi quy trình xây dựng pháp luật, thi hành pháp luật, thi hành án dân sự, thi hành án hành chính cùng các hoạt động bổ trợ và hành chính tư pháp.

Đặc biệt, từ năm 2025, Nghị quyết số 66-NQ/TW đã khẳng định vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng trong công tác xây dựng và thi hành pháp luật; đồng thời, nhấn mạnh việc kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lợi ích nhóm và trục lợi chính sách. Đây là cơ sở lý luận và hành động quan trọng để Đảng ủy Bộ Tư pháp tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo công tác thể chế và thi hành pháp luật trong giai đoạn mới.

1.2. Kết quả nổi bật trong công tác xây dựng Đảng và lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị

Giai đoạn 2015 - 2025 đánh dấu bước phát triển mạnh mẽ, toàn diện trong công tác xây dựng Đảng của Đảng bộ Bộ Tư pháp, đồng thời, thể hiện rõ vai trò trung tâm, nòng cốt của Đảng trong lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị của Bộ, ngành Tư pháp.

Một là, đổi mới phương thức lãnh đạo và nâng cao vai trò hạt nhân chính trị: Đảng ủy Bộ Tư pháp không ngừng đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo, nâng cao tính chủ động, khoa học và thực tiễn, bảo đảm các nghị quyết, chỉ thị Trung ương và cấp trên được quán triệt đồng bộ, gắn kết chặt chẽ với nhiệm vụ chính trị của Bộ. Các quy chế phối hợp giữa Đảng ủy, Ban Cán sự Đảng và Lãnh đạo Bộ được thực hiện nghiêm túc, tạo sự đồng thuận, thống nhất trong chỉ đạo và điều hành, bảo đảm nguyên tắc “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ”.

Hai là, lãnh đạo xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật đồng bộ, hiện đại: Bộ Tư pháp chủ trì và phối hợp tham mưu xây dựng, trình Quốc hội, Chính phủ nhiều dự án luật, pháp lệnh, nghị quyết quan trọng, kịp thời thể chế hóa các chủ trương lớn của Đảng như đổi mới mô hình tăng trưởng, cải cách tư pháp, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ quyền con người theo Hiến pháp năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2025). Công tác thẩm định, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật được thực hiện bài bản, tăng cường chất lượng và tính khả thi, góp phần loại bỏ mâu thuẫn, chồng chéo trong hệ thống pháp luật.

Ba là, đột phá trong cải cách tư pháp và thi hành án dân sự: các chương trình, đề án cải cách tư pháp được tập trung triển khai hiệu quả, nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trong thi hành án dân sự, hành chính, bổ trợ tư pháp và hành chính tư pháp. Tỷ lệ thi hành án dân sự về việc và tiền liên tục vượt chỉ tiêu Quốc hội giao, nhiều vụ việc phức tạp, kéo dài được xử lý hiệu quả. Hệ thống thi hành án được củng cố theo hướng chính quy, hiện đại, tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính. Trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, thủ tục hành chính được đơn giản hóa, phương thức quản lý nhà nước đối với các nghề luật sư, công chứng, giám định tư pháp, đấu giá tài sản được đổi mới, tạo môi trường pháp lý chuyên nghiệp, cạnh tranh và công bằng.

Bốn là, xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu mới: công tác tổ chức, cán bộ được xác định là nhiệm vụ trọng tâm, thực hiện đồng bộ các giải pháp về quy hoạch, tuyển dụng, bổ nhiệm, đào tạo, luân chuyển cán bộ theo hướng minh bạch, công khai và đúng quy định. Nhiều lớp đào tạo, bồi dưỡng được tổ chức nâng cao trình độ lý luận chính trị, chuyên môn nghiệp vụ, đạo đức công vụ, kỹ năng quản trị hiện đại, đặc biệt, gắn kết chặt chẽ với chuyển đổi số và hội nhập quốc tế.

Năm là, đẩy mạnh chuyển đổi số và ứng dụng công nghệ thông tin: Bộ Tư pháp tiên phong ứng dụng công nghệ số trong công tác chuyên môn và xây dựng Đảng, triển khai nhiều nền tảng số như hệ thống quản lý công việc, văn bản điện tử, họp trực tuyến, thi hành án điện tử, chứng thực điện tử, lý lịch tư pháp trực tuyến, đăng ký hộ tịch điện tử… Việc chuyển đổi số đã tạo bước chuyển căn bản trong phương thức điều hành, quản lý và phục vụ người dân, doanh nghiệp, đồng thời, nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ chức đảng.

Sáu là, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, giữ vững kỷ luật Đảng: công tác kiểm tra, giám sát được triển khai chặt chẽ, có trọng tâm, trọng điểm, góp phần phát hiện và phòng ngừa sai phạm, giữ vững kỷ luật, kỷ cương Đảng. Các kết luận kiểm tra được thực hiện nghiêm túc, có tác dụng cảnh tỉnh, răn đe và giáo dục sâu sắc.

Bảy là, phát huy dân chủ, đoàn kết nội bộ và xây dựng văn hóa công vụ: công tác dân vận, xây dựng văn hóa công vụ, phát huy vai trò các tổ chức đoàn thể được quan tâm đặc biệt, góp phần nâng cao tinh thần trách nhiệm, thái độ phục vụ của cán bộ, đảng viên. Nội bộ được duy trì dân chủ, cởi mở, đoàn kết, tôn trọng nguyên tắc, khuyến khích đổi mới sáng tạo và đề cao kỷ luật, kỷ cương. Sai phạm, tiêu cực được xử lý nghiêm, củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và quần chúng.

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030
Ảnh do Văn phòng Đảng ủy Bộ Tư pháp cung cấp.

Tám là, tăng cường hoạt động đối ngoại, nghiên cứu khoa học pháp lý và truyền thông: các hoạt động hợp tác quốc tế, nghiên cứu khoa học pháp lý và truyền thông, phổ biến, giáo dục pháp luật được đẩy mạnh, góp phần nâng cao vị thế pháp lý quốc gia, hỗ trợ hiệu quả quá trình xây dựng chính sách, pháp luật trong nước.

Như vậy, Đảng ủy Bộ Tư pháp đã phát huy tốt vai trò là hạt nhân chính trị, trung tâm đoàn kết, quy tụ trí tuệ, thống nhất hành động trong toàn hệ thống. Sự phối hợp nhịp nhàng, hiệu quả giữa các cấp ủy Đảng với Ban Cán sự đảng, Ban Thường vụ Đảng ủy và Lãnh đạo Bộ đã tạo thành một thể thống nhất trong chỉ đạo và tổ chức thực hiện, làm nên sức mạnh tổng hợp, đưa ngành Tư pháp phát triển ổn định, bền vững, thích ứng với những yêu cầu mới của đất nước.

2. Nhận diện một số hạn chế, nguyên nhân và bài học kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn

2.1. Một shạn chế và nguyên nhân

Bên cạnh những thành tựu quan trọng, công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025 còn tồn tại một số hạn chế như: (i) việc cụ thể hóa và tổ chức thực hiện một số nghị quyết, chỉ thị của Trung ương và cấp ủy cấp trên tại một số đơn vị chưa sâu sát, thiếu gắn kết với đặc thù nhiệm vụ chính trị; tính chủ động và sáng tạo trong lãnh đạo, sinh hoạt Đảng chưa đồng đều giữa các tổ chức cơ sở; (ii) công tác tham mưu xây dựng, hoàn thiện thể chế tuy đạt kết quả nhưng vẫn còn hiện tượng chồng chéo, thiếu đồng bộ và chưa thực sự khả thi ở một số nội dung; (iii) sinh hoạt chi bộ tại một số cơ sở còn mang tính hình thức, chưa đổi mới nội dung và phương pháp, chưa phát huy đầy đủ vai trò, trách nhiệm của đảng viên trong công tác Đảng và chuyên môn; (iv) công tác kiểm tra, giám sát, đặc biệt, tự kiểm tra nội bộ ở một số đơn vị chưa thường xuyên và quyết liệt, chưa phát huy hiệu quả trong việc cảnh báo, phòng ngừa vi phạm và điều chỉnh các biểu hiện lệch lạc về chính trị, đạo đức và kỷ luật.

Nguyên nhân của những hạn chế, tồn tại: (i) do áp lực khối lượng công việc lớn, tính chất phức tạp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế trong bối cảnh chuyển đổi mô hình tăng trưởng, hội nhập sâu, rộng; nguồn lực (nhân lực, tài chính, công nghệ) còn hạn chế trong khi yêu cầu của xã hội ngày càng cao về chất lượng quản trị nhà nước và dịch vụ pháp lý; (ii) do một số cấp ủy, người đứng đầu chưa nhận thức đầy đủ vai trò chiến lược của công tác xây dựng Đảng, còn tồn tại sự tách rời giữa công tác Đảng và chuyên môn; chưa đồng đều trong nắm bắt xu thế, vận dụng tư duy pháp lý hiện đại và đổi mới phương thức quản lý; thiếu cơ chế kiểm tra, giám sát định lượng, có hệ thống để đánh giá hiệu quả công tác xây dựng Đảng và chính sách, pháp luật.

2.2. Bài học kinh nghiệm

Kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn lãnh đạo, chỉ đạo công tác xây dựng Đảng trong Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: (i) phát huy vai trò hạt nhân chính trị, lãnh đạo toàn diện của Đảng. Đảng ủy Bộ Tư pháp giữ vị trí trung tâm, là hạt nhân chính trị định hướng cho toàn bộ hoạt động của Bộ, ngành. Công tác xây dựng Đảng không chỉ là nhiệm vụ riêng lẻ mà là nền tảng dẫn dắt mọi hoạt động chuyên môn, bảo đảm sự thống nhất về đường lối chính trị và hiệu lực quản lý; (ii) gắn kết chặt chẽ công tác xây dựng Đảng với nhiệm vụ chính trị: công tác Đảng phải gắn liền mật thiết với nhiệm vụ chính trị, không tách rời hoặc hình thức. Hiệu quả thực hiện nhiệm vụ pháp lý phụ thuộc trực tiếp vào chất lượng lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức Đảng tại các đơn vị. Việc đồng bộ, lồng ghép công tác Đảng với chuyên môn, đặc biệt, trong các lĩnh vực trọng yếu như xây dựng thể chế, cải cách hành chính - tư pháp, chuyển đổi số và hội nhập quốc tế là kinh nghiệm quý giá, giúp ngành Tư pháp chủ động, sáng tạo trong tham mưu, tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật; (iii) đổi mới phương thức lãnh đạo, tổ chức và sinh hoạt Đảng: nhiệm vụ ngày càng chuyên sâu đòi hỏi đổi mới sinh hoạt chi bộ, tổ chức Đảng theo hướng thiết thực, phù hợp với chức năng quản lý pháp luật; (iv) xây dựng đội ngũ đảng viên có phẩm chất, năng lực toàn diện; (v) tăng cường kiểm tra, giám sát, đánh giá hiệu quả công tác xây dựng Đảng: cần phát triển cơ chế đánh giá định lượng hiệu quả việc thực thi nghị quyết, mức độ hoàn thành nhiệm vụ gắn với vai trò lãnh đạo của cấp ủy. Hệ thống chỉ tiêu, tiêu chí khách quan sẽ giúp phân loại tổ chức Đảng, đảng viên công bằng, tạo động lực phát triển thực chất; (vi) đẩy mạnh chuyển đổi số trong công tác xây dựng Đảng: cần xây dựng hệ sinh thái số gồm quản lý hồ sơ đảng viên điện tử, học tập lý luận trực tuyến, sinh hoạt chi bộ số và ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong phân tích, giám sát tư tưởng, cảnh báo sớm “tự diễn biến, tự chuyển hóa”. Đây là công cụ phòng ngừa hiệu quả, góp phần xây dựng tổ chức Đảng trong sạch, vững mạnh.

3. Một số định hướng phát huy vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng ủy Bộ Tư pháp trong thực hiện nhiệm vụ chính trị

Trước yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và cải cách tư pháp, Đảng ủy Bộ Tư pháp cần phát huy mạnh mẽ vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp đối với các lĩnh vực công tác trọng tâm của Bộ. Trên cơ sở tổng kết thành tựu, phân tích bối cảnh, bài học kinh nghiệm và các yêu cầu mới đặt ra, cần tập trung triển khai một số định hướng chiến lược, có tính đột phá trong trước mắt và lâu dài như sau:

Một là, tăng cường lãnh đạo toàn diện công tác xây dựng và hoàn thiện thể chế, pháp luật.

Đảng ủy Bộ cần xác định rõ vai trò trung tâm, dẫn dắt trong công tác lập pháp - thể chế, thể hiện qua việc: (i) chủ động xây dựng, định hướng chương trình lập pháp gắn với các mục tiêu phát triển đất nước, bảo đảm đồng bộ giữa xây dựng pháp luật với tổ chức thi hành pháp luật. Tập trung hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, pháp luật phục vụ hội nhập quốc tế và chuyển đổi số; (ii) tiếp tục đổi mới hoàn thiện quy trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật theo hướng khoa học, linh hoạt, có sự tham vấn đa chiều, đánh giá tác động đầy đủ, đặc biệt, có tính khả thi trong thực tiễn; (iii) tăng cường kiểm tra, giám sát quá trình thẩm định, hệ thống hóa văn bản pháp luật, kịp thời phát hiện, xử lý mâu thuẫn, chồng chéo, bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp và thống nhất của hệ thống pháp luật; (iv) thể hiện rõ vai trò lãnh đạo thống nhất của Đảng trong xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật, tránh tình trạng “luật tốt nhưng không thi hành được”, cần gắn kết hai khâu này trong cùng một chuỗi kiểm tra, giám sát liên thông.

Hai là, đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo trong tổ chức thi hành pháp luật và cải cách tư pháp.

Thực hiện chủ trương “đẩy mạnh cải cách tư pháp là khâu đột phá trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa”, Đảng ủy Bộ Tư pháp cần: (i) lãnh đạo hoàn thiện thể chế thi hành pháp luật, tập trung vào thi hành án dân sự, bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp và các lĩnh vực liên ngành; (ii) nâng cao năng lực dự báo, phân tích thực tiễn trong thi hành pháp luật để chủ động đề xuất sửa đổi, hoàn thiện pháp luật kịp thời, sát với yêu cầu cuộc sống; (iii) phát huy vai trò người đứng đầu, thực hiện nghiêm kỷ luật, kỷ cương, siết chặt công tác kiểm tra, giám sát nội bộ, xử lý nghiêm sai phạm, tiêu cực phát sinh trong lĩnh vực nhạy cảm, dễ bị lợi dụng; (iv) đưa cải cách tư pháp đi vào chiều sâu, lấy hiệu quả thực tế và niềm tin xã hội làm thước đo thành công của hoạt động lãnh đạo.

Ba là, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên ngang tầm nhiệm vụ chính trị.

Con người là nhân tố quyết định, vì vậy, cần: (i) xây dựng chiến lược quy hoạch, đào tạo cán bộ dài hạn, trọng tâm là cán bộ làm công tác pháp luật, tư pháp, thi hành án; (ii) tăng cường giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức công vụ, rèn luyện bản lĩnh, lòng trung thành với Tổ quốc và Nhân dân. Đề cao vai trò nêu gương của người đứng đầu, lấy “tự soi, tự sửa” làm phương pháp giáo dục hiệu quả; (iii) đổi mới công tác đánh giá, bổ nhiệm cán bộ theo hướng công khai, minh bạch, lấy kết quả công tác và uy tín thực tiễn làm tiêu chí trung tâm. Thực hiện đánh giá đa chiều, phản hồi từ tổ chức, đồng nghiệp và người dân.

Bốn là, gắn chặt công tác xây dựng Đảng với thực hiện nhiệm vụ chuyên môn.

Chi bộ - “hạt nhân chính trị cơ sở”, nơi kết nối trực tiếp giữa công tác Đảng và nhiệm vụ chuyên môn cần: (i) đổi mới nội dung, phương thức sinh hoạt chi bộ, tập trung vào những vấn đề thiết thực gắn với nhiệm vụ cụ thể, gắn nghị quyết với hành động; (ii) tổ chức học tập nghị quyết của Đảng nghiêm túc, sáng tạo, gắn lý luận với thực tiễn công việc; đổi mới hình thức quán triệt, tạo sự chuyển biến rõ ràng trong tư duy và hành động của cán bộ, đảng viên; (iii) thực hiện kiểm tra, giám sát thường xuyên, đặc biệt, trong các lĩnh vực dễ phát sinh vi phạm. Phát huy vai trò phản biện xã hội của tổ chức Đảng đối với hoạt động chuyên môn, tạo động lực để các đơn vị đổi mới, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.

Năm là, đẩy mạnh chuyển đổi số, hiện đại hóa hoạt động lãnh đạo và quản lý ngành Tư pháp.

Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và yêu cầu hiện đại hóa bộ máy, Đảng ủy Bộ cần: (i) triển khai nền tảng quản trị số toàn diện, tích hợp công nghệ thông tin vào quy trình xây dựng, thẩm định, ban hành, giám sát pháp luật. Đẩy mạnh số hóa hồ sơ pháp lý, dịch vụ công trực tuyến mức độ cao; (ii) phát triển cơ sở dữ liệu pháp luật quốc gia, hệ thống pháp lý số, ứng dụng công nghệ trí tuệ nhân tạo vào công tác tư vấn, hỗ trợ pháp luật; (iii) giám sát tiến độ chuyển đổi số bằng tổ chức Đảng, lồng ghép nội dung chuyển đổi số vào công tác kiểm tra, đánh giá thi đua - khen thưởng. Gắn trách nhiệm người đứng đầu với kết quả ứng dụng công nghệ thông tin và hiện đại hóa quản trị; (iv) đào tạo, nâng cao năng lực số cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, từ tư duy dữ liệu đến bảo mật, vận hành nền tảng số, bảo đảm ngành Tư pháp vận hành hiệu quả trong môi trường số hóa toàn diện.

Tư tưởng chủ đạo: “Lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định thành công của công cuộc xây dựng pháp luật, thi hành pháp luật và cải cách tư pháp”, “Chi bộ mạnh - chuyên môn tốt, tổ chức Đảng đổi mới - ngành Tư pháp phát triển bền vững”; “Chuyển đổi số không chỉ là xu thế, mà là nhiệm vụ chính trị, thể hiện rõ vai trò lãnh đạo chiến lược của Đảng trong thời đại mới”.

Phát huy vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng ủy Bộ Tư pháp là nhân tố quyết định thành công trong công cuộc xây dựng, hoàn thiện pháp luật và cải cách tư pháp. Thông qua việc đổi mới phương thức lãnh đạo, nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ, gắn kết chặt chẽ công tác Đảng với nhiệm vụ chuyên môn; đồng thời, chủ động ứng dụng chuyển đổi số và hiện đại hóa quản lý, ngành Tư pháp sẽ không ngừng nâng cao hiệu lực, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân. Đây là sứ mệnh chính trị trọng đại, vừa thách thức vừa cơ hội để Bộ Tư pháp khẳng định vai trò “then chốt” trong hệ thống chính trị, góp phần xây dựng đất nước phát triển bền vững và công bằng xã hội./.

TS. Nguyễn Quang Thái

Phó Bí thư Đảng ủy Bộ Tư pháp

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật ấn phẩm đặc biệt “Ngành Tư pháp - Tự hào truyền thống, vững bước tương lai”)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

Du lịch xanh, du lịch bền vững đã trở thành xu hướng phổ biến tại Việt Nam, nhưng để tiến tới mục tiêu "du lịch Net Zero", ngành Du lịch cần có nhiều thay đổi theo chiều sâu: từ việc xây dựng những sản phẩm xanh sang xây dựng những doanh nghiệp lữ hành thực sự bền vững. Đây là cả một quá trình bởi phát triển "du lịch Net Zero" không chỉ liên quan đến môi trường mà còn đòi hỏi sự thay đổi đồng bộ về mô hình kinh doanh, sản phẩm, công nghệ, nhân lực, quan hệ với cộng đồng và cách thức ứng xử với các giá trị văn hóa.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

Du lịch Việt Nam đang đứng trước một giai đoạn phát triển mới, trong đó yêu cầu tăng trưởng không thể tách rời nhiệm vụ bảo tồn và phát huy những giá trị làm nên bản sắc dân tộc. Nếu thiên nhiên tạo nên diện mạo của đất nước thì văn hóa chính là chiều sâu, là ký ức, là “hồn cốt” để Việt Nam trở thành một điểm đến khác biệt trong mắt du khách trong nước và quốc tế. Bởi vậy, phát triển du lịch hôm nay không chỉ là câu chuyện về lượng khách, doanh thu hay số lượng cơ sở lưu trú, mà còn là câu chuyện về cách gìn giữ di sản, bảo vệ cảnh quan, duy trì lối sống cộng đồng và trao truyền những giá trị văn hóa Việt Nam cho các thế hệ mai sau. Trong câu chuyện đó, doanh nghiệp lữ hành đóng vai trò trung tâm, là “cầu nối” đưa văn hoá Việt Nam đến với du khách.
Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.
Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Với mục tiêu đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thành phố Hà Nội đặt trọng tâm vào đổi mới nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật, tăng cường ứng dụng công nghệ số và xây dựng đội ngũ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật am hiểu địa bàn, phong tục, tập quán và văn hóa của người dân nơi đây.
Con người – “Chìa khóa” đánh thức nguồn lực phát triển văn hóa trong kỷ nguyên vươn mình

Con người – “Chìa khóa” đánh thức nguồn lực phát triển văn hóa trong kỷ nguyên vươn mình

Trong bước chuyển mình của đất nước bước vào kỷ nguyên mới, văn hóa đang được đặt ở vị trí ngày càng quan trọng trong chiến lược phát triển quốc gia. Cùng với đó, con người được xác định là trung tâm của sự nghiệp phát triển văn hóa khi vừa là chủ thể sáng tạo, gìn giữ, vừa là lực lượng trực tiếp biến những giá trị ấy thành nguồn lực phát triển cho đất nước.
Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Ngày 16/6/2022, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIII ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW về "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao" (Nghị quyết số 18-NQ/TW). Để hiện thực hóa mục tiêu đưa đất nước trở thành nước phát triển có thu nhập cao, trong thời điểm hiện tại, nhằm phù hợp với sự phát triển chung của đất nước, Hội nghị lần thứ ba, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIV đã đưa ra những quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan tại Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 (Nghị quyết số 21-NQ/TW) làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động sửa đổi chính sách pháp luật sau này. Nghị quyết số 21-NQ/TW đã thể hiện những điểm mới trong chủ trương của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.
Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026 được Quốc hội thông qua ngày 23/4/2026 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm xây dựng và phát triển Thủ đô. Đáng chú ý, tại Điều 26 của Luật đã thiết lập khung chính sách tương đối toàn diện về thu hút đầu tư, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư và phát triển doanh nghiệp, mở rộng cơ hội cho nhiều dự án trên địa bàn Thành phố được tiếp cận các chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng, hạ tầng, phát triển nhân lực và đổi mới sáng tạo.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.

Theo dõi chúng tôi trên: