Thứ năm 20/08/2026 04:26
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Công ước New York năm 1958 về công nhận và cho thi hành phán quyết trọng tài nước ngoài và kinh nghiệm khi Việt Nam gia nhập, thực thi Công ước Liên Hợp quốc về thỏa thuận quốc tế giải quyết tranh chấp thông qua hòa giải

Công ước của Liên Hợp quốc về công nhận và cho thi hành phán quyết trọng tài nước ngoài được ký tại New York ngày 10/6/1958, có hiệu lực ngày 07/6/1959[1] (Công ước New York) và Công ước của Liên Hợp quốc về thỏa thuận quốc tế giải quyết tranh chấp thông qua hòa giải, ký tại Singapore ngày 07/8/2019, có hiệu lực ngày 12/9/2020[2]

Công ước của Liên Hợp quốc về công nhận và cho thi hành phán quyết trọng tài nước ngoài được ký tại New York ngày 10/6/1958, có hiệu lực ngày 07/6/1959[1] (Công ước New York) và Công ước của Liên Hợp quốc về thỏa thuận quốc tế giải quyết tranh chấp thông qua hòa giải, ký tại Singapore ngày 07/8/2019, có hiệu lực ngày 12/9/2020[2] (Công ước Singapore) là hai công ước quốc tế quan trọng với chung một mục tiêu là bảo đảm giá trị của kết quả giải quyết tranh chấp thương mại xuyên quốc gia khi các bên không tự nguyện thi hành. Ngoài mục tiêu chung, hai công ước có nhiều điểm tương đồng về cách tiếp cận cũng như cơ chế thực hiện. Việt Nam đã gia nhập Công ước New York từ năm 1995, sau gần 30 năm thi hành, các cơ quan chức năng trong nước đã có những đánh giá về tình hình thực thi và áp dụng các giải pháp để cải thiện hơn nữa hiệu quả thi hành Công ước tại Việt Nam. Trong khi đó, Công ước Singapore là công ước mới không chỉ với Việt Nam mà với cả cộng đồng quốc tế cả về lý luận lẫn thực tiễn. Do đó, việc nghiên cứu tình hình thực thi Công ước New York năm 1958 trong thời gian qua sẽ gợi mở những vấn đề cần xử lý cho Việt Nam khi gia nhập Công ước Singapore trong thời gian tới.
1. Giới thiệu sơ lược Công ước New York năm 1958
Công ước gồm 16 điều, trong đó, từ Điều 1 đến Điều 7 về nội dung quan trọng. Công ước tạo cơ sở pháp lý quốc tế để phán quyết trọng tài được tuyên một cách hợp lệ và hợp pháp tại một quốc gia thành viên, sẽ được công nhận và cho thi hành tại các quốc gia thành viên khác. Với mục tiêu thiết lập một cơ chế công nhận và cho thi hành đơn giản, Công ước tiếp cận trên tinh thần ủng hộ việc thi hành (pro-enforcement) theo cơ chế chọn - bỏ, nghĩa là về cơ bản, các phán quyết của trọng tài nước ngoài sẽ được công nhận và thi hành tại các quốc gia thành viên Công ước, chỉ trừ một số trường hợp được từ chối rất hãn hữu.
Công ước New York năm 1958 xác định những nguyên tắc chính sau: (i) Các quốc gia thành viên Công ước thừa nhận giá trị hiệu lực của một thỏa thuận trọng tài bằng văn bản, đồng thời, bảo đảm các Tòa án của họ sẽ từ chối thụ lý vụ kiện trong trường hợp các bên tranh chấp đã có một thỏa thuận trọng tài. (ii) Các quốc gia thành viên Công ước bảo đảm việc công nhận và cho thi hành trên lãnh thổ của mình một phán quyết trọng tài đã được tuyên trên lãnh thổ quốc gia thành viên khác. Tuy Công ước không đưa ra định nghĩa nhưng nhiều tài liệu xác định nơi phán quyết trọng tài được tuyên trùng với địa điểm tố tụng trọng tài[3]. (iii) Các quốc gia thành viên không được có sự phân biệt đối xử giữa việc công nhận và cho thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài so với phán quyết của trọng tài trong nước, không được đặt ra các điều kiện khó khăn đáng kể hoặc các khoản phí cao hơn so với công nhận và cho thi hành phán quyết trọng tài trong nước. (iv) Công ước cho phép áp dụng các quy định có lợi hơn đối với việc công nhận và cho thi hành phán quyết trọng tài được quy định trong các điều ước quốc tế khác hoặc pháp luật quốc gia.
Với cùng mục tiêu là hướng đến việc bảo đảm thực thi các phán quyết trọng tài và thỏa thuận hòa giải thương mại xuyên quốc gia, Công ước New York và Công ước Singapore có những tương đồng nhất định về phạm vi áp dụng, về nghĩa vụ của các quốc gia thành viên, về quy trình, thủ tục trong nước trong việc công nhận, về các căn cứ từ chối công nhận cũng như giá trị pháp lý của việc công nhận.


2. Thực trạng thực thi Công ước New York năm 1958 tại Việt Nam
2.1. Tình hình thực hiện Công ước New York năm 1958
Về hoàn thiện thể chế, để thực hiện tốt vai trò thành viên Công ước, Việt Nam đã có những bước chuẩn bị nhất định từ xây dựng, hoàn thiện thể chế và thiết lập cơ chế thi hành. Công ước có hiệu lực với Việt Nam vào ngày 12/9/1995[4] và chỉ 02 ngày sau, Pháp lệnh về Công nhận và thi hành tại Việt Nam quyết định của trọng tài nước ngoài đã được ban hành ngày 14/9/1995, có hiệu lực từ ngày 01/01/1996. Do vậy, có thể nói việc hoàn thiện pháp luật trong nước đã được tiến hành song song với quá trình nghiên cứu, gia nhập Công ước. Với 24 điều, Pháp lệnh này là văn bản pháp lý đầu tiên nội luật hóa các quy định của Công ước New York, điều chỉnh về thuật ngữ “quyết định của trọng tài nước ngoài”, các nguyên tắc công nhận và cho thi hành, về bảo đảm hiệu lực pháp luật các quyết định của Tòa án công nhận và cho thi hành tại Việt Nam quyết định của trọng tài nước ngoài, xác định các trường hợp loại trừ và quy trình, thủ tục cụ thể trong việc xem xét đơn yêu cầu. Nội dung này sau đó tiếp tục được sửa đổi, hoàn thiện hơn tại Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004[5] và Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015[6].
Về cơ chế, pháp luật Việt Nam quy định Tòa án có thẩm quyền xét đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam quyết định của trọng tài nước ngoài là Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, nơi tổ chức phải thi hành có trụ sở chính, nơi cá nhân phải thi hành cư trú, làm việc hoặc nơi có tài sản liên quan đến việc thi hành[7]. Thẩm quyền này được tiếp tục ghi nhận tại các Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004[8] và năm 2015[9].
Mặc dù là thành viên Công ước từ năm 1995 nhưng phải đến 20 năm sau, việc theo dõi quá trình thực thi Công ước mới thực sự được quan tâm (sau khi Bộ Tư pháp, với vai trò là cơ quan trung ương của Việt Nam tại các hiệp định tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dân sự có đánh giá về việc thực thi Công ước như là một phần của các hiệp định thông qua hoạt động báo cáo tổng kết 20 năm thi hành Công ước New York). Gần đây, trong khuôn khổ dự án Chương trình phát triển Liên Hợp quốc (UNDP), các chuyên gia độc lập đã xây dựng báo cáo đánh giá, so sánh quy định pháp luật Việt Nam về công nhận và cho thi hành phán quyết trọng tài với luật mẫu UNCITRAL[10], trong đó, có đánh giá sơ lược về tình hình thực thi Công ước New York. Trong giai đoạn từ năm 2012 - 2019, có 55 Tòa án giải quyết tổng số 84 quyết định của trọng tài nước ngoài. Trong đó, số quyết định công nhận là 39, số không công nhận là 33, số đình chỉ giải quyết là 12. Như vậy, trung bình mỗi năm cả nước giải quyết 09 - 10 yêu cầu.
2.2. Đánh giá tình hình thực thi Công ước New York năm 1958
Về hoàn thiện thể chế, có thể thấy rằng, công tác xây dựng pháp luật trong nước để thực thi Công ước đã được tiến hành từ rất sớm, thể hiện bước đi chủ động của Việt Nam trong việc thiết lập khuôn khổ pháp lý cho việc thực hiện Công ước. Tuy vậy, một số quy định của pháp luật trong nước chưa thực sự phù hợp với các quy định của Công ước, ví dụ như căn cứ từ chối công nhận hoặc về nghĩa vụ chứng minh: Một trong các căn cứ từ chối công nhận phán quyết của trọng tài nước ngoài là trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam[11] nhưng theo Điều 5 Công ước New York năm 1958, “việc công nhận và thi hành quyết định trọng tài có thể bị từ chối nếu như cơ quan có thẩm quyền của nước nơi việc công nhận và thi hành đó được yêu cầu, cho rằng: … việc công nhận và thi hành sẽ trái với trật tự công cộng của nước đó”. Bên cạnh đó, Công ước New York năm 1958 đã có quy định nghĩa vụ chứng minh thuộc về bên phải thi hành nhưng quy định trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 của Việt Nam (sửa đổi, bổ sung năm 2011) vẫn chưa rõ ràng và trong nhiều trường hợp, Tòa án vẫn yêu cầu bên được thi hành phải cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ để chứng minh phán quyết không rơi vào các trường hợp loại trừ bị từ chối thi hành[12].
Về tổ chức thực hiện, có thể đánh giá về tình hình thực hiện Công ước New York năm 1958 của Việt Nam thời gian qua như sau:
- Theo địa bàn giải quyết: Việc giải quyết loại việc về công nhận và cho thi hành quyết định trọng tài nước ngoài chủ yếu tập trung ở ở các thành phố lớn như Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh (38 việc, chiếm 45,2% tổng số việc) và Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội (15 việc, chiếm khoảng 17,9 % tổng số việc), một nửa số Tòa án nhân dân cấp tỉnh không giải quyết bất kỳ một yêu cầu nào.
- Về tỷ lệ: Tỷ lệ các phán quyết không được công nhận ở Việt Nam cao, chiếm khoảng 40% tổng số các phán quyết, có thời điểm các Tòa án Việt Nam đã liên tiếp ra quyết định không công nhận 06/07 phán quyết của ICA. Điều này có thể ảnh hưởng rất lớn đến vị thế, hình ảnh của Việt Nam trong thương mại quốc tế.
- Về lý do không công nhận, số liệu báo cáo chỉ ra rằng, Tòa án thường căn cứ vào các điểm a, b, c, d, khoản 1 và điểm b khoản 2 Điều 5 Công ước New York năm 1958 và điểm a, điểm c khoản 1 Điều 370 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004; có vụ việc Tòa án áp dụng điểm b khoản 2 Điều 370 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 về việc công nhận và cho thi hành tại Việt Nam quyết định trọng tài là trái với nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam để ra quyết định không công nhận.
- Về thời hạn giải quyết: Việc giải quyết yêu cầu công nhận và cho thi hành phán quyết trọng tài nước ngoài trên thực tế còn chậm trễ so với quy định của pháp luật. Về thời gian áp dụng cho Tòa án thụ lý và đưa ra quyết định công nhận hay không công nhận quyết định của trọng tài nước ngoài tối đa là 04 tháng 20 ngày (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015). Tuy nhiên, hầu hết các vụ việc đều quá hạn, có những vụ việc kéo dài hơn 01 năm kể từ ngày thụ lý đến khi ra quyết định. Quy định mới của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 không thay đổi về khoảng thời gian này nhưng thực tế cho thấy thời hạn Tòa án giải quyết vụ việc đã được rút ngắn hơn so với trước đây nhưng vẫn chưa hoàn toàn đáp ứng các quy định về thời hạn trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, trung bình các vụ việc mới được giải quyết trong khoảng thời gian từ 07 - 08 tháng.
- Về nhận thức của các thẩm phán, còn có cách hiểu và áp dụng Công ước New York năm 1958 của thẩm phán không thống nhất. Một số Tòa án phân tích, đánh giá quyết định của trọng tài nước ngoài so với quy định của Công ước và quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, một số Tòa án nhân dân khác lại không đề cập gì đến Công ước hoặc chỉ nhắc đến tên Công ước mà không có phân tích cụ thể[13]. Các nhận định của Tòa án trong các quyết định không công nhận trong nhiều vụ việc chưa đánh giá toàn bộ lập luận của các bên liên quan hoặc có cơ sở không vững chắc như: (i) Trung tâm trọng tài đổi tên nên Tòa án xác định Hội đồng trọng tài không có thẩm quyền giải quyết tranh chấp; (ii) Tòa án yêu cầu người được thi hành phải chứng minh việc đã tống đạt hợp lệ các tài liệu của Hội đồng trọng tài; (iii) Một số phán quyết của trọng tài nước ngoài bị cho là vi phạm nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam vì cho rằng hình thức của hợp đồng không phù hợp do thiếu chữ ký hoặc dấu của một bên nhưng không phân tích về pháp luật áp dụng với hợp đồng.
- Công tác tổng kết, rà soát, đánh giá, đôn đốc việc công nhận và cho thi hành phán quyết trọng tài nước ngoài cũng như thực hiện Công ước New York chưa được quan tâm đúng mức và thực hiện định kỳ, thường xuyên.
2.3. Nguyên nhân của những hạn chế, bất cập
Về nhận thức của thẩm phán: (i) Vẫn còn có cách nhìn nhận chưa thống nhất về vai trò hỗ trợ của Tòa án đối với hoạt động trọng tài, trong đó có giải quyết yêu cầu công nhận và cho thi hành phán quyết trọng tài nước ngoài. Một số trường hợp Tòa án chưa nhận thức đầy đủ về ý nghĩa của công nhận và cho thi hành phán quyết trọng tài nước ngoài cũng như tác động của hoạt động này đối với môi trường đầu tư, kinh doanh của Việt Nam, đến niềm tin của các đối tác nước ngoài đối với hệ thống tư pháp của Việt Nam.
Về cơ chế thực thi, việc dàn trải thẩm quyền giải quyết loại việc này cho tất cả các Tòa án cấp tỉnh trên toàn quốc như hiện nay thì khó tập trung được nguồn lực bảo đảm đáp ứng yêu cầu của công tác này. Trên thực tế, việc giải quyết các yêu cầu cũng tập trung chủ yếu ở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, còn một số Tòa án khác từ khi Công ước New York có hiệu lực tới nay, chỉ giải quyết trên dưới 05 yêu cầu. Mặc dù Bộ Tư pháp là cơ quan đầu mối nhưng các Tòa án do không nắm được quy định mới của Bộ luật Tố tụng dân sự nên đã không gửi các quyết định cho Bộ Tư pháp. Tòa án nhân dân tối cao cũng không công khai các quyết định này, dẫn đến khó khăn trong thực hiện nhiệm vụ của Bộ Tư pháp, đặc biệt là theo dõi tình hình, tập hợp tài liệu, đưa ra các khuyến nghị.
Công tác thống kê ở các Tòa án địa phương và sự phối hợp thông tin cho cơ quan đầu mối thực thi Công ước New York chưa được thực hiện tốt.
Công tác đào tạo, tập huấn chuyên sâu về Công ước và hướng dẫn nghiệp vụ giải quyết các yêu cầu công nhận và cho thi hành phán quyết trọng tài nước ngoài để nâng cao trình độ chuyên môn cho đội ngũ cán bộ trực tiếp thực hiện công tác này cũng đã được Tòa án nhân dân tối cao quan tâm thực hiện thường xuyên hơn so với trước đây nhưng hiệu quả trên thực tế chưa cao, bằng chứng là tỷ lệ công nhận các phán quyết vẫn chưa có thay đổi đáng kể.
Việc nghiên cứu, học hỏi kinh nghiệm quốc tế và án lệ quốc tế trong thực thi Công ước tại các quốc gia phát triển về công tác trọng tài chưa được tiến hành. Điều này ít nhiều ảnh hưởng đến việc nhìn nhận, đánh giá, ra quyết định của các Tòa án đảm bảo phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế. Các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp chưa thực sự chủ động, thường giữ thái độ im lặng và không tham gia quá trình tố tụng trọng tài ở nước ngoài dẫn đến kết quả bất lợi khi xét xử vụ việc.
3. Kinh nghiệm cho Việt Nam trong trường hợp gia nhập Công ước Singapore
Thứ nhất, cần đẩy mạnh tuyên truyền về Công ước Singapore đến các đối tượng liên quan ngay từ khâu nghiên cứu gia nhập Công ước.
Các doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp có hoạt động kinh doanh với các đối tác nước ngoài cần được tuyên truyền để trang bị đầy đủ nhận thức về biện pháp hòa giải, về hòa giải thương mại quốc tế và cơ chế bảo đảm thỏa thuận thương mại quốc tế được ghi nhận tại Công ước Singapore. Việc nhận thức đầy đủ về phương thức giải quyết tranh chấp thông qua hòa giải sẽ khuyến khích các doanh nghiệp lựa chọn phương thức hòa giải, qua đó, thúc đẩy hoạt động hòa giải thương mại quốc tế phát triển, giúp đẩy nhanh tiến trình giải quyết các bất đồng trong kinh doanh thương mại.
Việc tuyên truyền về Công ước Singapore cũng cần được xem xét đến các hòa giải viên và các tổ chức hòa giải nơi các hoạt động hòa giải thương mại sẽ được tiến hành. Việc các đối tượng này được trang bị kiến thức đầy đủ về Công ước sẽ giúp họ tự tin hơn trong việc thực hiện hoạt động hòa giải. Vì vậy, nâng cao năng lực cho các hòa giải viên cũng là tạo niềm tin cho các bên tranh chấp tìm đến lựa chọn phương thức hòa giải này. Đặc biệt, việc nâng cao năng lực cho hòa giải viên còn có ý nghĩa hơn khi một trong những yếu tố có thể dẫn đến không công nhận thỏa thuận hòa giải thương mại quốc tế theo Công ước Singapore có liên quan đến điều kiện, tiêu chuẩn về hòa giải viên (Điều 5.1.e Công ước).
Thứ hai, cần nâng cao năng lực của các thẩm phán cán bộ Tòa án trong xem xét giải quyết các thỏa thuận hòa giải để tránh việc lặp lại những hạn chế trong thi hành Công ước New York, cũng như trang bị kiến thức về hòa giải thương mại quốc tế, công nhận thỏa thuận hòa giải thương mại quốc tế.
Thứ ba, xác định cơ quan đầu mối ngay từ khi gia nhập Công ước Singapore. Cũng giống như Công ước New York, Công ước Singapore không quy định về trách nhiệm hợp tác giữa các quốc gia nhưng có quy định về nghĩa vụ của các quốc gia trong việc thi hành bản thỏa thuận hòa giải. Rút kinh nghiệm từ thực thi Công ước New York, sau khi tổng kết 20 năm thực thi mới chỉ định cơ quan đầu mối đóng vai trò theo dõi, rà soát quá trình công nhận và cho thi hành phán quyết trọng tài nước ngoài[14]. Sự thiếu vắng một cơ quan đầu mối đã ít nhiều ảnh hưởng đến tính thống nhất trong việc áp dụng Công ước. Chính vì vậy, để bảo đảm việc áp dụng Công ước Singapore một cách thống nhất, đồng thời quản lý, theo dõi hoạt động công nhận thỏa thuận quốc tế hòa giải thương mại, bảo đảm trong lĩnh vực công nhận thỏa thuận quốc tế hòa giải thương mại, nguyên tắc tôn trọng các cam kết quốc tế tuân thủ cần thiết phải giao cho một cơ quan đầu mối. Việc giao cho cơ quan nào thực hiện nhiệm vụ này phải phân tích, đánh giá sự phù hợp, sự thuận lợi trong quản lý đảm bảo tính hiệu quả. Căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan có liên quan hiện nay nhiệm vụ cơ quan đầu mối có thể giao cho Tòa án nhân dân tối cao hoặc Bộ Tư pháp.
Thứ tư, cũng giống như việc giải quyết yêu cầu công nhận và cho thi hành phán quyết trọng tài, việc giải quyết đơn yêu cầu công nhận thỏa thuận hòa giải quốc tế cũng cần thiết được cân nhắc giao cho một số Tòa án trọng điểm. Thực tế giải quyết yêu cầu công nhận và cho thi hành quyết định trọng tài nước ngoài cho thấy, việc giải quyết các yêu cầu này chủ yếu tập trung tại các địa phương nhất định nơi phát sinh nhiều hoạt động kinh doanh thương mại của cả nước. Trong tương lai, nếu số lượng các loại yêu cầu này phát sinh nhiều, việc giao cho Tòa án nhân dân cấp tỉnh trên cả nước là cần thiết và thuận lợi. Tuy nhiên, trong thời gian tới, khi yêu cầu chưa nhiều, việc giao cho một vài Tòa án xem xét và xử lý loại việc này sẽ giúp cho việc giải quyết được chuyên trách, bài bản, chuyên nghiệp hơn. Việc theo dõi, đánh giá quá trình thực hiện thông qua đó cũng thuận lợi hơn.
Thứ năm, song song với các biện pháp như trên, cơ quan chủ trì cần quan tâm đến đánh giá, rà soát pháp luật về hòa giải thương mại quốc tế và pháp luật tố tụng có liên quan từ đó, kiến nghị hoàn thiện các khoảng trống và chồng chéo, tạo ra hành lang pháp lý rõ ràng và đầy đủ cho công tác này, đảm bảo việc thực hiện thống nhất trên cả nước.
Ngoài ra, để việc thực thi Công ước Singapore được thuận lợi, Việt Nam cần tích cực chủ động liên hệ với Ủy ban thương mại quốc tế - Cơ quan soạn thảo Công ước trong việc cử đại diện tham dự hội thảo, diễn đàn, tập hợp các hướng dẫn của Ban thư ký, học hỏi kinh nghiệm của các quốc gia đã là thành viên của Công ước. Điều này không những giúp các Tòa án của Việt Nam gặt hái được các bài học bổ ích mà còn thể hiện sự tích cực, chủ động của Việt Nam với tư cách là thành viên của Công ước.
Tham gia một điều ước quốc tế mang lại cho mỗi quốc gia các quyền lợi nhưng đồng thời cũng có nghĩa vụ thực hiện các cam kết ghi nhận tại các điều ước quốc tế đó. Việc thực hiện tốt các cam kết cũng là thể hiện tư cách thành viên tích cực và có trách nhiệm. Do vậy, trong quá trình nghiên cứu, gia nhập Công ước Singapore, cơ quan chủ trì cần có các nghiên cứu thấu đáo, tham khảo kỹ các bài học rút ra từ quá trình thực thi Công ước New York, đánh giá trung thực mức độ cần thiết, tính tương thích và đề xuất các bước chuẩn bị phù hợp với nguồn lực sẵn có. Có như vậy, việc thực hiện Công ước mới thực sự hiệu quả, góp phần thúc đẩy hoạt động hòa giải nói riêng và môi trường đầu tư kinh doanh tại Việt Nam nói chung.

Dương Thị Bích Đào
Vụ Pháp luật quốc tế, Bộ Tư pháp
Ảnh: ST


[1]. https://treaties.un.org/Pages/ViewDetails.aspx?src=TREATY&mtdsg_no=XXII-1&chapter=22&clang=_en
[2]. https://www.singaporeconvention.org/convention/about.
[3]. UNCITRAL - UNCITRAL Secretariat Guide on the Convention on the Recognition and Enforcement of Foreign Arbitral Awards (New York, 1958) [Hướng dẫn của Ban Thư ký UNCITRAL về Công ước công nhận và cho thi hành phán quyết trọng tài nước ngoài] - tr. 49.
Fraser P. Davidson - Where is an Arbitral Award Made?: Hiscox v. Outhwaite - The International and Comparative Law Quarterly, Vol. 41, No. 3 (Jul., 1992), tr. 637 - 645.
[4]. Xem tại https://www.newyorkconvention.org/countries.
[5]. Tại Phần thứ sáu Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 - Thủ tục công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyêt định dân sự của Tòa án nước ngoài, quyết định của trọng tài nước ngoài.
[6]. Tại Phần thứ bảy Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 - Thủ tục công nhận và cho thi hành tại Việt Nam hoặc không công nhận bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài; công nhận và cho thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài.
[7]. Điều 4 Pháp lệnh về Công nhận và thi hành tại Việt Nam năm 1995.
[8]. Điều 30 và 34 Bộ luật Tố tụng dân sự năm năm 2004.
[9]. Điều 31 và Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự năm năm 2015.
[10]. Báo cáo chuyên gia độc lập Vũ Đức Long, Chu Thu Hiền và Richard Garnett, thực hiện năm 2020.
[11]. Điểm b khoản 2 Điều 459 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[12]. Sau này, Điều 453 Bộ luật Tố tụng năm 2015 đã sửa đổi theo hướng phù hợp với quy định của Công ước.
[13]. Mặc dù khoản 4 Điều 458 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 xác định nghĩa vụ của Tòa án kiểm tra đối chiếu phán quyết của trọng tài với điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên để làm cơ sở cho việc ra quyết định công nhận hoặc không công nhận phán quyết đó nhưng hiện nay, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 không có quy định riêng về nội dung buộc phải có đối với quyết định công nhận hoặc không công nhận phán quyết của trọng tài nước ngoài (bao gồm nội dung về căn cứ pháp luật). Trong khi đó, nội dung bản án giải quyết vụ án dân sự (khoản 2 Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và nội dung quyết định giải quyết việc dân sự (khoản 1 Điều 370 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) đều phải có căn cứ pháp luật. Việc Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 tách thủ tục công nhận và cho thi hành khỏi các việc dân sự không có tranh chấp tuy giúp cho các thẩm phán hiểu rằng thủ tục này khác biệt với các thủ tục giải quyết việc thông thường - Tòa án không xem xét về nội dung vụ việc nhưng lại làm cho thủ tục này bị thiếu hụt khi không đủ các quy định dẫn chiếu và áp dụng các phần khác của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[14]. Công văn số 1001/VPCP-PL ngày 20/5/2015 của Văn phòng Chính phủ.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quyết tâm đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị và mô hình chính quyền địa phương hai cấp

Quyết tâm đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị và mô hình chính quyền địa phương hai cấp

Trong bối cảnh cả hệ thống chính trị đang nỗ lực thực hiện các mục tiêu chiến lược nhằm tinh gọn bộ máy, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị, Bộ Tư pháp đã ban hành Kế hoạch triển khai Kết luận số 76-KL/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV và Nghị quyết số 221/NQ-CP của Chính phủ. Kế hoạch này là cơ sở định hướng quan trọng cho những chuyển đổi mang tính đột phá của Bộ Tư pháp trong giai đoạn tới.
Đột phá thể chế trong phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2045

Đột phá thể chế trong phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2045

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV) xác định đột phá thể chế là nền tảng của mọi cải cách lớn nhằm hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước đến năm 2045. Tư duy thể chế trong Văn kiện Đại hội XIV nhấn mạnh trực diện đến hiệu lực tổ chức thực hiện pháp luật như thước đo trung tâm của chất lượng thể chế. Trên cơ sở đó, bài viết phân tích những điểm mới về tư duy thể chế trong Văn kiện Đại hội XIV; làm rõ mối quan hệ giữa đột phá thể chế và phát triển kinh tế nhà nước; đồng thời luận giải vai trò trung tâm của Bộ Tư pháp trong thể chế hóa các nghị quyết của Đảng và tổ chức thực hiện pháp luật trong giai đoạn phát triển mới.
Diễn đàn Pháp luật ASEAN năm 2026: Thúc đẩy ứng dụng AI trong xây dựng và thi hành pháp luật

Diễn đàn Pháp luật ASEAN năm 2026: Thúc đẩy ứng dụng AI trong xây dựng và thi hành pháp luật

Từ ngày 18 - 19/8/2026, Bộ Tư pháp Việt Nam sẽ đăng cai tổ chức Diễn đàn Pháp luật ASEAN năm 2026 với chủ đề "Ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong công tác xây dựng và thi hành pháp luật trong kỷ nguyên số". Diễn đàn là cơ hội để các nước ASEAN chia sẻ kinh nghiệm, trao đổi chính sách, thúc đẩy hợp tác trong ứng dụng AI, hướng tới xây dựng hệ thống pháp luật hiện đại, hài hòa và thích ứng với yêu cầu của kỷ nguyên số. Dịp này, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh đã có cuộc trả lời phỏng vấn báo chí.
Nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong thực hiện chính quyền địa phương hai cấp

Nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong thực hiện chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Trong bối cảnh cải cách tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, hiệu lực, hiệu quả, việc triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp đặt ra yêu cầu đổi mới phương thức quản trị ở địa phương. Cùng với quá trình phân cấp, phân quyền mạnh mẽ, phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành công cụ quan trọng nhằm bảo đảm đội ngũ cán bộ, công chức và người dân hiểu đúng, thực hiện đúng pháp luật, qua đó, nâng cao chất lượng quản lý nhà nước và xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật trong xã hội. Nghiên cứu phân tích cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong điều kiện thực hiện chính quyền địa phương hai cấp, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả quản trị địa phương và bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật của người dân.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trong môi trường số

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trong môi trường số

Tóm tắt: Chuyển đổi số tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội và đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật cho người dân, nhất là người tiêu dùng. Nghiên cứu phân tích việc hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trên các nền tảng thương mại điện tử. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tham chiếu kinh nghiệm quốc tế, nghiên cứu chỉ ra những hạn chế của pháp luật hiện hành trong xác định đối tượng, nội dung, phương thức phổ biến, cơ chế phối hợp và đánh giá hiệu quả. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)1 (dự thảo Luật) theo hướng phát triển năng lực pháp lý số, góp phần nâng cao khả năng phòng ngừa rủi ro và tự bảo vệ của người tiêu dùng trong môi trường số.
Phát huy vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Phát huy vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật giữ vai trò quan trọng nhằm đưa pháp luật vào đời sống xã hội, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của người dân, xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật và bảo đảm hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước. Trong hệ thống chính quyền địa phương, Ủy ban nhân dân cấp xã là cấp chính quyền gần dân nhất, trực tiếp tiếp xúc và giải quyết các nhu cầu của người dân, đồng thời, là chủ thể giữ vai trò trung tâm trong tổ chức triển khai các hoạt động tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật tại cơ sở. Nghiên cứu tập trung phân tích cơ sở lý luận và pháp lý về vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật; đánh giá thực trạng triển khai trong thời gian qua, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật đối với lĩnh vực này.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Chính phủ số và xã hội số, việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đặt ra yêu cầu hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số. Nghiên cứu phân tích cơ sở lý luận, quy định pháp luật hiện hành, dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật) và kinh nghiệm quốc tế, từ đó chỉ ra những khoảng trống pháp lý trong chuyển đổi số hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm xây dựng hệ sinh thái phổ biến, giáo dục pháp luật số hiệu quả, đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số quốc gia.
Đơn giản hóa thủ tục yêu cầu Nhà nước bồi thường - Từ yêu cầu cải cách hành chính đến bảo đảm quyền của người bị thiệt hại

Đơn giản hóa thủ tục yêu cầu Nhà nước bồi thường - Từ yêu cầu cải cách hành chính đến bảo đảm quyền của người bị thiệt hại

Tóm tắt: Trong Nhà nước pháp quyền, cá nhân, tổ chức và Nhà nước bình đẳng trước pháp luật. Vì thế, trong quá trình thực thi công vụ, các cá nhân, tổ chức có thẩm quyền thực hiện hành vi trái pháp luật gây thiệt hại cho các cá nhân, tổ chức thì các cá nhân, tổ chức bị thiệt hại có quyền yêu cầu Nhà nước bồi thường. Nghiên cứu phân tích việc đơn giản hóa thủ tục yêu cầu Nhà nước bồi thường trên cơ sở quyền hiến định của người bị thiệt hại, yêu cầu cải cách hành chính, chuyển đổi số và các quy định của dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước[1] (dự thảo Luật). Trọng tâm là các quy định về hồ sơ, hình thức yêu cầu, tiếp nhận và xử lý hồ sơ, thụ lý, xác minh thiệt hại, thương lượng, quyết định giải quyết bồi thường, quyền khởi kiện và chuyển đổi số trong quản lý nhà nước. Trên cơ sở đánh giá các điều 41, 42, 43, 45, 46, 47, 52 và 73, nghiên cứu đề xuất làm rõ giá trị pháp lý của hồ sơ điện tử, xác nhận tiếp nhận, yêu cầu bổ sung hồ sơ một lần, khai thác dữ liệu sẵn có, hiệu lực của quyết định giải quyết bồi thường và bảo vệ dữ liệu cá nhân của người yêu cầu bồi thường.
Ứng dụng công nghệ và trí tuệ nhân tạo trong tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Ứng dụng công nghệ và trí tuệ nhân tạo trong tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Hoạt động tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) là nhiệm vụ quan trọng, lần đầu tiên được triển khai trên phạm vi toàn quốc theo Kết luận số 09-KL/TW ngày 10/3/2026 của Bộ Chính trị. Năm 2026, công tác này phải xử lý khối lượng dữ liệu văn bản rất lớn được ban hành ở cả Trung ương và địa phương qua nhiều giai đoạn. Trong điều kiện đó, phương thức rà soát thủ công dựa trên việc đối chiếu văn bản giấy không còn đáp ứng yêu cầu về tiến độ, phạm vi và độ chính xác. Vì vậy, việc ứng dụng công nghệ số và trí tuệ nhân tạo (AI) trong rà soát là giải pháp cần thiết, góp phần nhận diện, phân tích và xử lý các quy định chồng chéo, mâu thuẫn hoặc không còn phù hợp một cách hệ thống, hiệu quả.
Hà Nội phấn đấu đạt Chỉ số SIPAS tối thiểu 95% vào năm 2030

Hà Nội phấn đấu đạt Chỉ số SIPAS tối thiểu 95% vào năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn mới, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, cải cách hành chính tiếp tục được xác định là một trong những nhiệm vụ trọng tâm nhằm nâng cao năng lực quản trị quốc gia; đồng thời là một trong các tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước. Đối với Thủ đô Hà Nội, trung tâm văn hóa, chính trị, kinh tế - xã hội của cả nước, nơi hội tụ nhiều cơ chế, chính sách đặc thù, cải cách hành chính không chỉ là yêu cầu tất yếu của quá trình đổi mới mà còn là điều kiện tiên quyết để khai thác hiệu quả các nguồn lực, tạo môi trường thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của Thủ đô đến năm 2030.
Dấu ấn hành trình 80 năm và những bước phát triển đột phá trong tổ chức bộ máy Hệ thống Thi hành án dân sự

Dấu ấn hành trình 80 năm và những bước phát triển đột phá trong tổ chức bộ máy Hệ thống Thi hành án dân sự

Trong hành trình 80 năm phát triển (19/7/1946 - 19/7/2026), Hệ thống Thi hành án dân sự (THADS) đã có những bước đột phá mạnh mẽ cả về thể chế, tổ chức bộ máy, nguồn nhân lực chất lượng và hiệu quả hoạt động. Đặc biệt, tổ chức bộ máy đã từng bước chuyển đổi toàn diện, từ các cơ quan hành chính tư pháp sơ khai trở thành hệ thống cơ quan tư pháp chuyên sâu. Từ bước phát triển đột phá đó tạo điều kiện quan trọng để đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, đổi mới phương thức quản trị, từng bước công khai, minh bạch hóa quy trình tổ chức thi hành án và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Đồng thời, xây dựng Hệ thống THADS phát triển hiện đại, chuyên nghiệp, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới.
Chuyển đổi số trong thi hành án dân sự: Dấu ấn 80 năm từng bước hiện đại hóa hoạt động, kiến tạo nền quản trị dữ liệu và điều hành thông minh

Chuyển đổi số trong thi hành án dân sự: Dấu ấn 80 năm từng bước hiện đại hóa hoạt động, kiến tạo nền quản trị dữ liệu và điều hành thông minh

80 năm xây dựng và trưởng thành là hành trình bền bỉ của Hệ thống Thi hành án dân sự (THADS) trong việc đưa bản án, quyết định của Tòa án và các cơ quan có thẩm quyền được thi hành trên thực tế, bảo vệ công lý, quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức, cá nhân, góp phần giữ vững kỷ cương pháp luật và niềm tin của Nhân dân vào Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Phân cấp, phân quyền, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính trong thi hành án dân sự nhằm nâng cao hiệu quả phục vụ người dân, doanh nghiệp đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phân cấp, phân quyền, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính trong thi hành án dân sự nhằm nâng cao hiệu quả phục vụ người dân, doanh nghiệp đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Thi hành án dân sự (THADS) là giai đoạn cuối cùng của quá trình thực thi công lý, bảo đảm các bản án, quyết định của Tòa án được thực hiện trên thực tế. Hiệu quả của công tác THADS không chỉ tác động trực tiếp đến việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, mà còn phản ánh tính nghiêm minh của pháp luật, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và mức độ bảo đảm môi trường đầu tư, kinh doanh minh bạch, ổn định của quốc gia.
06 thủ tục hành chính trong lĩnh vực đấu giá tài sản bị bãi bỏ thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp

06 thủ tục hành chính trong lĩnh vực đấu giá tài sản bị bãi bỏ thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp

Ngày 11/6/2026, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1458/QĐ-BTP công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung và thủ tục hành chính bị bãi bỏ trong lĩnh vực đấu giá tài sản thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp. Việc ban hành Quyết định nhằm cụ thể hóa chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước được ban hành trong thời gian qua nhằm tiếp tục hoàn thiện thể chế, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính.
Kết quả định lượng và tác động thực tiễn trong cải cách thủ tục hành chính 6 tháng đầu năm 2026

Kết quả định lượng và tác động thực tiễn trong cải cách thủ tục hành chính 6 tháng đầu năm 2026

Thực hiện nhiệm vụ được Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ giao, Bộ Tư pháp đã tổng hợp dữ liệu từ các bộ, ngành, địa phương và Cổng Dịch vụ công quốc gia để đánh giá toàn diện công tác cải cách thủ tục hành chính trong sáu tháng đầu năm 2026. Báo cáo số 483/BC-BTP ngày 29/6/2026 của Bộ Tư pháp cho thấy, công tác cải cách quy định thủ tục hành chính đã đạt nhiều bước tiến quan trọng trên phương diện hoàn thiện thể chế và tổ chức thực thi.

Theo dõi chúng tôi trên: