Kế hoạch nêu rõ những nhiệm vụ trọng tâm CCHC, cụ thể:
Về công tác chỉ đạo, điều hành cải cách hành chính
Tiếp tục quán triệt, triển khai thực hiện có hiệu quả các văn bản, chỉ đạo chung về CCHC của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ Nội vụ. Tổ chức giao ban công tác CCHC hoặc thực hiện lồng ghép nội dung vào các cuộc họp giao ban cấp vụ các đơn vị thuộc Bộ, giao ban Ban Chỉ đạo của Bộ Tư pháp về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và Đề án 06.
Đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền về CCHC tại Bộ Tư pháp, đồng thời, mở rộng phạm vi tuyên truyền trên Cổng Pháp luật quốc gia và các ấn phẩm, nền tảng truyền thông của Báo Pháp luật Việt Nam, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật hướng tới cán bộ, công chức, viên chức, người dân và doanh nghiệp bằng nhiều hình thức đa dạng, phù hợp với từng nhóm đối tượng. Ngoài ra, chú trọng cải tiến giao diện và nâng cao chất lượng thông tin trên Trang thông tin CCHC thuộc Cổng thông tin điện tử của Bộ.
Chú trọng thực hiện có hiệu quả việc bồi dưỡng kiến thức, nghiệp vụ về thực hiện CCHC tại Bộ Tư pháp. Đồng thời, tiếp tục gắn việc thực hiện nhiệm vụ CCHC với công tác thi đua, khen thưởng tại Bộ. Khuyến khích việc đề xuất và áp dụng sáng kiến trong công tác CCHC.
Ban hành và tổ chức thực hiện có hiệu quả Kế hoạch kiểm tra công tác CCHC năm 2026 của các đơn vị thuộc Bộ Tư pháp. Thực hiện hiệu quả các nội dung theo yêu cầu tại Quyết định số 1187/QĐ-BNV ngày 15/10/2025 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ phê duyệt Đề án "Xác định Chỉ số cải cách hành chính của các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương". Thực hiện hiệu quả các nội dung theo yêu cầu tại Quyết định số 2224/QĐ-BTP ngày 20/11/2024 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp phê duyệt Đề án đo lường sự hài lòng của người dân, tổ chức đối với việc cung ứng dịch vụ công thuộc thẩm quyền giải quyết của Bộ Tư pháp.
Về cải cách thể chế
Tiếp tục quán triệt và thể chế hóa kịp thời, đầy đủ các nghị quyết, kết luận, chỉ thị, của Bộ Chính trị, Ban Bí thư và các cơ quan có thẩm quyền liên quan đến lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp. Tiếp tục tổ chức thực hiện hiệu quả Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Ban Chấp hành Trung ương về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới và Kế hoạch số 11/KH-TW ngày 28/11/2022 thực hiện Nghị quyết số 27-NQ/TW, Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, huy động mọi nguồn lực tham mưu cho Đảng, Nhà nước trong xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, bảo đảm thể chế phải đi trước, mở đường cho đột phá phát triển.
Tập trung nguồn lực nâng cao chất lượng công tác xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật. Chủ động đôn đốc các bộ, ngành bảo đảm tiến độ, chất lượng các dự án luật, pháp lệnh, nghị quyết trình Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội theo Chương trình lập pháp năm 2026 và Định hướng lập pháp nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI, nhất là các dự án luật có vai trò quan trọng trong việc tạo lập môi trường thuận lợi cho đầu tư, kinh doanh, các dự án, dự thảo luật, pháp lệnh, nghị quyết bảo đảm cơ sở pháp lý đồng bộ cho hoạt động của bộ máy nhà nước theo mô hình chính quyền 3 cấp.
Tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện thể chế trong các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp; tập trung nguồn lực xây dựng, hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật (QPPL) được giao chủ trì soạn thảo, đảm bảo tiến độ, chất lượng đề ra.
Bảo đảm tiến độ và chất lượng công tác thẩm định đề nghị xây dựng văn bản QPPL, thẩm định dự án, dự thảo văn bản QPPL; kiểm soát chặt chẽ việc quy định thủ tục hành chính (TTHC); theo dõi sát kết quả tiếp thu, giải trình ý kiến thẩm định của cơ quan chủ trì soạn thảo.
Chú trọng thực hiện hoạt động kiểm tra, rà soát, xử lý văn bản QPPL kịp thời, đúng pháp luật, phù hợp với bối cảnh sắp xếp tổ chức bộ máy, tổ chức chính quyền địa phương 02 cấp, góp phần tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong xây dựng và thi hành pháp luật. Theo dõi, kiểm soát chặt chẽ các văn bản trái pháp luật được phát hiện, kết luận để có biện pháp đôn đốc, phối hợp xử lý triệt để, đúng quy định, nhất là đối với văn bản có quy định trái pháp luật, gây trở ngại đến quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người dân, tổ chức, môi trường sản xuất, kinh doanh. Thực hiện hiệu quả vai trò Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo rà soát và tổ chức thực hiện việc xử lý vướng mắc trong hệ thống pháp luật; chủ động, kịp thời phát hiện, nghiên cứu, đề xuất xử lý, sửa đổi, hoàn thiện chính sách, quy định của pháp luật, tháo gỡ nhanh nhất các "điểm nghẽn", "nút thắt" về thể chế đang cản trở tiến trình phát triển bứt phá của đất nước. Vận hành hiệu quả Hệ thống thông tin tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị về văn bản QPPL để đảm bảo nguồn dữ liệu thường xuyên, quan trọng phục vụ hoạt động rà soát, xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật tại các bộ, ngành, địa phương.
Tiếp tục chú trọng và phát huy hiệu quả công tác theo dõi thi hành pháp luật, tập trung vào các lĩnh vực được xác định là trọng tâm phát triển kinh tế - xã hội của năm 2026. Thực hiện tốt Kế hoạch theo dõi tình hình thi hành pháp luật trong lĩnh vực trọng tâm, liên ngành năm 2026. Tăng cường hiệu lực, hiệu quả công tác pháp chế và tổ chức thi hành pháp luật; bảo đảm thượng tôn Hiến pháp và pháp luật; tạo đột phá trong công tác thi hành pháp luật, bảo đảm pháp luật được thực hiện công bằng, nghiêm minh, nhất quán, kịp thời, hiệu lực, hiệu quả, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Theo dõi, đôn đốc ban hành văn bản quy định chi tiết thi hành luật, pháp lệnh năm 2026 và tham mưu với Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ các giải pháp khắc phục căn bản tình trạng chậm, nợ ban hành văn bản quy định chi tiết các luật, pháp lệnh, nghị quyết của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Về cải cách thủ tục hành chính
Chủ trì, phối hợp đề xuất, xây dựng, tham mưu ban hành và tổ chức triển khai theo thẩm quyền các nhiệm vụ kiểm soát TTHC, cải cách TTHC trọng tâm năm 2026 trên cơ sở chủ trương, định hướng của cấp trên. Tiếp tục thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ có thời hạn hoàn thành trong năm 2026 và các năm tiếp theo, nhất là đảm bảo hoàn thành chỉ tiêu năm 2026 theo yêu cầu tại Nghị quyết số 66/NQ-CP ngày 26/3/2025 của Chính phủ.
Tiếp tục thực hiện nghiêm việc công bố, công khai, minh bạch đầy đủ, chính xác, kịp thời thông tin về TTHC trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về TTHC; tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị của cá nhân, tổ chức về quy định, hành vi hành chính trên Cổng Dịch vụ công quốc gia.
Tiếp tục triển khai thực hiện có hiệu quả việc đổi mới cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết TTHC, tập trung nguồn lực đẩy nhanh số hóa hồ sơ, kết quả giải quyết TTHC. Đảm bảo chất lượng công tác kiểm soát TTHC, giải quyết TTHC cho người dân, doanh nghiệp sau khi sắp xếp bộ máy và thực hiện mô hình chính quyền địa phương 02 cấp. Đẩy mạnh tái sử dụng dữ liệu đã được số hóa giữa các bộ, ngành, địa phương thông qua kết nối, chia sẻ dữ liệu. Tiếp tục theo dõi việc thực hiện giải quyết TTHC thuộc lĩnh vực quản lý bảo đảm đúng tiến độ về thời gian, chất lượng, hiệu quả; kịp thời phối hợp với địa phương giải quyết khó khăn, vướng mắc (nếu có) trong quá trình thực hiện TTHC.
Về cải cách tổ chức bộ máy hành chính nhà nước
Tiếp tục triển khai, thể chế hóa kịp thời, hiệu quả các chủ trương, quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước về tổ chức cán bộ bảo đảm phù hợp với các chủ trương, định hướng Đảng, quy định pháp luật và hướng dẫn của cơ quan có thẩm quyền, tạo cơ sở cho việc kiện toàn chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của Bộ, các cơ quan tư pháp địa phương theo hướng tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả.
Thực hiện kiện toàn tổ chức bộ máy của Bộ Tư pháp và tiếp tục củng cố, kiện toàn tổ chức bộ máy, xây dựng ngành Tư pháp trong nhiệm kỳ Chính phủ 2026 - 2031, trong đó trọng tâm là triển khai Nghị định thay thế Nghị định số 39/2025/NĐ-CP ngày 26/02/2025 của Chính phủ bảo đảm tinh, gọn, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả; theo dõi, hướng dẫn kịp thời việc thực hiện các quy định về chức năng, nhiệm vụ và tổ chức cán bộ của các cơ quan tư pháp địa phương theo mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp.
Về cải cách chế độ công vụ
Rà soát, nâng cao chất lượng đội ngũ công chức làm công tác xây dựng pháp luật theo chỉ đạo tại Nghị quyết số 197/2025/QH15 ngày 17/5/2025 về một số cơ chế, chính sách đặc biệt tạo đột phá trong xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật; thực hiện công tác tuyển dụng, quy hoạch, bổ nhiệm, luân chuyển, điều động, đào tạo, bồi dưỡng, đánh giá cán bộ, tăng cường kỷ luật, kỷ cương, xây dựng đội ngũ cán bộ đủ phẩm chất, năng lực, ngang tầm nhiệm vụ, có biên chế hợp lý theo đúng chủ trương, định hướng của Đảng và Chính phủ. Tham mưu thực hiện chế độ, chính sách cho công chức, viên chức và người lao động Bộ Tư pháp theo thẩm quyền.
Xây dựng và triển khai hiệu quả các chương trình, kế hoạch, đề án về đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức trong giai đoạn 2026 - 2030; tiếp tục nâng cao chất lượng, hiệu quả đào tạo, bồi dưỡng, xây dựng đội ngũ nhân lực chất lượng cao, chuyên gia của Bộ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của ngành Tư pháp trong giai đoạn mới.
Xây dựng, phê duyệt vị trí việc làm; xây dựng bản mô tả công việc và khung năng lực đối với từng vị trí việc làm; đồng thời xác định tỷ lệ công chức bố trí theo vị trí việc làm của Bộ Tư pháp để làm cơ sở cho việc quản lý biên chế, tuyển dụng, bố trí, sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng và đánh giá công chức, bảo đảm phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của từng đơn vị và yêu cầu cải cách hành chính trong giai đoạn hiện nay.
Về cải cách tài chính công
Quyết liệt, đổi mới, sáng tạo trong công tác phòng chống tham nhũng, tiêu cực, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong các lĩnh vực công tác kế hoạch - tài chính, nhất là lĩnh vực mua sắm tài sản công, đấu thầu, đầu tư công.
Tập trung thực hiện tốt công tác kế hoạch theo hướng mọi nhiệm vụ phải được triển khai, đánh giá, bảo đảm nguồn lực thực hiện trên cơ sở kế hoạch đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt, ban hành. Tiếp tục tích cực, tham mưu kịp thời cho Bộ, ngành triển khai các nhiệm vụ về phát triển kinh tế - xã hội dài hạn, 05 năm.
Tổ chức xây dựng và triển khai hiệu quả kế hoạch tài chính ngân sách năm 2026 theo đúng chỉ đạo của Chính phủ, hướng dẫn của Bộ Tài chính; kịp thời quán triệt, hướng dẫn các đơn vị thực hiện các văn bản, chế độ trong lĩnh vực ngân sách, tài sản; thực hiện hiệu quả cơ chế tự chủ tài chính của đơn vị sự nghiệp công lập; tập trung rà soát, sắp xếp lại, xử lý các cơ sở nhà, đất thuộc sở hữu nhà nước đối với các cơ sở nhà, đất thuộc Bộ Tư pháp quản lý theo quy định; thực hiện có hiệu quả chính sách, pháp luật về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; thực hiện nghiêm kết luận của cơ quan thanh tra, kiểm toán trong lĩnh vực quản lý ngân sách - tài sản, đầu tư công.
Tổ chức triển khai thực hiện nghiêm, đầy đủ, kịp thời, hiệu quả các văn bản chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Lãnh đạo Bộ và các bộ, ngành có liên quan về công tác đầu tư công; tập trung thực hiện hiệu quả kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026 - 2030, kế hoạch vốn đầu tư công hằng năm; tổ chức thực hiện công tác chuẩn bị đầu tư các dự án dự kiến khởi công mới năm 2026; tập trung xử lý dứt điểm công tác quyết toán vốn đầu tư các dự án đã hoàn thành, đưa vào sử dụng; tăng cường công tác giám sát, đánh giá đầu tư.
Kịp thời triển khai có hiệu quả Thông tư phân cấp thẩm quyền của Bộ trưởng Bộ Tư pháp quản lý trong các lĩnh vực ngân sách, tài sản công, đầu tư xây dựng và đầu tư ứng dụng công nghệ thông tin ngay sau khi được ban hành.
Về xây dựng và phát triển Chính phủ điện tử, Chính phủ số
Thực hiện chuyển đổi số toàn diện, nâng cao hiệu quả quản lý và phục vụ trong ngành Tư pháp. Tăng cường ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) và dữ liệu lớn (Big Data) trong quản lý nhà nước về pháp luật; tích cực triển khai các hoạt động ứng dụng công nghệ số, chuyển đổi số phục vụ đổi mới, hiện đại hóa công tác xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật; phát triển hạ tầng công nghệ thông tin, hệ thống thông tin, nền tảng số phục vụ hoạt động quản lý, xây dựng, ban hành văn bản QPPL và một số nhiệm vụ, hoạt động tổ chức thi hành pháp luật hỗ trợ tiếp cho xây dựng pháp luật, bảo đảm an toàn, an ninh thông tin. Trong đó tập trung triển khai 02 Đề án lớn (Đề án xây dựng cơ sở dữ liệu lớn về pháp luật và Đề án ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong công tác xây dựng, kiểm tra và rà soát văn bản quy phạm pháp luật), xây dựng và vận hành 05 cơ sở dữ liệu số cốt lõi; xây dựng Bản đồ pháp luật quốc gia, liên thông với các cơ quan trung ương và địa phương; đẩy mạnh tích hợp, chia sẻ thông tin, dữ liệu giữa các hệ thống thông tin phục vụ chỉ đạo, điều hành.
Thực hiện các nhiệm vụ theo Quyết định số 1443/QĐ-BTP ngày 13/5/2025 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Kế hoạch của Bộ Tư pháp thực hiện Nghị quyết số 71/NQ-CP ngày 01/4/2025 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung, cập nhật Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia và Kế hoạch Ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, bảo đảm an toàn thông tin, an ninh mạng của Bộ, ngành Tư pháp năm 2026.
Tập trung thực hiện tốt Đề án phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2022 2025, tầm nhìn đến năm 2030 (ban hành kèm theo Quyết định số 06/QĐ-TTg ngày 06/01/2022 của Thủ tướng Chính phủ). Chủ động phối hợp và thúc đẩy triển khai việc cung cấp các dịch vụ công lĩnh vực tư pháp qua ứng dụng VNeID cho người dân, doanh nghiệp.