Thứ năm 23/07/2026 23:37
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Thực tiễn áp dụng pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Khi tham gia vào quan hệ vay tài sản, các bên có thể lựa chọn những hình thức giao dịch phù hợp mà pháp luật đã quy định và cần phải tuân thủ cũng như thực hiện các quyền, nghĩa vụ đã thỏa thuận trong hợp đồng vay.

1. Quy định pháp luật về hợp đồng vay tài sản

Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định (Điều 463 Bộ luật Dân sự năm 2015). Hợp đồng vay gồm có hợp đồng vay có kỳ hạn, hợp đồng vay không kỳ hạn, hợp đồng vay có lãi và hợp đồng vay không có lãi. Lãi suất trong hợp đồng vay do các bên tự thỏa thuận nhưng không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật có liên quan quy định khác. Nếu lãi suất theo thỏa thuận vượt quá lãi suất giới hạn này thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực (khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015). Trường hợp vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên cho vay có quyền yêu cầu trả tiền lãi với mức lãi suất 10%/năm trên số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả; đối với trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi trong hạn, lãi chậm trả của lãi trong hạn và lãi trên nợ gốc quá hạn.

Như vậy, khi tham gia vào quan hệ vay tài sản, các bên có thể lựa chọn những hình thức giao dịch phù hợp mà pháp luật đã quy định và cần phải tuân thủ cũng như thực hiện các quyền, nghĩa vụ đã thỏa thuận trong hợp đồng vay.

2. Một số bất cập trong thực tiễn áp dụng pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng vay tài sản tại Tòa án và giải pháp khắc phục

Thứ nhất, về vấn đề thỏa thuận mức lãi suất giữa các bên cao hơn mức 20% được quy định tại Bộ luật Dân sự năm 2015.

Trên thực tế, khi giải quyết vụ việc, nhiều Tòa án thường không xem xét và tính toán kỹ về phần lãi suất có vượt quá mức quy định hay không. Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định là lãi suất không được vượt quá 20%/năm có nghĩa là tối đa chỉ là 20%/năm, còn thì dù vượt ít hay nhiều, thậm chí chỉ là 0,01%... cũng đều không hợp pháp. Giá trị vượt quá dù nhỏ nhưng cũng đã ảnh hưởng đến quyền lợi của bên vay và làm sai lệch bản chất quy định pháp lý đã được ghi nhận cụ thể.

Ví dụ 1: Ngày 18/01/2018, ông A vay của nguyên đơn số tiền 30.000.000 đồng với lãi suất là 2%/tháng, cam kết trong thời hạn trả là 12 tháng. Tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện về việc đề nghị tính lãi suất của khoản tiền vay 30.000.000 đồng theo mức lãi suất là 1,67%/tháng tính từ ngày vay là ngày 18/01/2018. Tòa án nhận định: “Xét yêu cầu này của nguyên đơn là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, được chấp nhận: Đối với khoản tiền vay 30.000.000 đồng, với mức lãi suất 1,67%/tháng tính từ ngày 18/01/2018 đến ngày 28/9/2020 thì số tiền lãi bị đơn phải trả cho nguyên đơn là: 30.000.000 đồng x 1,67%/tháng x 32 tháng 10 ngày = 16.199.100 đồng” (Bản án số 25/2020/DS-ST của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh G ngày 28/9/2020).

Như vậy, việc Tòa án xác định mức lãi suất mà các bên thỏa thuận lại tại phiên tòa 1,67%/tháng là phù hợp với khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì theo tác giả là không phù hợp. Bởi lẽ, các bên thỏa thuận mức lãi suất 1,67%/tháng tương đương với 20,04%/năm, đã vượt quá 0,04%/năm của mức mà Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định.

Thứ hai, cách thức xác định thời hạn vay và tiền lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.

Thời hạn vay là khoảng thời gian mà các bên thỏa thuận vay trong hợp đồng được ấn định cụ thể, nếu sau thời hạn trên, bên vay không thực hiện nghĩa vụ thì có thể phải trả lãi chậm trả. Tuy nhiên, trên thực tế, một số Tòa án áp dụng chưa đồng nhất và nhầm lẫn một cách cơ bản về xác định thời hạn vay từ khi nào, cũng như tính thời gian chậm trả bắt đầu từ khi nào.

Ví dụ 2: Ngày 27/9/2019, ông H cho ông T vay số tiền 106.800.000 đồng, hợp đồng vay có công chứng, không quy định lãi suất, thời hạn trả ngày 07/10/2019. Sau khi hết thời hạn trả từ ngày 07/10/2019 đến nay, ông T không trả nợ theo đúng thỏa thuận trong hợp đồng. Ông H yêu cầu ông T trả ngay số tiền 106.800.000 đồng và lãi chậm trả trên số nợ gốc theo mức lãi suất là 0,83%/tháng. Tại phần nhận định và quyết định, Tòa án xác định thời gian chậm trả tính từ ngày 07/10/2019 đến ngày xét xử là ngày 29/4/2021 (Bản án số 53/2021/DS-ST của Tòa án nhân dân quận X, Thành phố H ngày 29/4/2021).

Theo quan điểm của tác giả, Tòa án xác định thời gian chậm trả bắt đầu từ ngày 07/10/2019 là không phù hợp với quy định của pháp luật. Bởi lẽ, điểm b khoản 3 Điều 6 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm (Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP) quy định: “Đối với hợp đồng vay có kỳ hạn thì thời gian chậm trả nợ gốc bắt đầu kể từ ngày tiếp theo liền kề của ngày hết kỳ hạn vay đến thời điểm xét xử sơ thẩm”. Như vậy, ở Ví dụ 2 thì thời gian chậm trả sẽ được tính từ ngày tiếp theo liền kề ngày hết kỳ hạn vay (ngày 07/10/2019), tức là được tính từ ngày 08/10/2019 đến ngày xét xử sơ thẩm là ngày 29/4/2021.

Bên cạnh đó, ở Ví dụ 1, phần nhận định và giải quyết của Tòa án “được chấp nhận: Đối với khoản tiền vay 30.000.000 đồng, với mức lãi suất 1,67%/tháng tính từ ngày 18/01/2018 đến ngày 28/9/2020 thì số tiền lãi bị đơn phải trả cho nguyên đơn là: 30.000.000 đồng x 1,67%/tháng x 32 tháng 10 ngày = 16.199.100 đồng” là không phù hợp, bởi lẽ, không thể xác định tiền lãi mà bị đơn phải trả cho nguyên đơn tính từ ngày 18/01/2018 cho đến ngày Tòa án xét xử sơ thẩm. Ở đây, Tòa án đã nhầm lẫn cơ bản giữa thời gian vay trong hạn với thời gian tính lãi chậm trả. Do vậy, theo quan điểm của tác giả:

Một là, việc xác định tính tiền lãi từ ngày 18/01/2018: Căn cứ vào hợp đồng vay của các bên đã thỏa thuận thì thời hạn vay là 12 tháng, đây là khoảng thời gian vay của các bên đương sự trong hợp đồng vay, do vậy, trường hợp này, ngày 18/01/2018 là ngày vay sẽ không được tính mà tính từ ngày tiếp theo liền kề ngày được xác định, tức là bắt đầu từ ngày 19/01/2018 đến ngày 19/01/2019 (theo khoản 2 Điều 147 Bộ luật Dân sự năm 2015).

Hai là, việc xác định thời gian chậm trả sẽ căn cứ quy định tại điểm b khoản 3 Điều 6 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP. Theo đó, thời gian chậm trả được tính từ ngày tiếp theo liền kề ngày hết kỳ hạn vay, tức là tính từ ngày 20/01/2019 đến ngày xét xử sơ thẩm là ngày 28/9/2020.

Thứ ba, áp dụng văn bản pháp luật để giải quyết tranh chấp.

Trên thực tế, không ít Tòa án đã áp dụng nhầm lẫn văn bản pháp luật để giải quyết tranh chấp.

Ví dụ 3: Ngày 03/8/2015, ông Đ vay của ông N số tiền 100.000.000 đồng, hẹn đến ngày 03/10/2015 trả; đến ngày 20/6/2016, ông Đ tiếp tục vay số tiền 200.000.000 đồng, hẹn đến ngày 20/7/2016 trả. Tuy trong giấy ghi là mượn tiền nhưng thực tế đây là tiền vay, hai bên không thỏa thuận lãi suất, khi vay, ông Đ có hứa trả số tiền gốc và lãi theo quy định của Nhà nước. Các lần vay ông Đ đều ký vào giấy mượn tiền. Đến hẹn và qua nhiều lần ông N yêu cầu ông Đ trả nợ thì ông Đ hứa và cam kết trả nợ nhưng không thực hiện, cố tình trốn tránh trách nhiệm của mình. Nay nguyên đơn ông N yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bị đơn ông Đ phải trả cho nguyên đơn số tiền vay còn nợ 300.000.000 đồng và yêu cầu tính lãi theo quy định của pháp luật từ ngày hẹn trả nợ (Bản án số 11/2021/DS-ST của Tòa án nhân dân thị xã ĐH, tỉnh PY ngày 29/4/2021). Trong phần nhận định và quyết định của Tòa án thì Tòa án áp dụng Điều 463, Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015 để chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; buộc bị đơn ông Đ phải trả cho nguyên đơn ông N số tiền vốn vay 300.000.000 đồng và tiền lãi là 151.161.000 đồng.

Theo quan điểm của tác giả thì Tòa án áp dụng các quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 để giải quyết các quan hệ vay trong trường hợp trên là không phù hợp. Bởi vì, “ngày 03/8/2015, ông Đ vay của ông N số tiền 100.000.000 đồng, hẹn đến ngày 03/10/2015 trả; đến ngày 20/6/2016, ông Đ tiếp tục vay số tiền 200.000.000 đồng, hẹn đến ngày 20/7/2016 trả”, như vậy, đây là hai hợp đồng vay được xác lập vào hai thời điểm khác nhau và đều có thỏa thuận thời hạn trả nợ, mặt khác, tất cả giao dịch đã được xác lập trước ngày 01/01/2017 (trước thời điểm Bộ luật Dân sự năm 2015 có hiệu lực). Do vậy, căn cứ điểm c khoản 1 Điều 688 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì các tranh chấp trong hai hợp đồng vay này sẽ áp dụng các quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005 để giải quyết.

Thứ tư, về giải quyết đối tượng vay liên quan đến ngoại tệ.

Trên thực tế, nhiều Tòa án xác định cứ quan hệ vay liên quan đến ngoại tệ thì đều tuyên là vô hiệu là không có cơ sở. Bởi vì, những giao dịch dân sự được xác lập kể từ thời điểm ngày 01/01/2017 thì sẽ áp dụng quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 để giải quyết.

Ví dụ 4: A cho B vay 10.000 USD vào ngày 01/01/2015, thời hạn vay 01 năm. Đến hạn trả nợ, B không trả nên A khởi kiện vào ngày 01/02/2017 yêu cầu B phải trả tiền vay. Như vậy, với trường hợp này thì giao dịch về hợp đồng vay đã được xác lập trước khi Bộ luật Dân sự năm 2015 có hiệu lực nên phải áp dụng Bộ luật Dân sự năm 2005 để giải quyết. Theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 122 Bộ luật Dân sự năm 2005 thì giao dịch về hợp đồng vay sẽ bị vô hiệu vì đã vi phạm điều cấm của “pháp luật”, cụ thể đã vi phạm quy định tại Điều 22 Pháp lệnh Ngoại hối năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2013) với quy định không cho phép thực hiện các giao dịch bằng ngoại hối trên lãnh thổ Việt Nam.

Như vậy, những giao dịch bằng ngoại hối đã xác lập xong trước ngày 01/01/2017 mà sau đó phát sinh tranh chấp thì Tòa án tuyên vô hiệu là phù hợp với quy định của pháp luật.

Ví dụ 5: C cho D vay 10.000 USD vào ngày 02/01/2017, thời hạn vay 01 năm. Đến hạn trả nợ, D không trả nên C khởi kiện vào ngày 01/02/2019 yêu cầu D phải trả tiền vay. Như vậy, với trường hợp này, hợp đồng vay đã được xác lập khi Bộ luật Dân sự năm 2015 có hiệu lực nên phải áp dụng Bộ luật Dân sự năm 2015 để giải quyết. Theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 117 Bộ luật Dân sự năm 2015, giao dịch về hợp đồng vay không vi phạm điều cấm của “luật” nên sẽ có hiệu lực.

Tuy nhiên, trên thực tế, Tòa án vẫn căn cứ điểm c khoản 1 Điều 117 Bộ luật Dân sự năm 2015 và Điều 22 Pháp lệnh Ngoại hối 2005 (sửa đổi, bổ sung 2013) ra quyết định giao dịch vay vô hiệu là không có cơ sở. Bởi vì, điểm c khoản 1 Điều 117 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định điều kiện có hiệu lực “mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật”, khác với điểm b khoản 1 Điều 122 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định điều kiện có hiệu lực “mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật”. Như vậy, “pháp luật” là bao gồm các văn bản luật và văn bản dưới luật, còn “luật” chỉ bao gồm văn bản luật do Quốc hội ban hành, trong khi đó, Pháp lệnh Ngoại hối không phải là văn bản luật mà là văn bản dưới luật.

Nhằm khắc phục những bất cập trong thực tiễn áp dụng pháp luật, tác giả đề xuất cần phải nghiên cứu, rà soát lại các từ ngữ, các quy định cụ thể trong Bộ luật Dân sự về thời hạn, thời hiệu, mức lãi suất và một số quy định trong Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP; cần phải xác định cụ thể về quan hệ tranh chấp vào thời điểm nào, đã được xác lập hay chưa, đang được thực hiện hay đã thực hiện xong, để từ đó có thể áp dụng đúng văn bản pháp luật để giải quyết.

Trần Văn Từ

Học viên cao học Luật Kinh tế K14, Trường Đại học Luật, Đại học Huế

Ảnh: internet

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hà Nội phấn đấu đạt Chỉ số SIPAS tối thiểu 95% vào năm 2030

Hà Nội phấn đấu đạt Chỉ số SIPAS tối thiểu 95% vào năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn mới, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, cải cách hành chính tiếp tục được xác định là một trong những nhiệm vụ trọng tâm nhằm nâng cao năng lực quản trị quốc gia; đồng thời là một trong các tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước. Đối với Thủ đô Hà Nội, trung tâm văn hóa, chính trị, kinh tế - xã hội của cả nước, nơi hội tụ nhiều cơ chế, chính sách đặc thù, cải cách hành chính không chỉ là yêu cầu tất yếu của quá trình đổi mới mà còn là điều kiện tiên quyết để khai thác hiệu quả các nguồn lực, tạo môi trường thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của Thủ đô đến năm 2030.
Dấu ấn hành trình 80 năm và những bước phát triển đột phá trong tổ chức bộ máy Hệ thống Thi hành án dân sự

Dấu ấn hành trình 80 năm và những bước phát triển đột phá trong tổ chức bộ máy Hệ thống Thi hành án dân sự

Trong hành trình 80 năm phát triển (19/7/1946 - 19/7/2026), Hệ thống Thi hành án dân sự (THADS) đã có những bước đột phá mạnh mẽ cả về thể chế, tổ chức bộ máy, nguồn nhân lực chất lượng và hiệu quả hoạt động. Đặc biệt, tổ chức bộ máy đã từng bước chuyển đổi toàn diện, từ các cơ quan hành chính tư pháp sơ khai trở thành hệ thống cơ quan tư pháp chuyên sâu. Từ bước phát triển đột phá đó tạo điều kiện quan trọng để đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, đổi mới phương thức quản trị, từng bước công khai, minh bạch hóa quy trình tổ chức thi hành án và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Đồng thời, xây dựng Hệ thống THADS phát triển hiện đại, chuyên nghiệp, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới.
Chuyển đổi số trong thi hành án dân sự: Dấu ấn 80 năm từng bước hiện đại hóa hoạt động, kiến tạo nền quản trị dữ liệu và điều hành thông minh

Chuyển đổi số trong thi hành án dân sự: Dấu ấn 80 năm từng bước hiện đại hóa hoạt động, kiến tạo nền quản trị dữ liệu và điều hành thông minh

80 năm xây dựng và trưởng thành là hành trình bền bỉ của Hệ thống Thi hành án dân sự (THADS) trong việc đưa bản án, quyết định của Tòa án và các cơ quan có thẩm quyền được thi hành trên thực tế, bảo vệ công lý, quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức, cá nhân, góp phần giữ vững kỷ cương pháp luật và niềm tin của Nhân dân vào Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Phân cấp, phân quyền, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính trong thi hành án dân sự nhằm nâng cao hiệu quả phục vụ người dân, doanh nghiệp đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phân cấp, phân quyền, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính trong thi hành án dân sự nhằm nâng cao hiệu quả phục vụ người dân, doanh nghiệp đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Thi hành án dân sự (THADS) là giai đoạn cuối cùng của quá trình thực thi công lý, bảo đảm các bản án, quyết định của Tòa án được thực hiện trên thực tế. Hiệu quả của công tác THADS không chỉ tác động trực tiếp đến việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, mà còn phản ánh tính nghiêm minh của pháp luật, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và mức độ bảo đảm môi trường đầu tư, kinh doanh minh bạch, ổn định của quốc gia.
06 thủ tục hành chính trong lĩnh vực đấu giá tài sản bị bãi bỏ thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp

06 thủ tục hành chính trong lĩnh vực đấu giá tài sản bị bãi bỏ thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp

Ngày 11/6/2026, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1458/QĐ-BTP công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung và thủ tục hành chính bị bãi bỏ trong lĩnh vực đấu giá tài sản thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp. Việc ban hành Quyết định nhằm cụ thể hóa chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước được ban hành trong thời gian qua nhằm tiếp tục hoàn thiện thể chế, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính.
Kết quả định lượng và tác động thực tiễn trong cải cách thủ tục hành chính 6 tháng đầu năm 2026

Kết quả định lượng và tác động thực tiễn trong cải cách thủ tục hành chính 6 tháng đầu năm 2026

Thực hiện nhiệm vụ được Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ giao, Bộ Tư pháp đã tổng hợp dữ liệu từ các bộ, ngành, địa phương và Cổng Dịch vụ công quốc gia để đánh giá toàn diện công tác cải cách thủ tục hành chính trong sáu tháng đầu năm 2026. Báo cáo số 483/BC-BTP ngày 29/6/2026 của Bộ Tư pháp cho thấy, công tác cải cách quy định thủ tục hành chính đã đạt nhiều bước tiến quan trọng trên phương diện hoàn thiện thể chế và tổ chức thực thi.
Luật Công chứng sửa đổi năm 2026: Tạo thuận lợi cao nhất cho người dân, doanh nghiệp

Luật Công chứng sửa đổi năm 2026: Tạo thuận lợi cao nhất cho người dân, doanh nghiệp

Ngày 23/4/2026, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng (Luật năm 2026). Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2027. Luật năm 2026 có nhiều điểm mới đáng chú ý nhằm thể chế hóa kịp thời các chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước về tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền; thúc đẩy tạo lập dữ liệu phục vụ chuyển đổi số toàn diện, cải cách tối đa thủ tục hành chính, giảm chi phí, tạo thuận lợi cao nhất cho người dân, doanh nghiệp.
Quy định mới về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan

Quy định mới về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan

Ngày 15/5/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 169/2026/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan với nhiều điểm mới quan trọng nhằm xử lý các khó khăn, vướng mắc, bất cập phát sinh trong thực tiễn thi hành, đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số. Nghị định có hiệu lực từ ngày 01/7/2026.
Một số giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động tư pháp cơ sở tại tỉnh Bắc Ninh

Một số giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động tư pháp cơ sở tại tỉnh Bắc Ninh

Năm 2025 có ý nghĩa đặc biệt đối với tỉnh Bắc Ninh khi đồng thời triển khai nhiều chủ trương lớn, tác động sâu, rộng đến mọi lĩnh vực đời sống xã hội, trong đó có hoạt động tư pháp cơ sở. Với tinh thần chủ động, quyết liệt và sáng tạo, ngành Tư pháp tỉnh Bắc Ninh đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp, đạt những kết quả quan trọng, góp phần giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội và phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
Bộ, ngành Tư pháp: Kiến tạo thể chế thành lợi thế cạnh tranh đưa đất nước phát triển bền vững

Bộ, ngành Tư pháp: Kiến tạo thể chế thành lợi thế cạnh tranh đưa đất nước phát triển bền vững

Năm 2025 được xác định là năm có ý nghĩa “bản lề” để thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội và triển khai các nghị quyết quan trọng của Đảng. Trước bối cảnh đó, Bộ, ngành Tư pháp đóng vai trò then chốt trong công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế và tổ chức thi hành pháp luật. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc phỏng vấn đồng chí Lê Tiến Châu, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Thành ủy thành phố Hải Phòng về vai trò, những đóng góp nổi bật trong năm 2025 và kiến nghị đối với Bộ, ngành Tư pháp nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh, mạnh, bền vững của đất nước trong giai đoạn mới.
Bộ Tư pháp tiếp tục chú trọng cải cách hành chính năm 2026

Bộ Tư pháp tiếp tục chú trọng cải cách hành chính năm 2026

Ngày 30/12/2026, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ký Quyết định số 3758/QĐ-BTP ban hành Kế hoạch cải cách hành chính của Bộ Tư pháp năm 2026. Kế hoạch nhằm tiếp tục đảm bảo mục tiêu của Chương trình tổng thể cải cách hành chính (CCHC), đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia, xây dựng Chính phủ điện tử hướng tới Chính phủ số; đẩy mạnh thực hiện Chương trình tổng thể CCHC nhà nước giai đoạn 2021 - 2030 và hoàn thành các nhiệm vụ của Bộ Tư pháp theo Kế hoạch CCHC nhà nước giai đoạn 2021 - 2030… Trong đó tập trung cải cách thể chế; tiếp tục xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức chất lượng cao; xây dựng và phát triển Chính phủ điện tử, Chính phủ số đáp ứng yêu cầu phát triển chung.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết phân tích vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước.
Thay thế hồ sơ giấy bằng dữ liệu điện tử từ ngày 01/01/2026

Thay thế hồ sơ giấy bằng dữ liệu điện tử từ ngày 01/01/2026

Ngày 15/11/2025, theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 66.7/2025/NQ-CP quy định cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu (Nghị quyết số 66.7/2025/NQ-CP). Nghị quyết số 66.7/2025/NQ-CP là một trong những văn bản được ban hành theo cơ chế đặc biệt xử lý khó khăn, vướng mắc do quy định của pháp luật tại Nghị quyết số 206/2025/QH15 của Quốc hội ngày 24/6/2025.
Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh: “Cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu là giải pháp căn cơ, toàn diện”

Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh: “Cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu là giải pháp căn cơ, toàn diện”

Trao đổi với báo chí, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh nhấn mạnh: Việc cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính (TTHC) dựa trên dữ liệu không chỉ nhằm tinh gọn quy trình, giảm thiểu chi phí xã hội mà còn là giải pháp căn cơ để xây dựng nền hành chính phục vụ, hiện đại, minh bạch. Đây cũng là nhiệm vụ trọng tâm trong triển khai chỉ đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm, Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Bổ trợ tư pháp Việt Nam: Kiến tạo niềm tin và hành trình phát triển

Bổ trợ tư pháp Việt Nam: Kiến tạo niềm tin và hành trình phát triển

Sự phát triển của hoạt động bổ trợ tư pháp là một hành trình có tính lịch sử, gắn liền và phản ánh tầm nhìn, sự chủ động của ngành Tư pháp Việt Nam qua từng giai đoạn, từ bối cảnh đất nước mới giành độc lập đến công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế.

Theo dõi chúng tôi trên: