Chủ nhật 13/09/2026 12:11
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động tư pháp cơ sở tại tỉnh Bắc Ninh

Năm 2025 có ý nghĩa đặc biệt đối với tỉnh Bắc Ninh khi đồng thời triển khai nhiều chủ trương lớn, tác động sâu, rộng đến mọi lĩnh vực đời sống xã hội, trong đó có hoạt động tư pháp cơ sở. Với tinh thần chủ động, quyết liệt và sáng tạo, ngành Tư pháp tỉnh Bắc Ninh đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp, đạt những kết quả quan trọng, góp phần giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội và phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.

1. Thực trạng hoạt động tư pháp tại tỉnh Bắc Ninh năm 2025

1.1. Công tác tổ chức bộ máy, xây dựng ngành

Ngay sau khi có chủ trương sắp xếp đơn vị hành chính và sáp nhập tỉnh, Sở Tư pháp đã chủ động tham mưu cho Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân (HĐND), Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh chỉ đạo khẩn trương kiện toàn tổ chức bộ máy ngành Tư pháp các cấp; rà soát, bố trí, sắp xếp đội ngũ công chức tư pháp cấp xã theo hướng tinh, gọn, hiệu quả, phù hợp mô hình chính quyền mới. Nhờ đó, tổ chức bộ máy của ngành sớm được ổn định, không để xảy ra tình trạng “khoảng trống” trong quản lý nhà nước về tư pháp.

Cùng với việc ổn định tổ chức, Sở Tư pháp chủ động rà soát, bổ sung, điều chỉnh toàn bộ chương trình, kế hoạch công tác năm 2025 và thống nhất quy trình nghiệp vụ, bảo đảm các lĩnh vực công tác tư pháp được duy trì liên tục, thông suốt, không gián đoạn việc giải quyết thủ tục hành chính cho người dân, doanh nghiệp. Công tác chỉ đạo, điều hành được thực hiện quyết liệt, kịp thời, sát thực tiễn. Nhiều giải pháp hỗ trợ cơ sở được triển khai quyết liệt như: chủ động ban hành nhiều văn bản, tài liệu hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ; thành lập tổ công tác trực 24/24h để tháo gỡ vướng mắc, khó khăn cho cơ sở; lập nhóm Zalo cộng đồng kết nối toàn bộ công chức tư pháp cấp xã; tổ chức tập huấn nghiệp vụ trực tiếp và trực tuyến về các lĩnh vực tư pháp với phương châm “cầm tay chỉ việc” được triển khai từ tỉnh xuống xã, phường.

1.2. Công tác rà soát, xây dựng, hoàn thiện pháp luật

Thực hiện Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới (Nghị quyết số 66-NQ/TW), tỉnh Bắc Ninh đã ban hành kịp thời, đầy đủ các kế hoạch, văn bản chỉ đạo triển khai thực hiện Nghị quyết số 66-NQ/TW.

Khi có chủ trương sáp nhập tỉnh, tháng 5/2025, tỉnh Bắc Giang và tỉnh Bắc Ninh đã thống nhất thành lập Tổ Chỉ đạo rà soát quy hoạch tỉnh và cơ chế chính sách do HĐND, UBND tỉnh Bắc Giang và tỉnh Bắc Ninh ban hành. Đến ngày 24/6/2025, đã tổng hợp kết quả rà soát các văn bản có quy định về chế độ, định mức, cơ chế chính sách. Theo đó, số văn bản do HĐND, UBND tỉnh Bắc Giang và tỉnh Bắc Ninh ban hành có hiệu lực thi hành tính đến ngày 23/5/2025 là 664 văn bản, trong đó có 219 nghị quyết, 445 quyết định cần xử lý sau khi sáp nhập hai tỉnh.

Tính đến ngày 30/11/2025, tỉnh Bắc Ninh đã xử lý 321 văn bản quy phạm pháp luật (trong đó có 98 nghị quyết, 223 quyết định). Hết năm 2025, tỉnh Bắc Ninh xử lý 485/664 văn bản quy phạm pháp luật, đạt tỷ lệ 73% tổng số văn bản cần xử lý (trong đó, lĩnh vực tư pháp đã ban hành 04 nghị quyết, 09 quyết định). Số văn bản còn lại (179 văn bản, chiếm tỷ lệ 27%) dự kiến sẽ xử lý xong trước ngày 31/5/2026, hoàn thành sớm hơn yêu cầu của trung ương gần một năm.

1.3. Thực hiện chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, hòa giải ở cơ sở

UBND tỉnh, Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật tỉnh Bắc Ninh đã ban hành, triển khai các văn bản quan trọng, đồng bộ để chỉ đạo, định hướng và tổ chức thực hiện toàn diện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, hòa giải ở cơ sở, chuẩn tiếp cận pháp luật và các chương trình, đề án liên quan trong năm 2025. Ban Thường vụ Tỉnh ủy ban hành Chỉ thị số 01-CT/TU ngày 01/11/2025 về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác xây dựng, tổ chức thi hành và phổ biến, giáo dục pháp luật, hòa giải ở cơ sở trên địa bàn tỉnh; HĐND tỉnh ban hành Nghị quyết số 70/2025/NQ-HĐND ngày 12/11/2025 quy định nội dung, mức chi bảo đảm cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, chuẩn tiếp cận pháp luật, hòa giải ở cơ sở trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh.

Tỉnh đã thành lập Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật mới với 29 thành viên; ban hành quy chế hoạt động, phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng thành viên. Hằng quý, Hội đồng định hướng nội dung tuyên truyền tập trung vào các văn bản pháp luật mới ban hành, có ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống, sinh hoạt của Nhân dân. Sở Tư pháp biên soạn và phát hành các tài liệu hướng dẫn đội ngũ làm công tác tư pháp cấp tỉnh, cấp xã khi sáp nhập tỉnh và thực hiện chính quyền địa phương hai cấp[1]. Đồng thời, tổ chức tập huấn, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ, công chức trong điều kiện đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, chuyển giao nhiệm vụ tới cấp xã.

Đội ngũ báo cáo viên pháp luật, tuyên truyền viên pháp luật, hòa giải viên ở cơ sở được kiện toàn kịp thời. Toàn tỉnh có 253 báo cáo viên pháp luật cấp tỉnh, 1.908 tuyên truyền viên pháp luật ở cơ sở, 2.840 tổ hòa giải với 20.517 hòa giải viên. Nhiều địa phương chủ động thành lập Hội đồng phổ biến, giáo dục pháp luật cấp xã, tổ chức bồi dưỡng kiến thức, nghiệp vụ cho tuyên truyền viên, hòa giải viên.

Năm 2025, hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật được triển khai rộng khắp, đổi mới về nội dung, hình thức phong phú gắn với chuyển đổi số, phù hợp với đối tượng, địa bàn, lĩnh vực quản lý. Các cơ quan, đơn vị trong toàn tỉnh tổ chức 3.438 cuộc tuyên truyền pháp luật trực tiếp với 393.149 lượt người tham dự, trong đó, cấp tỉnh tổ chức 2.503 cuộc cho 271.522 lượt người; các xã, phường, thôn, bản, tổ dân phố đã tổ chức 935 cuộc tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật trực tiếp với 121.627 lượt người; tổ chức 92 cuộc thi tìm hiểu pháp luật với 51.492 lượt người tham gia (các cuộc thi trực tuyến với hàng chục nghìn lượt người tham gia như: Tìm hiểu pháp luật về hộ tịch tìm hiểu và sáng kiến về cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh của tỉnh Bắc Ninh, bình dân học vụ số học sinh tham gia môi trường mạng an toàn, lành mạnh, sáng tạo, “Thực hiện các quy định của Đảng, Nhà nước về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực năm 2025...); đăng tải 8.238 tài liệu tuyên truyền pháp luật trên Cổng thông tin điện tử; phát hành 132.529 sách, tài liệu pháp luật...

1.4. Công tác quản lý nhà nước trong các lĩnh vực hộ tịch, chứng thực, quốc tịch, nuôi con nuôi, đăng ký biện pháp bảo đảm của tỉnh đạt nhiều kết quả nổi bật, đặc biệt, trong chuyển đổi số, cải cách thủ tục hành chính và thích ứng với mô hình chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thành 100% số hóa dữ liệu hộ tịch trên toàn tỉnh thông qua “Chiến dịch 15 ngày đêm”, tạo nền tảng quan trọng cho việc kết nối, khai thác và chia sẻ dữ liệu dân cư. Cùng với đó, tỉnh cũng hoàn thành sớm kế hoạch 90 ngày đêm làm sạch dữ liệu hôn nhân, góp phần cắt giảm thủ tục xác nhận tình trạng hôn nhân, tạo thuận lợi cho người dân.

Việc giải quyết các thủ tục liên thông điện tử như khai sinh - đăng ký thường trú - cấp thẻ bảo hiểm y tế; khai tử - xóa đăng ký thường trú - trợ cấp mai táng tiếp tục được triển khai đồng bộ. Hệ thống thông tin hộ tịch điện tử, phần mềm một cửa liên thông được khai thác hiệu quả, giúp giảm thời gian, chi phí cho người dân. Đến nay, hoạt động đăng ký, quản lý hộ tịch dần đi vào nền nếp, thích ứng tốt với mô hình mới.

HĐND tỉnh ban hành Nghị quyết quy định hỗ trợ phí chứng thực bản sao điện tử từ bản chính, qua đó, khuyến khích người dân sử dụng dịch vụ công trực tuyến. Đặc biệt, việc triển khai Nghị định số 280/2025/NĐ-CP ngày 27/10/2025 của Chính phủ và Nghị quyết số 32/2025/NQ-HĐND ngày 03/9/2025 của HĐND tỉnh Bắc Ninh[2] đã góp phần giảm tải cho lãnh đạo UBND cấp xã, nâng cao tính chuyên nghiệp trong thực thi công vụ.

Lĩnh vực đăng ký biện pháp bảo đảm tiếp tục được tăng cường quản lý thông qua ban hành Quy chế phối hợp quản lý đăng ký biện pháp bảo đảm bằng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất. Việc triển khai Nghị định số 99/2022/NĐ-CP ngày 30/11/2022 của Chính phủ về đăng ký biện pháp bảo đảm được thực hiện đồng bộ, góp phần bảo đảm an toàn pháp lý cho giao dịch dân sự, tín dụng.

1.5. Công tác quản lý nhà nước về bổ trợ tư pháp và trợ giúp pháp lý trên địa bàn tỉnh được triển khai đồng bộ, quyết liệt, gắn với yêu cầu siết chặt kỷ cương, nâng cao chất lượng dịch vụ pháp lý và bảo đảm quyền tiếp cận công lý của người dân

Toàn tỉnh hiện có 73 tổ chức hành nghề luật sư, 03 chi nhánh và 208 luật sư đang hành nghề. Lĩnh vực giám định tư pháp được củng cố với 129 giám định viên công lập, đáp ứng yêu cầu của hoạt động tố tụng.

Hoạt động công chứng tiếp tục phát triển ổn định với 59 tổ chức hành nghề và 134 công chứng viên. Công tác thanh tra, kiểm tra được tăng cường, qua đó, kịp thời ngăn chặn vi phạm, nâng cao tính an toàn pháp lý trong giao dịch dân sự, kinh tế. Nhiều văn bản quan trọng được ban hành như Quy chế phối hợp quản lý nhà nước về công chứng, chuyển giao thẩm quyền chứng thực giao dịch từ UBND cấp xã sang tổ chức công chứng, tạo bước chuyển căn bản trong xã hội hóa dịch vụ công chứng.

Năm 2025, tỉnh duy trì hai Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước, hoạt động ổn định sau sáp nhập. Công tác truyền thông được đẩy mạnh với hơn 75.000 tờ rơi, hàng chục đợt trợ giúp lưu động, đặc biệt, tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi. Các vụ việc tham gia tố tụng được thẩm định, đánh giá chất lượng 100% đạt khá, tốt, bảo đảm quyền lợi hợp pháp cho người được trợ giúp pháp lý. Việc ứng dụng công nghệ thông tin, quản lý hồ sơ điện tử, trực trợ giúp pháp lý tại Tòa án và cơ quan điều tra tiếp tục được duy trì nền nếp, hiệu quả.

1.6. Công tác quản lý nhà nước về xử lý vi phạm hành chính tiếp tục được chỉ đạo quyết liệt, đồng bộ và nền nếp

Sở Tư pháp đã tham mưu UBND tỉnh ban hành Quy chế phối hợp quản lý nhà nước về xử lý vi phạm hành chính, quy định tiêu chí xác định hồ sơ xử phạt phức tạp và Nghị quyết hỗ trợ kinh phí cho công chức tham gia kiểm tra, đánh giá hồ sơ xử phạt. Việc triển khai Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2025 được tổ chức kịp thời thông qua các hội nghị quán triệt, tập huấn chuyên sâu cho đội ngũ có thẩm quyền xử phạt. Công tác quản trị Cơ sở dữ liệu tỉnh về xử lý vi phạm hành chính được thực hiện thường xuyên, phục vụ hiệu quả công tác tổng hợp, quản lý và báo cáo. Các hồ sơ xử phạt thuộc thẩm quyền của Chủ tịch UBND tỉnh đều được Sở Tư pháp thẩm tra chặt chẽ, bảo đảm tính hợp pháp, hợp lý trước khi ban hành quyết định.

1.7. Phát huy vai trò của hoạt động tư pháp cơ sở

Trong mô hình chính quyền mới, xã, phường trực tiếp giải quyết phần lớn các công việc hành chính, tư pháp gắn với người dân. Năm 2025, mặc dù khối lượng công việc tăng sau sáp nhập, đội ngũ công chức tư pháp cấp xã đã nỗ lực rất lớn, làm việc với tinh thần trách nhiệm cao. Hàng chục nghìn lượt hồ sơ đăng ký khai sinh, khai tử, kết hôn, xác nhận tình trạng hôn nhân, chứng thực được giải quyết đúng và trước hạn. Việc số hóa dữ liệu hộ tịch, kết nối với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư tiếp tục được đẩy mạnh, tạo nền tảng cho cung cấp dịch vụ công trực tuyến.

Các xã, phường chủ động phối hợp với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể tổ chức hòa giải, tuyên truyền pháp luật tại thôn, tổ dân phố, từng bước xây dựng ý thức thượng tôn pháp luật trong Nhân dân.

2. Một số giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động tư pháp đáp ứng yêu cầu phát triển trong kỷ nguyên mới

Trong bối cảnh sắp xếp đơn vị hành chính, vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp và yêu cầu phát triển trong kỷ nguyên mới, tư pháp cơ sở đang đứng trước cả thời cơ lẫn thách thức lớn. Việc nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động tư pháp cơ sở không chỉ là yêu cầu kỹ thuật quản lý, mà còn là đòi hỏi cấp thiết từ thực tiễn bảo đảm quyền con người, quyền công dân và kỷ cương pháp luật.

Thứ nhất, hoàn thiện thể chế. Sau sáp nhập tỉnh, số lượng văn bản phải xử lý, sửa đổi, bãi bỏ rất lớn, nếu chậm trễ sẽ gây ách tắc trong quản lý, lúng túng trong thực thi nhiệm vụ ở cơ sở. Do đó, cần tập trung rà soát, “làm sạch” hệ thống văn bản, đồng thời, hoàn thiện cơ chế phân cấp, phân quyền rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm trong lĩnh vực tư pháp, bảo đảm thống nhất từ tỉnh đến cơ sở nhưng vẫn phát huy tính chủ động của cấp xã.

Thứ hai, nâng cao năng lực cán bộ. Thực tiễn cho thấy, tại nhiều địa bàn sau sáp nhập, khối lượng công việc tăng nhanh, trong khi đội ngũ công chức tư pháp còn mỏng và chưa đồng đều. Vì vậy, việc đào tạo, bồi dưỡng chuyên sâu theo vị trí việc làm, gắn lý luận với xử lý tình huống thực tiễn là yêu cầu cấp bách. Cùng với đó, cần mạnh dạn luân chuyển, tăng cường cán bộ cho địa bàn khó khăn, từng bước hình thành đội ngũ công chức tư pháp cơ sở “vững chuyên môn - chuẩn đạo đức - thạo kỹ năng số - gần dân, sát dân”.

Thứ ba, đẩy mạnh chuyển đổi số. Việc số hóa hộ tịch, chứng thực thời gian qua cho thấy hiệu quả rõ rệt trong giảm thủ tục, chi phí, giảm phiền hà cho người dân. Thời gian tới, cần xây dựng cơ sở dữ liệu tư pháp dùng chung, kết nối đồng bộ với dữ liệu dân cư, đất đai… bảo đảm “một lần khai báo - nhiều lần sử dụng”. Đặc biệt, việc nghiên cứu, ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong tra cứu pháp luật, hỗ trợ giải quyết thủ tục hành chính để bắt kịp yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.

Thứ tư, đổi mới công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, hòa giải và trợ giúp pháp lý. Thực tiễn cho thấy, cần chuyển mạnh từ tuyên truyền “một chiều” sang tương tác, đối thoại, giải quyết tình huống thực tế, hướng mạnh về cơ sở, vùng khó khăn, đồng bào dân tộc thiếu số, nhóm yếu thế, dễ bị tổn thương, nơi khả năng tiếp cận thông tin pháp luật còn hạn chế. Đồng thời, cần đẩy mạnh xã hội hóa công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, hòa giải và trợ giúp pháp lý nhằm huy động các nguồn lực xã hội như luật sư, công chứng viên, tổ chức nghề nghiệp, doanh nghiệp cùng chung tay lan tỏa tri thức pháp luật.

Thứ năm, tăng cường nguồn lực. Tư pháp cơ sở sẽ khó nâng cao chất lượng và hiệu quả nếu thiếu kinh phí, thiếu trụ sở, thiếu trang thiết bị, đặc biệt là thiếu cơ chế đãi ngộ tương xứng. Việc quan tâm đầu tư có trọng tâm, trọng điểm, kịp thời động viên công chức tư pháp, hòa giải viên, tuyên truyền viên pháp luật không chỉ là giải pháp vật chất, mà còn là sự khẳng định vai trò, vị thế của tư pháp cơ sở trong hệ thống chính trị.

Với truyền thống đoàn kết, đổi mới, trách nhiệm và khát vọng vươn lên, ngành Tư pháp tỉnh Bắc Ninh sẽ tiếp tục phát huy vai trò “gác cửa pháp lý”, góp phần quan trọng vào sự nghiệp xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” trong kỷ nguyên phát triển mới của đất nước.

Lưu Đình Thực

Tỉnh ủy viên, Giám đốc Sở Tư pháp tỉnh Bắc Ninh

Ảnh: Internet

[1]. Cẩm nang công tác tư pháp khi thực hiện chính quyền địa phương 2 cấp; Cẩm nang nghiệp vụ phổ biến, giáo dục pháp luật cho báo cáo viên pháp luật, tuyên truyền viên pháp luật và những người làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi…

[2]. Quy định phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch UBND cấp xã được ủy quyền cho công chức thuộc UBND cấp xã thực hiện trong công tác chứng thực trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật ấn phẩm Xuân Bính Ngọ 2026)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Hoàn thiện thể chế đánh giá tác động thủ tục hành chính từ khâu xây dựng pháp luật

Hoàn thiện thể chế đánh giá tác động thủ tục hành chính từ khâu xây dựng pháp luật

Ngày 26/8/2026, Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1968/QĐ-BT kèm theo Kế hoạch xây dựng dự thảo Thông tư hướng dẫn đánh giá tác động của thủ tục hành chính tại dự thảo văn bản quy phạm pháp luật. Đây là bước đi cụ thể nhằm triển khai các quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025.
Rà soát, xử lý văn bản bảo đảm phù hợp, thống nhất với Luật Tiếp cận thông tin năm 2026

Rà soát, xử lý văn bản bảo đảm phù hợp, thống nhất với Luật Tiếp cận thông tin năm 2026

Thực hiện nhiệm vụ được giao tại Kế hoạch triển khai thi hành Luật Tiếp cận thông tin của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tư pháp đã chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan ngang Bộ và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố tổ chức rà soát các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến Luật Tiếp cận thông tin nhằm bảo đảm tính thống nhất trong áp dụng pháp luật về cung cấp, công khai thông tin của cơ quan, đơn vị; kịp thời phát hiện các quy định không còn phù hợp, chồng chéo, mâu thuẫn, trùng lặp hoặc không đáp ứng yêu cầu thực tiễn quản lý nhà nước; trên cơ sở đó đề xuất phương án xử lý cụ thể đối với từng văn bản hoặc quy định (thay thế, sửa đổi, bổ sung).
Áp dụng KPI trong công tác xây dựng pháp luật: Thời hạn và tiêu chí xác định nhiệm vụ đánh giá

Áp dụng KPI trong công tác xây dựng pháp luật: Thời hạn và tiêu chí xác định nhiệm vụ đánh giá

Ngày 06/7/2026, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1205/QĐ-TTg phê duyệt Đề án thí điểm thực hiện việc đánh giá, chấm điểm về công tác xây dựng pháp luật. Để triển khai thực hiện thống nhất Đề án thí điểm nêu trên, Bộ Tư pháp đã chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ nghiên cứu, xây dựng nội dung tài liệu hướng dẫn triển khai thực hiện Đề án.
Tổ chức lại trình tự, đẩy sớm thời hạn hoàn thành tổng rà soát văn bản

Tổ chức lại trình tự, đẩy sớm thời hạn hoàn thành tổng rà soát văn bản

Nhằm bảo đảm tiến độ theo yêu cầu mới, đồng thời tăng cường chất lượng, hiệu quả của công tác tổng rà soát, nhất là khâu cho ý kiến, thẩm định và hoàn thiện các báo cáo chính thức, ngày 22/8/2026, Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật đã ban hành Quyết định số 11/QĐ-BCĐ điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung một số nội dung tại phần II Kế hoạch triển khai tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật ban hành kèm theo Quyết định số 05/QĐ-BCĐ ngày 10/4/2026 của Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (Kế hoạch số 05/QĐ-BCĐ).
Chuyển dịch phương thức chỉ đạo, điều hành dựa trên dữ liệu: Đột phá mới trong chuyển đổi số tại Bộ Tư pháp

Chuyển dịch phương thức chỉ đạo, điều hành dựa trên dữ liệu: Đột phá mới trong chuyển đổi số tại Bộ Tư pháp

Ngày 19/8/2026, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1925/QĐ-BTP về việc ban hành Quy chế quản lý, vận hành, khai thác và sử dụng Nền tảng tổng hợp, phân tích dữ liệu của Bộ Tư pháp (Quy chế). Đây là bước cụ thể hóa chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; đồng thời, đáp ứng yêu cầu xây dựng nền hành chính minh bạch, hiện đại, chuyên nghiệp, hoạt động dựa trên dữ liệu và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước.
Bộ Tư pháp định hình diện mạo mới nền hành chính số thông qua thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông

Bộ Tư pháp định hình diện mạo mới nền hành chính số thông qua thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông

Ngày 06/8/2026, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ký xác thực Văn bản hợp nhất Số:6050/2026/VBHN-NĐ-BTP quy định về thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế Một cửa, một cửa liên thông tại Bộ phận Một cửa và Cổng Dịch vụ công quốc gia. Đây là một mốc pháp lý quan trọng, không chỉ giúp hệ thống hóa toàn diện các quy định pháp luật hiện hành mà còn trực tiếp thúc đẩy tiến trình cải cách thủ tục hành chính, chuyển đổi số quốc gia một cách đồng bộ, thống nhất và thực chất.
Đôn đốc xử lý ngay "điểm nghẽn" nhiệm vụ về phát triển khoa học, công nghệ, chuyển đổi số

Đôn đốc xử lý ngay "điểm nghẽn" nhiệm vụ về phát triển khoa học, công nghệ, chuyển đổi số

Tính đến ngày 14/8/2026, kết quả triển khai Kế hoạch số 05-KH/BCĐTW[1] và Quyết định số 88/QĐ-BCĐCP[2] đã có chuyển biến nhưng chưa đồng đều, thể hiện trên các nhóm nhiệm vụ thể chế, chỉ đạo, điều hành; hạ tầng số, an toàn, an ninh mạng; dữ liệu và cơ sở dữ liệu; dịch vụ công, cắt giảm thủ tục hành chính và tái sử dụng dữ liệu; tài chính, nguồn lực. Việc triển khai còn tồn tại những điểm nghẽn cần được tập trung xử lý, giải quyết trong thời gian tới. [1] Kế hoạch hành động ngày 11/7/2026 của Ban chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số về 100 ngày xử lý các điểm nghẽn về chuyển đổi số trong hệ thống chính trị. [2] Quyết định ngày 29/7/2026 ban hành Kế hoạch hành động của Ban Chỉ đạo của Chính phủ triển khai thực hiện Thông báo số 24-TB/CQTTBCĐ, Thông báo số 25-TB/CQTTBCĐ và Kế hoạch số 05-KH/BCĐTW.
Quyết tâm đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị và mô hình chính quyền địa phương hai cấp

Quyết tâm đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị và mô hình chính quyền địa phương hai cấp

Trong bối cảnh cả hệ thống chính trị đang nỗ lực thực hiện các mục tiêu chiến lược nhằm tinh gọn bộ máy, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị, Bộ Tư pháp đã ban hành Kế hoạch triển khai Kết luận số 76-KL/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV và Nghị quyết số 221/NQ-CP của Chính phủ. Kế hoạch này là cơ sở định hướng quan trọng cho những chuyển đổi mang tính đột phá của Bộ Tư pháp trong giai đoạn tới.
Đột phá thể chế trong phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2045

Đột phá thể chế trong phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2045

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV) xác định đột phá thể chế là nền tảng của mọi cải cách lớn nhằm hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước đến năm 2045. Tư duy thể chế trong Văn kiện Đại hội XIV nhấn mạnh trực diện đến hiệu lực tổ chức thực hiện pháp luật như thước đo trung tâm của chất lượng thể chế. Trên cơ sở đó, bài viết phân tích những điểm mới về tư duy thể chế trong Văn kiện Đại hội XIV; làm rõ mối quan hệ giữa đột phá thể chế và phát triển kinh tế nhà nước; đồng thời luận giải vai trò trung tâm của Bộ Tư pháp trong thể chế hóa các nghị quyết của Đảng và tổ chức thực hiện pháp luật trong giai đoạn phát triển mới.
Diễn đàn Pháp luật ASEAN năm 2026: Thúc đẩy ứng dụng AI trong xây dựng và thi hành pháp luật

Diễn đàn Pháp luật ASEAN năm 2026: Thúc đẩy ứng dụng AI trong xây dựng và thi hành pháp luật

Từ ngày 18 - 19/8/2026, Bộ Tư pháp Việt Nam sẽ đăng cai tổ chức Diễn đàn Pháp luật ASEAN năm 2026 với chủ đề "Ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong công tác xây dựng và thi hành pháp luật trong kỷ nguyên số". Diễn đàn là cơ hội để các nước ASEAN chia sẻ kinh nghiệm, trao đổi chính sách, thúc đẩy hợp tác trong ứng dụng AI, hướng tới xây dựng hệ thống pháp luật hiện đại, hài hòa và thích ứng với yêu cầu của kỷ nguyên số. Dịp này, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh đã có cuộc trả lời phỏng vấn báo chí.
Nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong thực hiện chính quyền địa phương hai cấp

Nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong thực hiện chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Trong bối cảnh cải cách tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, hiệu lực, hiệu quả, việc triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp đặt ra yêu cầu đổi mới phương thức quản trị ở địa phương. Cùng với quá trình phân cấp, phân quyền mạnh mẽ, phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành công cụ quan trọng nhằm bảo đảm đội ngũ cán bộ, công chức và người dân hiểu đúng, thực hiện đúng pháp luật, qua đó, nâng cao chất lượng quản lý nhà nước và xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật trong xã hội. Nghiên cứu phân tích cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong điều kiện thực hiện chính quyền địa phương hai cấp, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả quản trị địa phương và bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật của người dân.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trong môi trường số

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trong môi trường số

Tóm tắt: Chuyển đổi số tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội và đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật cho người dân, nhất là người tiêu dùng. Nghiên cứu phân tích việc hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trên các nền tảng thương mại điện tử. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tham chiếu kinh nghiệm quốc tế, nghiên cứu chỉ ra những hạn chế của pháp luật hiện hành trong xác định đối tượng, nội dung, phương thức phổ biến, cơ chế phối hợp và đánh giá hiệu quả. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)1 (dự thảo Luật) theo hướng phát triển năng lực pháp lý số, góp phần nâng cao khả năng phòng ngừa rủi ro và tự bảo vệ của người tiêu dùng trong môi trường số.
Phát huy vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Phát huy vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật giữ vai trò quan trọng nhằm đưa pháp luật vào đời sống xã hội, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của người dân, xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật và bảo đảm hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước. Trong hệ thống chính quyền địa phương, Ủy ban nhân dân cấp xã là cấp chính quyền gần dân nhất, trực tiếp tiếp xúc và giải quyết các nhu cầu của người dân, đồng thời, là chủ thể giữ vai trò trung tâm trong tổ chức triển khai các hoạt động tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật tại cơ sở. Nghiên cứu tập trung phân tích cơ sở lý luận và pháp lý về vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật; đánh giá thực trạng triển khai trong thời gian qua, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật đối với lĩnh vực này.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Chính phủ số và xã hội số, việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đặt ra yêu cầu hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số. Nghiên cứu phân tích cơ sở lý luận, quy định pháp luật hiện hành, dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật) và kinh nghiệm quốc tế, từ đó chỉ ra những khoảng trống pháp lý trong chuyển đổi số hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm xây dựng hệ sinh thái phổ biến, giáo dục pháp luật số hiệu quả, đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số quốc gia.

Theo dõi chúng tôi trên: