Thứ sáu 23/10/2026 16:03
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện thể chế pháp luật để khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trở thành động lực phát triển quốc gia

Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã và đang thay đổi căn bản phương thức sản xuất, quản trị và đời sống xã hội trên phạm vi toàn cầu. Đối với Việt Nam, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo (KHCN&ĐMST) và chuyển đổi số (CĐS) không chỉ là xu thế tất yếu mà còn là yêu cầu cấp bách để bứt phá, vượt qua bẫy thu nhập trung bình và hiện thực hóa khát vọng dân tộc. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy công nghệ luôn vận động với tốc độ vượt xa khả năng thích ứng của pháp luật hiện hành. Do đó, việc xây dựng hệ thống pháp luật đồng bộ, hiện đại và mang tính kiến tạo được xem là chìa khóa để giải phóng nguồn lực, đưa KHCN&ĐMST và CĐS thực sự trở thành động lực chính cho sự phát triển bền vững của quốc gia.

1. Yêu cầu khách quan về hoàn thiện thể chế phát triển khoa học, công nghệ và chuyển đổi số

Thứ nhất, Đảng, Nhà nước có nhiều quan điểm chỉ đạo về hoàn thiện thể chế phát triển khoa học, công nghệ và chuyển đổi số.

Trong các văn kiện chính trị quan trọng gần đây, Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác lập vị thế mới cho KHCN&ĐMST và CĐS. Văn kiện Đại hội XIII xác định, đột phá, phát triển KHCN&ĐMST và CĐS là một trong những “đột phá chiến lược” quan trọng nhất để phát triển nhanh và bền vững đất nước[1]. Đặc biệt, Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển KHCN&ĐMST và CĐS quốc gia (Nghị quyết số 57-NQ/TW) nhấn mạnh đây là một cuộc cách mạng sâu sắc, toàn diện trên tất cả các lĩnh vực[2].

Nghị quyết số 57-NQ/TW không chỉ nhìn nhận KHCN&ĐMST và CĐS như công cụ kỹ thuật mà coi đó là trung tâm chiến lược phát triển quốc gia, gắn liền với đổi mới phương thức quản trị, nâng cao năng suất nhân tố tổng hợp (TFP)[3]. Điều này đòi hỏi các cơ quan tham mưu phải chuyển từ tư duy“quản lý bằng mệnh lệnh” sang “quản lý để phát triển”, lấy hiệu quả đầu ra và sự hài lòng của các chủ thể sáng tạo làm thước đo chính.

Thứ hai, yêu cầu về phương thức “quản lý kiến tạo” trong kỷ nguyên số.

Thuật ngữ “Quản lý kiến tạo” (facilitative management) trong hành chính công hiện đại không đơn thuần là nới lỏng quản lý, mà là Nhà nước chủ động tạo lập môi trường thuận lợi, bảo đảm thượng tôn pháp luật nhưng cho phép linh hoạt và đa chủ thể tham gia. Trong lĩnh vực KHCN&ĐMST và CĐS, quản lý kiến tạo là sự kết hợp của tư duy thiết kế (design thinking) gắn với cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox), yêu cầu hệ thống pháp luật phải giải quyết được ba bài toán: (i) pháp luật phải đi trước để mở đường thay vì “đuổi theo” để quản lý các vấn đề phát sinh; (ii) pháp luật phải thiết lập được các cơ chế sandbox; (iii) pháp luật phải chuyển dịch từ kiểm soát quy trình sang quản lý theo kết quả.

Thứ ba, từ các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2030 và 2045.

Việc hoàn thiện thể chế hướng đến việc đạt được các chỉ số mục tiêu phát triển quốc gia được đề ra. Việt Nam đặt ra những kỳ vọng rất lớn về quy mô kinh tế số và thứ hạng công nghệ trên thế giới để tránh nguy cơ tụt hậu như các chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội đất nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, thông qua các chỉ tiêu như tỷ trọng kinh tế số trong GDP; chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu; đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp; kinh phí chi cho R&D và xếp hạng Chính phủ điện tử.

2. Kết quả đạt được trong công tác hoàn thiện thể chế thông qua hoạt động lập pháp năm 2025

Năm 2025 đánh dấu cột mốc lịch sử trong tiến trình hoàn thiện thể chế KHCN&ĐMST và CĐS tại Việt Nam. Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV thông qua nhiều đạo luật quan trọng, tạo hệ thống chỉnh thể thống nhất cho quản trị quốc gia trong kỷ nguyên số.

Thứ nhất, Luật Trí tuệ nhân tạo năm 2025.

Luật Trí tuệ nhân tạo năm 2025 là đạo luật đầu tiên của Việt Nam điều chỉnh toàn diện về phát triển, ứng dụng và quản trị AI, thể hiện rõ tư duy “quản lý để phát triển”, cân bằng giữa kiểm soát rủi ro và thúc đẩy đổi mới sáng tạo, đưa Việt Nam trở thành một trong số ít quốc gia có khung pháp lý riêng biệt cho AI.

Về tư duy quản lý, Luật áp dụng phương pháp tiếp cận dựa trên rủi ro (Risk-based approach), phân tầng các hệ thống AI thành các mức độ rủi ro khác nhau (thấp, trung bình, cao) để áp dụng các biện pháp kiểm soát phù hợp. Cách tiếp cận này giúp các doanh nghiệp, đặc biệt, các startup, không bị “bủa vây” bởi các thủ tục hành chính đối với các ứng dụng AI ít rủi ro, đồng thời, bảo đảm an ninh quốc gia và đạo đức thuật toán đối với các hệ thống AI nhạy cảm.

Về cơ chế hỗ trợ, Luật Trí tuệ nhân tạo năm 2025 đã luật hóa việc thành lập Quỹ phát triển AI quốc gia và triển khai cơ chế - AI Voucher - để hỗ trợ doanh nghiệp ứng dụng công nghệ. Đặc biệt, Luật thiết lập cơ chế sandbox cho phép thử nghiệm các giải pháp AI trong môi trường thực tế với sự miễn trừ nhất định về trách nhiệm pháp lý, giúp giảm chi phí và rủi ro cho các nhà sáng tạo[4].

Thứ hai, Luật Chuyển đổi số năm 2025.

Luật Chuyển đổi số năm 2025 thay thế Luật Công nghệ thông tin năm 2006, đánh dấu sự chuyển dịch điều chỉnh từng thành phần rời rạc sang xây dựng “Hệ thống số quốc gia” thống nhất. Luật Chuyển đổi số năm 2025 không chỉ tập trung vào thiết bị hay phần mềm mà xác lập các nguyên tắc vận hành đồng bộ của xã hội trên môi trường số. Việt Nam là quốc gia đầu tiên trên thế giới luật hóa hoạt động chuyển đổi số quốc gia.

Một trong những kết quả quan trọng của đạo luật này là bắt buộc tích hợp, kết nối giữa các hệ thống dữ liệu. Luật quy định các tiêu chuẩn kỹ thuật thống nhất để xóa bỏ các “đảo dữ liệu”, bảo đảm dòng chảy thông tin thông suốt giữa các bộ, ngành và địa phương. Nguyên tắc Once - only (người dân cung cấp thông tin một lần) được luật hóa, biến dữ liệu thành dòng máu “nuôi dưỡng bộ máy hành chính hiệu quả và minh bạch.

Bên cạnh đó, Luật Chuyển đổi số năm 2025 xác lập địa vị pháp lý cho hạ tầng số ngang hàng với hạ tầng giao thông và năng lượng. Việc thúc đẩy các nền tảng số quốc gia cho phép các bên thứ ba cùng khai thác dữ liệu mở để tạo ra các giá trị gia tăng, từ đó thúc đẩy kinh tế số phát triển theo mục tiêu đề ra.

Thứ ba, Luật Chuyển giao công nghệ năm 2017 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) và Luật Công nghệ cao năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).

Hai đạo luật này tập trung giải phóng nguồn lực trí tuệ từ các viện nghiên cứu và trường đại học. Luật Chuyển giao công nghệ năm 2017 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) làm rõ cơ chế góp vốn bằng công nghệ và quyền sở hữu kết quả nghiên cứu sử dụng ngân sách nhà nước.

Sự thay đổi quan trọng là trao quyền sở hữu kết quả nghiên cứu cho tổ chức chủ trì, thay vì Nhà nước nắm giữ toàn bộ như trước đây. Điều này giải tỏa nỗi lo “mất vốn nhà nước”, khuyến khích các nhà khoa học mạnh dạn thành lập các doanh nghiệp khởi nguồn để đưa sản phẩm ra thị trường. Đồng thời, Luật Công nghệ cao năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) cung cấp các ưu đãi vượt trội về thuế (thuế suất 5% trong 37 năm cho các dự án trọng điểm) và đất đai, tạo sức hút mạnh mẽ cho các dự án bán dẫn và trung tâm dữ liệu quy mô lớn.

Thứ tư, Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025.

Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 quy định đổi mới sáng tạo và khoa học công nghệ được đặt tương đương với nhau. Đây là sự thay đổi căn bản về nhận thức, khẳng định nghiên cứu khoa học phải gắn liền với thực tiễn sản xuất và thị trường.

Luật đã thiết lập cơ chế miễn trừ trách nhiệm dân sự đối với các nhà khoa học và nhà quản lý trong trường hợp rủi ro khách quan khi thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu có tính đột phá. Tư duy quản lý chuyển từ kiểm soát quy trình sang đo lường hiệu quả tổng thể đầu ra, cho phép các đơn vị nghiên cứu được tự chủ hơn về tài chính thông qua cơ chế khoán chi linh hoạt.

3. Giải pháp và kiến nghị tiếp tục hoàn thiện thể chế, pháp luật trong tình hình mới

Mặc dù hệ thống pháp luật trụ cột đã được thiết lập, nhưng để những quy định này thực sự trở thành động lực phát triển, cần có những bước triển khai quyết liệt và tiếp tục hoàn thiện các cơ chế thực thi .

Thứ nhất, triển khai đồng bộ và kịp thời các văn bản hướng dẫn thi hành luật.

Để các đạo luật thông qua năm 2025 nhanh chóng đi vào cuộc sống, Chính phủ cần sớm ban hành các văn bản hướng dẫn chi tiết, đặc biệt, các quy định về quy chuẩn kỹ thuật cho dữ liệu số và các quy trình thử nghiệm sandbox. Việc hướng dẫn cần thực hiện theo tinh thần đơn giản hóa thủ tục hành chính, tránh tình trạng luật mở nhưng nghị định thắt.

Cần tập trung cụ thể hóa các tiêu chuẩn tương hợp giữa các hệ thống số quốc gia. Các bộ, ngành và địa phương phải tuân thủ nghiêm ngặt Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số để bảo đảm tính thống nhất của toàn hệ thống[5]. Việc xây dựng sàn giao dịch dữ liệu quốc gia cần được ưu tiên để khơi thông dòng chảy dữ liệu giữa Nhà nước và doanh nghiệp.

Thứ hai, đổi mới căn bản cơ chế tài chính và đầu tư cho khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Cần thực hiện cuộc cách mạng trong tư duy về chi ngân sách nhà nước cho KHCN&ĐMST. Thay vì coi đây là khoản chi thông thường, phải xác định đây là khoản đầu tư chiến lược, toàn diện cho tương lai. Cần thực hiện triệt để cơ chế khoán chi dựa trên kết quả đầu ra đối với các nhiệm vụ khoa học và công nghệ sử dụng ngân sách nhà nước. Nhà nước cần đóng vai trò là “vốn mồi”, thông qua các quỹ đầu tư mạo hiểm và cơ chế đặt hàng công nghệ để huy động mạnh mẽ nguồn lực từ khu vực tư nhân. Việc đạt mục tiêu chi cho hoạt động nghiên cứu và phát triển ở mức 2% GDP vào năm 2030 chỉ khả thi khi có các ưu đãi thuế hấp dẫn để doanh nghiệp tự nguyện đổ vốn vào R&D.

Thứ ba, hiện thực hóa cơ chế sandbox và bảo vệ tinh thần đổi mới sáng tạo.

Cơ chế sandbox cần triển khai rộng rãi trong các lĩnh vực công nghệ mới như AI y tế, Fintech và các mô hình kinh tế nền tảng. Cần có quy trình phê duyệt sandbox nhanh chóng, minh bạch và phân định rõ trách nhiệm của các bên tham gia. Đặc biệt, cần cụ thể hóa các quy định về bảo vệ người dám nghĩ, dám làm trong phát triển công nghệ. Việc miễn trừ trách nhiệm đối với các rủi ro khách quan cần được áp dụng nhất quán để xóa bỏ tâm lý sợ sai trong đội ngũ cán bộ khoa học và quản lý nhà nước.

Thứ tư, xây dựng nhân lực số và thúc đẩy xã hội số bao trùm.

Hoàn thiện thể chế cần chú trọng đến yếu tố con người. Việt Nam cần có các chính sách đặc thù về lương, thưởng và môi trường làm việc để thu hút các chuyên gia công nghệ hàng đầu thế giới và người Việt Nam ở nước ngoài về đóng góp cho đất nước.

Bên cạnh đào tạo nhân tài, cần phổ cập năng lực số cho toàn dân thông qua các chương trình “học tập số” rộng khắp. Thể chế phải bảo đảm việc chuyển đổi số mang tính bao trùm, bảo vệ nhóm yếu thế trước những tác động tiêu cực của công nghệ như tự động hóa thay thế lao động hay phân hóa giàu nghèo về dữ liệu. Việc xây dựng “Công dân số” với danh tính điện tử và kỹ năng an toàn thông tin là nền tảng bền vững cho xã hội số.

Thứ năm, nâng cao kỷ luật thực thi và vai trò dẫn dắt của người đứng đầu.

Cần gắn kết quả thực hiện các nhiệm vụ KHCN&ĐMST và CĐS vào các tiêu chí đánh giá thi đua, khen thưởng và bổ nhiệm cán bộ. Người đứng đầu các cơ quan, đơn vị phải trực tiếp phụ trách và chịu trách nhiệm về kết quả chuyển đổi số tại địa bàn, ngành cơ quan mình quản lý.

Kiến nghị xây dựng hệ thống giám sát, đo lường tự động (như hệ thống EMC) để đánh giá mức độ chuyển đổi số và hiệu quả đầu tư KH&CN của các bộ, ngành, địa phương theo thời gian thực. Việc công khai kết quả xếp hạng DTI (Digital Transformation Index)[6] hàng năm sẽ tạo ra sự cạnh tranh lành mạnh và thúc đẩy các địa phương nỗ lực hoàn thiện thể chế số tại cơ sở.

Kết luận

Việc hoàn thiện thể chế pháp luật để KHCNĐMST và CĐS trở thành động lực phát triển quốc gia là hành trình liên tục, cần dũng cảm phá bỏ những tư duy cũ và nhạy bén trước các xu hướng tương lai. Những kết quả đạt được tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV với các đạo luật trụ cột thúc đẩy phát triển KHCN&ĐMST và CĐS đã đặt nền móng vững chắc cho quản trị quốc gia kiến tạo. Tuy nhiên, để đạt được những mục tiêu khát vọng vào năm 2030 và năm 2045, cần sự đồng lòng của toàn xã hội. Với hành lang pháp lý thông suốt và tinh thần hành động quyết liệt, Việt Nam hoàn toàn có thể tự tin vươn mình, khẳng định vị thế trong kỷ nguyên số toàn cầu.

[1]. https://daihoidang.vn/khoa-hoc-cong-nghe-va-doi-moi-sang-tao-dong-luc-but-pha-nk-dai-hoi-xiii-post5638.html, truy cập ngày 25/01/2026.

[2]. Nghị quyết số 57-NQ/TW, https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/toan-van-nghi-quyet-ve-dot-pha-phat-trien-khoa-hoc-cong-nghe-doi-moi-sang-tao-va-chuyen-doi-so-quoc-gia-119241224180048642.htm, truy cập ngày 25/01/2026.

[3]. Bước chuyển lớn của khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, https://nhandan.vn/buoc-chuyen-lon-cua-khoa-hoc-cong-nghe-doi-moi-sang-tao-post934954.html, truy cập ngày 25/01/2026.

[4]. Quốc hội thông qua Luật Trí tuệ nhân tạo: Hoàn thiện hành lang pháp lý cho kỷ nguyên số, https://mst.gov.vn/quoc-hoi-thong-qua-luat-tri-tue-nhan-tao-hoan-thien-hanh-lang-phap-ly-cho-ky-nguyen-so-197251210165544671.htm, truy cập ngày 25/01/2026.

[5]. Luật Chuyển đổi số - Báo VnExpress, https://vnexpress.net/luat-chuyen-doi-so-4992778.html, truy cập ngày 25/01/2026.

[6]. https://dti.gov.vn/.

PGS.TS. Hoàng Hữu Hạnh

Cục Chuyển đổi số quốc gia, Bộ Khoa học và Công nghệ

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật ấn phẩm Xuân Bính Ngọ 2026)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong hoạt động xây dựng pháp luật tại Việt Nam hiện nay

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong hoạt động xây dựng pháp luật tại Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong bối cảnh trí tuệ nhân tạo (AI) ngày càng đóng vai trò quan trọng, được ứng dụng rộng rãi trong quản trị công và hoạt động lập pháp tại nhiều quốc gia trên thế giới và Việt Nam. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở chính trị, pháp lý, nguyên tắc và phạm vi ứng dụng AI trong hoạt động xây dựng pháp luật ở Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, AI có thể hỗ trợ hiệu quả nhiều công đoạn như xử lý dữ liệu, phân tích chính sách, rà soát văn bản, tổng hợp ý kiến và hỗ trợ kỹ thuật lập pháp. Tuy nhiên, AI chỉ nên được sử dụng như công cụ hỗ trợ dưới sự kiểm soát của con người, không thay thế thẩm quyền, trách nhiệm chính trị, pháp lý và trách nhiệm giải trình của cơ quan, người có thẩm quyền trong hoạt động lập pháp. Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp để nâng cao chất lượng, hiệu quả ứng dụng AI trong hoạt động xây dựng pháp luật tại Việt Nam.
Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi): Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, phân cấp, phân quyền và chuyển đổi số

Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi): Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, phân cấp, phân quyền và chuyển đổi số

Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) (dự thảo Luật) đề xuất cắt giảm thủ tục hành chính, phân cấp, phân quyền trong giải quyết một số công việc; đồng thời bước đầu lồng ghép các yếu tố khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong hoạt động hành nghề luật sư và quản lý nhà nước về luật sư, hành nghề luật sư. Những định hướng này nhằm hoàn thiện hành lang pháp lý, tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp tiếp cận dịch vụ pháp lý, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với nghề luật sư.
Chế định thành viên góp vốn của tổ chức hành nghề luật sư - Cơ chế nâng cao năng lực cạnh tranh của luật sư Việt Nam

Chế định thành viên góp vốn của tổ chức hành nghề luật sư - Cơ chế nâng cao năng lực cạnh tranh của luật sư Việt Nam

Tóm tắt: Nghề luật sư có tính truyền thống, lâu đời tại nhiều quốc gia. Mô hình truyền thống của tổ chức hành nghề luật sư mang tính đối nhân giữa các luật sư, như văn phòng luật sư, công ty luật hợp danh. Cùng với sự phát triển của thị trường và yêu cầu đa dạng hóa dịch vụ pháp lý, mô hình tổ chức đối nhân đã từng bước chuyển hóa thành mô hình đối vốn, như công ty luật hợp danh trách nhiệm hữu hạn, công ty luật trách nhiệm hữu hạn. Mô hình tổ chức hành nghề mang tính đối vốn kể từ Luật Luật sư năm 2006, sửa đổi, bổ sung năm 2012 (Luật Luật sư năm 2006), đã góp phần thúc đẩy sự phát triển của các tổ chức hành nghề luật sư và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với các tổ chức này. Hiện, thị trường dịch vụ pháp lý trên thế giới chịu tác động đáng kể từ yêu cầu của thị trường và sự phát triển của công nghệ. Trước bối cảnh đó, một số quốc gia đã cho phép thành viên góp vốn không phải luật sư có thể tham gia vào hoạt động của tổ chức hành nghề luật sư, qua đó, bổ sung nguồn lực tài chính, công nghệ và năng lực quản trị, tạo điều kiện cho các tổ chức này phát triển. Thực tiễn đó đặt ra yêu cầu cần hoàn thiện pháp luật về luật sư để bổ sung quy định về thành viên góp vốn tại tổ chức hành nghề luật sư, góp phần thúc đẩy sự phát triển và nâng cao năng lực cạnh tranh của các tổ chức này trên thị trường trong nước và quốc tế.
Nâng cao chất lượng triển khai các nhiệm vụ chuyển đổi số tại Bộ Tư pháp

Nâng cao chất lượng triển khai các nhiệm vụ chuyển đổi số tại Bộ Tư pháp

Chiều ngày 16/10, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hoàng Thanh Tùng chủ trì cuộc họp giao ban Ban Chỉ đạo Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Tư pháp phiên họp thứ XVIII. Cùng dự có Thứ trưởng Nguyễn Thanh Tịnh và Phó Bí thư chuyên trách Đảng ủy Bộ Nguyễn Quang Thái.
Phát huy vai trò công chứng trong bảo đảm an toàn pháp lý thời kỳ số

Phát huy vai trò công chứng trong bảo đảm an toàn pháp lý thời kỳ số

Trong bối cảnh chuyển đổi số và hội nhập quốc tế sâu rộng, việc phát huy vai trò của công chứng trong phòng ngừa tranh chấp, bảo vệ quyền tài sản và bảo đảm an toàn pháp lý cho các giao dịch là yêu cầu quan trọng, góp phần xây dựng môi trường đầu tư, kinh doanh minh bạch, ổn định.
Hoàn thiện cơ chế giải quyết tranh chấp thương mại trong bối cảnh hội nhập và chuyển đổi số

Hoàn thiện cơ chế giải quyết tranh chấp thương mại trong bối cảnh hội nhập và chuyển đổi số

Ngày 15/10, Khoa Luật, Đại học Phenikaa tổ chức Hội thảo khoa học "Giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại trong bối cảnh hội nhập quốc tế và chuyển đổi số ở Việt Nam". PGS.TS. Mai Đắc Biên, Trưởng Khoa Luật và TS. Nguyễn Hồng Bắc, Trưởng Bộ môn Luật Quốc tế và Thương mại quốc tế, Đại học Phenikaa đồng chủ trì Hội thảo.
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo và trợ lý ảo trong phổ biến, giáo dục pháp luật

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo và trợ lý ảo trong phổ biến, giáo dục pháp luật

Ngày 14/10, Bộ Tư pháp tổ chức họp Tổ soạn thảo mở rộng xây dựng dự thảo Nghị định quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (dự thảo Nghị định). Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Ngọc, Tổ trưởng Tổ soạn thảo chủ trì cuộc họp.
Để người dân, doanh nghiệp thuận lợi trong tiếp cận, sử dụng dịch vụ công trực tuyến

Để người dân, doanh nghiệp thuận lợi trong tiếp cận, sử dụng dịch vụ công trực tuyến

Ngày 30/9/2026, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Thông tư số 13/2026/TT-BTP hướng dẫn thi hành một số nội dung về thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông tại Bộ phận Một cửa và Cổng Dịch vụ công quốc gia (Thông tư số 13/2026/TT-BTP). Thông tư góp phần hỗ trợ, tạo thuận lợi cho tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp, người dân tiếp cận, thực hiện thủ tục hành chính, sử dụng dịch vụ công trực tuyến.
Phê duyệt “Đề án Xây dựng Cơ sở dữ liệu lớn về pháp luật”

Phê duyệt “Đề án Xây dựng Cơ sở dữ liệu lớn về pháp luật”

“Đề án Xây dựng Cơ sở dữ liệu lớn về pháp luật” được phê duyệt tại Quyết định số 1949/QĐ-TTg ngày 08/10/2026 của Thủ tướng Chính phủ (Đề án) nhằm mục tiêu xây dựng hạ tầng dữ liệu pháp luật quốc gia thống nhất, dùng chung, tạo nền tảng ứng dụng trí tuệ nhân tạo hiệu quả, góp phần đổi mới công tác xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật, hướng tới xây dựng nền quản trị pháp luật thông minh.
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo và dữ liệu số: “Đòn bẩy" bứt phá trong công tác xây dựng, kiểm tra, rà soát và tổ chức thi hành pháp luật

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo và dữ liệu số: “Đòn bẩy" bứt phá trong công tác xây dựng, kiểm tra, rà soát và tổ chức thi hành pháp luật

Nhân Ngày Chuyển đổi số Quốc gia (10/10), Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh - Phó Trưởng ban thường trực Ban Chỉ đạo của Bộ Tư pháp về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và Đề án 06 về yêu cầu đổi mới công tác xây dựng, kiểm tra, rà soát và tổ chức thi hành pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, phát triển dữ liệu lớn và ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI). Thứ trưởng chia sẻ về những nhiệm vụ Bộ Tư pháp đang triển khai nhằm nâng cao chất lượng xây dựng, kiểm tra, rà soát và tổ chức thi hành pháp luật; đồng thời làm rõ vai trò của dữ liệu và AI trong đổi mới phương thức hoạt động của Ngành Tư pháp.
Pháp luật quốc tế về tội phạm trên không gian mạng và giá trị tham khảo đối với Việt Nam

Pháp luật quốc tế về tội phạm trên không gian mạng và giá trị tham khảo đối với Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư phát triển nhanh, mạnh, tác động lớn đến xã hội và toàn cầu hóa, pháp luật quốc tế ngày càng giữ vai trò quan trọng trong xây dựng các chuẩn mực chung để các quốc gia phối hợp, xử lý hiệu quả tội phạm trên không gian mạng. Nghiên cứu phân tích các nội dung cơ bản của pháp luật quốc tế về tội phạm hóa hành vi, hài hòa hóa hình phạt, tương trợ tư pháp hình sự, dẫn độ, chuyển giao người bị kết án và xác định thẩm quyền tài phán qua các văn kiện quốc tế như Công ước Budapest, Công ước Hà Nội và một số văn kiện liên quan, đồng thời, gợi mở một số giá trị tham khảo đối với Việt Nam trong hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế.
Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Ngày 19/8/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 326/2026/NĐ-CP quy định về định danh địa điểm, đánh dấu bước chuyển quan trọng trong việc thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng về chuyển đổi số quốc gia, hiện đại hóa quản lý đất đai, số hóa dữ liệu trên hệ thống quản lý của Nhà nước. Đây là bước đi mang tầm chiến lược, lấy dữ liệu làm nền tảng, người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ. Nghị định số 326/2026/NĐ-CP gồm 04 chương với 18 điều, thiết lập một khung khổ pháp lý đồng bộ, toàn diện cho việc định danh các địa điểm cụ thể trên toàn lãnh thổ quốc gia. Nghị định đã chứa đựng nhiều điểm mới có tính đột phá về tư duy lập pháp và tư duy quản trị hiện đại.
Chính sách, pháp luật về kiểm soát phân tầng xã hội trong bối cảnh chuyển đổi số

Chính sách, pháp luật về kiểm soát phân tầng xã hội trong bối cảnh chuyển đổi số

Những biến đổi của phân tầng xã hội, tác động của chuyển đổi số và yêu cầu hoàn thiện chính sách, pháp luật nhằm bảo đảm cơ hội tham gia, tiếp cận và thụ hưởng các nguồn lực phát triển là những nội dung được các đại biểu tập trung trao đổi tại Hội thảo khoa học “Chính sách và pháp luật về kiểm soát phân tầng xã hội nhằm mục đích giải quyết hài hòa các quan hệ xã hội" tổ chức ngày 30/9. PGS.TS. Nguyễn Văn Quang, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Luật Hà Nội và TS. Bùi Phương Đình, Phó Giám đốc Học viện Hành chính và Quản trị công đồng chủ trì.
Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam tập trung xử lý các điểm nghẽn về chuyển đổi số

Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam tập trung xử lý các điểm nghẽn về chuyển đổi số

Ngày 19/8/2026, Ban Thường vụ Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam ban hành Kế hoạch số 46-KH/TLĐ về hành động 100 ngày xử lý các điểm nghẽn về chuyển đổi số của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam (Kế hoạch), nhằm tập trung xử lý dứt điểm các điểm nghẽn thuộc phạm vi quản lý, tạo chuyển biến trong phương thức lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành và tổ chức thực hiện nhiệm vụ trên môi trường số.
Chuyển đổi số công tác báo cáo: Tạo lập dữ liệu dùng chung, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật

Chuyển đổi số công tác báo cáo: Tạo lập dữ liệu dùng chung, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật

Trong khuôn khổ Chương trình hợp tác năm 2026 giữa Bộ Tư pháp và Viện Konrad-Adenauer-Stiftung (Viện KAS), ngày 25/9/2026, Bộ Tư pháp phối hợp với Viện KAS tổ chức Hội thảo với chủ đề "Nhu cầu và giải pháp chuyển đổi số trong công tác báo cáo về tổ chức thi hành pháp luật". Tham dự Hội thảo có ông Lewe Paul, Trưởng đại diện Viện KAS tại Việt Nam; đại diện các bộ, ngành ở Trung ương; đại diện một số Sở Tư pháp, Ủy ban nhân dân, sở, ban, ngành trên địa bàn thành phố Hà Nội; đại diện các đơn vị thuộc Bộ Tư pháp và các chuyên gia, nhà khoa học.

Theo dõi chúng tôi trên: