Thứ ba 08/09/2026 10:57
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Thực tiễn áp dụng pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Khi tham gia vào quan hệ vay tài sản, các bên có thể lựa chọn những hình thức giao dịch phù hợp mà pháp luật đã quy định và cần phải tuân thủ cũng như thực hiện các quyền, nghĩa vụ đã thỏa thuận trong hợp đồng vay.

1. Quy định pháp luật về hợp đồng vay tài sản

Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định (Điều 463 Bộ luật Dân sự năm 2015). Hợp đồng vay gồm có hợp đồng vay có kỳ hạn, hợp đồng vay không kỳ hạn, hợp đồng vay có lãi và hợp đồng vay không có lãi. Lãi suất trong hợp đồng vay do các bên tự thỏa thuận nhưng không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật có liên quan quy định khác. Nếu lãi suất theo thỏa thuận vượt quá lãi suất giới hạn này thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực (khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015). Trường hợp vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên cho vay có quyền yêu cầu trả tiền lãi với mức lãi suất 10%/năm trên số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả; đối với trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi trong hạn, lãi chậm trả của lãi trong hạn và lãi trên nợ gốc quá hạn.

Như vậy, khi tham gia vào quan hệ vay tài sản, các bên có thể lựa chọn những hình thức giao dịch phù hợp mà pháp luật đã quy định và cần phải tuân thủ cũng như thực hiện các quyền, nghĩa vụ đã thỏa thuận trong hợp đồng vay.

2. Một số bất cập trong thực tiễn áp dụng pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng vay tài sản tại Tòa án và giải pháp khắc phục

Thứ nhất, về vấn đề thỏa thuận mức lãi suất giữa các bên cao hơn mức 20% được quy định tại Bộ luật Dân sự năm 2015.

Trên thực tế, khi giải quyết vụ việc, nhiều Tòa án thường không xem xét và tính toán kỹ về phần lãi suất có vượt quá mức quy định hay không. Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định là lãi suất không được vượt quá 20%/năm có nghĩa là tối đa chỉ là 20%/năm, còn thì dù vượt ít hay nhiều, thậm chí chỉ là 0,01%... cũng đều không hợp pháp. Giá trị vượt quá dù nhỏ nhưng cũng đã ảnh hưởng đến quyền lợi của bên vay và làm sai lệch bản chất quy định pháp lý đã được ghi nhận cụ thể.

Ví dụ 1: Ngày 18/01/2018, ông A vay của nguyên đơn số tiền 30.000.000 đồng với lãi suất là 2%/tháng, cam kết trong thời hạn trả là 12 tháng. Tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện về việc đề nghị tính lãi suất của khoản tiền vay 30.000.000 đồng theo mức lãi suất là 1,67%/tháng tính từ ngày vay là ngày 18/01/2018. Tòa án nhận định: “Xét yêu cầu này của nguyên đơn là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, được chấp nhận: Đối với khoản tiền vay 30.000.000 đồng, với mức lãi suất 1,67%/tháng tính từ ngày 18/01/2018 đến ngày 28/9/2020 thì số tiền lãi bị đơn phải trả cho nguyên đơn là: 30.000.000 đồng x 1,67%/tháng x 32 tháng 10 ngày = 16.199.100 đồng” (Bản án số 25/2020/DS-ST của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh G ngày 28/9/2020).

Như vậy, việc Tòa án xác định mức lãi suất mà các bên thỏa thuận lại tại phiên tòa 1,67%/tháng là phù hợp với khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì theo tác giả là không phù hợp. Bởi lẽ, các bên thỏa thuận mức lãi suất 1,67%/tháng tương đương với 20,04%/năm, đã vượt quá 0,04%/năm của mức mà Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định.

Thứ hai, cách thức xác định thời hạn vay và tiền lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.

Thời hạn vay là khoảng thời gian mà các bên thỏa thuận vay trong hợp đồng được ấn định cụ thể, nếu sau thời hạn trên, bên vay không thực hiện nghĩa vụ thì có thể phải trả lãi chậm trả. Tuy nhiên, trên thực tế, một số Tòa án áp dụng chưa đồng nhất và nhầm lẫn một cách cơ bản về xác định thời hạn vay từ khi nào, cũng như tính thời gian chậm trả bắt đầu từ khi nào.

Ví dụ 2: Ngày 27/9/2019, ông H cho ông T vay số tiền 106.800.000 đồng, hợp đồng vay có công chứng, không quy định lãi suất, thời hạn trả ngày 07/10/2019. Sau khi hết thời hạn trả từ ngày 07/10/2019 đến nay, ông T không trả nợ theo đúng thỏa thuận trong hợp đồng. Ông H yêu cầu ông T trả ngay số tiền 106.800.000 đồng và lãi chậm trả trên số nợ gốc theo mức lãi suất là 0,83%/tháng. Tại phần nhận định và quyết định, Tòa án xác định thời gian chậm trả tính từ ngày 07/10/2019 đến ngày xét xử là ngày 29/4/2021 (Bản án số 53/2021/DS-ST của Tòa án nhân dân quận X, Thành phố H ngày 29/4/2021).

Theo quan điểm của tác giả, Tòa án xác định thời gian chậm trả bắt đầu từ ngày 07/10/2019 là không phù hợp với quy định của pháp luật. Bởi lẽ, điểm b khoản 3 Điều 6 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm (Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP) quy định: “Đối với hợp đồng vay có kỳ hạn thì thời gian chậm trả nợ gốc bắt đầu kể từ ngày tiếp theo liền kề của ngày hết kỳ hạn vay đến thời điểm xét xử sơ thẩm”. Như vậy, ở Ví dụ 2 thì thời gian chậm trả sẽ được tính từ ngày tiếp theo liền kề ngày hết kỳ hạn vay (ngày 07/10/2019), tức là được tính từ ngày 08/10/2019 đến ngày xét xử sơ thẩm là ngày 29/4/2021.

Bên cạnh đó, ở Ví dụ 1, phần nhận định và giải quyết của Tòa án “được chấp nhận: Đối với khoản tiền vay 30.000.000 đồng, với mức lãi suất 1,67%/tháng tính từ ngày 18/01/2018 đến ngày 28/9/2020 thì số tiền lãi bị đơn phải trả cho nguyên đơn là: 30.000.000 đồng x 1,67%/tháng x 32 tháng 10 ngày = 16.199.100 đồng” là không phù hợp, bởi lẽ, không thể xác định tiền lãi mà bị đơn phải trả cho nguyên đơn tính từ ngày 18/01/2018 cho đến ngày Tòa án xét xử sơ thẩm. Ở đây, Tòa án đã nhầm lẫn cơ bản giữa thời gian vay trong hạn với thời gian tính lãi chậm trả. Do vậy, theo quan điểm của tác giả:

Một là, việc xác định tính tiền lãi từ ngày 18/01/2018: Căn cứ vào hợp đồng vay của các bên đã thỏa thuận thì thời hạn vay là 12 tháng, đây là khoảng thời gian vay của các bên đương sự trong hợp đồng vay, do vậy, trường hợp này, ngày 18/01/2018 là ngày vay sẽ không được tính mà tính từ ngày tiếp theo liền kề ngày được xác định, tức là bắt đầu từ ngày 19/01/2018 đến ngày 19/01/2019 (theo khoản 2 Điều 147 Bộ luật Dân sự năm 2015).

Hai là, việc xác định thời gian chậm trả sẽ căn cứ quy định tại điểm b khoản 3 Điều 6 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP. Theo đó, thời gian chậm trả được tính từ ngày tiếp theo liền kề ngày hết kỳ hạn vay, tức là tính từ ngày 20/01/2019 đến ngày xét xử sơ thẩm là ngày 28/9/2020.

Thứ ba, áp dụng văn bản pháp luật để giải quyết tranh chấp.

Trên thực tế, không ít Tòa án đã áp dụng nhầm lẫn văn bản pháp luật để giải quyết tranh chấp.

Ví dụ 3: Ngày 03/8/2015, ông Đ vay của ông N số tiền 100.000.000 đồng, hẹn đến ngày 03/10/2015 trả; đến ngày 20/6/2016, ông Đ tiếp tục vay số tiền 200.000.000 đồng, hẹn đến ngày 20/7/2016 trả. Tuy trong giấy ghi là mượn tiền nhưng thực tế đây là tiền vay, hai bên không thỏa thuận lãi suất, khi vay, ông Đ có hứa trả số tiền gốc và lãi theo quy định của Nhà nước. Các lần vay ông Đ đều ký vào giấy mượn tiền. Đến hẹn và qua nhiều lần ông N yêu cầu ông Đ trả nợ thì ông Đ hứa và cam kết trả nợ nhưng không thực hiện, cố tình trốn tránh trách nhiệm của mình. Nay nguyên đơn ông N yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bị đơn ông Đ phải trả cho nguyên đơn số tiền vay còn nợ 300.000.000 đồng và yêu cầu tính lãi theo quy định của pháp luật từ ngày hẹn trả nợ (Bản án số 11/2021/DS-ST của Tòa án nhân dân thị xã ĐH, tỉnh PY ngày 29/4/2021). Trong phần nhận định và quyết định của Tòa án thì Tòa án áp dụng Điều 463, Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015 để chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; buộc bị đơn ông Đ phải trả cho nguyên đơn ông N số tiền vốn vay 300.000.000 đồng và tiền lãi là 151.161.000 đồng.

Theo quan điểm của tác giả thì Tòa án áp dụng các quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 để giải quyết các quan hệ vay trong trường hợp trên là không phù hợp. Bởi vì, “ngày 03/8/2015, ông Đ vay của ông N số tiền 100.000.000 đồng, hẹn đến ngày 03/10/2015 trả; đến ngày 20/6/2016, ông Đ tiếp tục vay số tiền 200.000.000 đồng, hẹn đến ngày 20/7/2016 trả”, như vậy, đây là hai hợp đồng vay được xác lập vào hai thời điểm khác nhau và đều có thỏa thuận thời hạn trả nợ, mặt khác, tất cả giao dịch đã được xác lập trước ngày 01/01/2017 (trước thời điểm Bộ luật Dân sự năm 2015 có hiệu lực). Do vậy, căn cứ điểm c khoản 1 Điều 688 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì các tranh chấp trong hai hợp đồng vay này sẽ áp dụng các quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005 để giải quyết.

Thứ tư, về giải quyết đối tượng vay liên quan đến ngoại tệ.

Trên thực tế, nhiều Tòa án xác định cứ quan hệ vay liên quan đến ngoại tệ thì đều tuyên là vô hiệu là không có cơ sở. Bởi vì, những giao dịch dân sự được xác lập kể từ thời điểm ngày 01/01/2017 thì sẽ áp dụng quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 để giải quyết.

Ví dụ 4: A cho B vay 10.000 USD vào ngày 01/01/2015, thời hạn vay 01 năm. Đến hạn trả nợ, B không trả nên A khởi kiện vào ngày 01/02/2017 yêu cầu B phải trả tiền vay. Như vậy, với trường hợp này thì giao dịch về hợp đồng vay đã được xác lập trước khi Bộ luật Dân sự năm 2015 có hiệu lực nên phải áp dụng Bộ luật Dân sự năm 2005 để giải quyết. Theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 122 Bộ luật Dân sự năm 2005 thì giao dịch về hợp đồng vay sẽ bị vô hiệu vì đã vi phạm điều cấm của “pháp luật”, cụ thể đã vi phạm quy định tại Điều 22 Pháp lệnh Ngoại hối năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2013) với quy định không cho phép thực hiện các giao dịch bằng ngoại hối trên lãnh thổ Việt Nam.

Như vậy, những giao dịch bằng ngoại hối đã xác lập xong trước ngày 01/01/2017 mà sau đó phát sinh tranh chấp thì Tòa án tuyên vô hiệu là phù hợp với quy định của pháp luật.

Ví dụ 5: C cho D vay 10.000 USD vào ngày 02/01/2017, thời hạn vay 01 năm. Đến hạn trả nợ, D không trả nên C khởi kiện vào ngày 01/02/2019 yêu cầu D phải trả tiền vay. Như vậy, với trường hợp này, hợp đồng vay đã được xác lập khi Bộ luật Dân sự năm 2015 có hiệu lực nên phải áp dụng Bộ luật Dân sự năm 2015 để giải quyết. Theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 117 Bộ luật Dân sự năm 2015, giao dịch về hợp đồng vay không vi phạm điều cấm của “luật” nên sẽ có hiệu lực.

Tuy nhiên, trên thực tế, Tòa án vẫn căn cứ điểm c khoản 1 Điều 117 Bộ luật Dân sự năm 2015 và Điều 22 Pháp lệnh Ngoại hối 2005 (sửa đổi, bổ sung 2013) ra quyết định giao dịch vay vô hiệu là không có cơ sở. Bởi vì, điểm c khoản 1 Điều 117 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định điều kiện có hiệu lực “mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật”, khác với điểm b khoản 1 Điều 122 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định điều kiện có hiệu lực “mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật”. Như vậy, “pháp luật” là bao gồm các văn bản luật và văn bản dưới luật, còn “luật” chỉ bao gồm văn bản luật do Quốc hội ban hành, trong khi đó, Pháp lệnh Ngoại hối không phải là văn bản luật mà là văn bản dưới luật.

Nhằm khắc phục những bất cập trong thực tiễn áp dụng pháp luật, tác giả đề xuất cần phải nghiên cứu, rà soát lại các từ ngữ, các quy định cụ thể trong Bộ luật Dân sự về thời hạn, thời hiệu, mức lãi suất và một số quy định trong Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP; cần phải xác định cụ thể về quan hệ tranh chấp vào thời điểm nào, đã được xác lập hay chưa, đang được thực hiện hay đã thực hiện xong, để từ đó có thể áp dụng đúng văn bản pháp luật để giải quyết.

Trần Văn Từ

Học viên cao học Luật Kinh tế K14, Trường Đại học Luật, Đại học Huế

Ảnh: internet

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Hoàn thiện thể chế đánh giá tác động thủ tục hành chính từ khâu xây dựng pháp luật

Hoàn thiện thể chế đánh giá tác động thủ tục hành chính từ khâu xây dựng pháp luật

Ngày 26/8/2026, Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1968/QĐ-BT kèm theo Kế hoạch xây dựng dự thảo Thông tư hướng dẫn đánh giá tác động của thủ tục hành chính tại dự thảo văn bản quy phạm pháp luật. Đây là bước đi cụ thể nhằm triển khai các quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025.
Rà soát, xử lý văn bản bảo đảm phù hợp, thống nhất với Luật Tiếp cận thông tin năm 2026

Rà soát, xử lý văn bản bảo đảm phù hợp, thống nhất với Luật Tiếp cận thông tin năm 2026

Thực hiện nhiệm vụ được giao tại Kế hoạch triển khai thi hành Luật Tiếp cận thông tin của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tư pháp đã chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan ngang Bộ và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố tổ chức rà soát các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến Luật Tiếp cận thông tin nhằm bảo đảm tính thống nhất trong áp dụng pháp luật về cung cấp, công khai thông tin của cơ quan, đơn vị; kịp thời phát hiện các quy định không còn phù hợp, chồng chéo, mâu thuẫn, trùng lặp hoặc không đáp ứng yêu cầu thực tiễn quản lý nhà nước; trên cơ sở đó đề xuất phương án xử lý cụ thể đối với từng văn bản hoặc quy định (thay thế, sửa đổi, bổ sung).
Áp dụng KPI trong công tác xây dựng pháp luật: Thời hạn và tiêu chí xác định nhiệm vụ đánh giá

Áp dụng KPI trong công tác xây dựng pháp luật: Thời hạn và tiêu chí xác định nhiệm vụ đánh giá

Ngày 06/7/2026, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1205/QĐ-TTg phê duyệt Đề án thí điểm thực hiện việc đánh giá, chấm điểm về công tác xây dựng pháp luật. Để triển khai thực hiện thống nhất Đề án thí điểm nêu trên, Bộ Tư pháp đã chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ nghiên cứu, xây dựng nội dung tài liệu hướng dẫn triển khai thực hiện Đề án.
Tổ chức lại trình tự, đẩy sớm thời hạn hoàn thành tổng rà soát văn bản

Tổ chức lại trình tự, đẩy sớm thời hạn hoàn thành tổng rà soát văn bản

Nhằm bảo đảm tiến độ theo yêu cầu mới, đồng thời tăng cường chất lượng, hiệu quả của công tác tổng rà soát, nhất là khâu cho ý kiến, thẩm định và hoàn thiện các báo cáo chính thức, ngày 22/8/2026, Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật đã ban hành Quyết định số 11/QĐ-BCĐ điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung một số nội dung tại phần II Kế hoạch triển khai tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật ban hành kèm theo Quyết định số 05/QĐ-BCĐ ngày 10/4/2026 của Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (Kế hoạch số 05/QĐ-BCĐ).
Chuyển dịch phương thức chỉ đạo, điều hành dựa trên dữ liệu: Đột phá mới trong chuyển đổi số tại Bộ Tư pháp

Chuyển dịch phương thức chỉ đạo, điều hành dựa trên dữ liệu: Đột phá mới trong chuyển đổi số tại Bộ Tư pháp

Ngày 19/8/2026, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1925/QĐ-BTP về việc ban hành Quy chế quản lý, vận hành, khai thác và sử dụng Nền tảng tổng hợp, phân tích dữ liệu của Bộ Tư pháp (Quy chế). Đây là bước cụ thể hóa chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; đồng thời, đáp ứng yêu cầu xây dựng nền hành chính minh bạch, hiện đại, chuyên nghiệp, hoạt động dựa trên dữ liệu và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước.
Bộ Tư pháp định hình diện mạo mới nền hành chính số thông qua thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông

Bộ Tư pháp định hình diện mạo mới nền hành chính số thông qua thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông

Ngày 06/8/2026, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ký xác thực Văn bản hợp nhất Số:6050/2026/VBHN-NĐ-BTP quy định về thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế Một cửa, một cửa liên thông tại Bộ phận Một cửa và Cổng Dịch vụ công quốc gia. Đây là một mốc pháp lý quan trọng, không chỉ giúp hệ thống hóa toàn diện các quy định pháp luật hiện hành mà còn trực tiếp thúc đẩy tiến trình cải cách thủ tục hành chính, chuyển đổi số quốc gia một cách đồng bộ, thống nhất và thực chất.
Đôn đốc xử lý ngay "điểm nghẽn" nhiệm vụ về phát triển khoa học, công nghệ, chuyển đổi số

Đôn đốc xử lý ngay "điểm nghẽn" nhiệm vụ về phát triển khoa học, công nghệ, chuyển đổi số

Tính đến ngày 14/8/2026, kết quả triển khai Kế hoạch số 05-KH/BCĐTW[1] và Quyết định số 88/QĐ-BCĐCP[2] đã có chuyển biến nhưng chưa đồng đều, thể hiện trên các nhóm nhiệm vụ thể chế, chỉ đạo, điều hành; hạ tầng số, an toàn, an ninh mạng; dữ liệu và cơ sở dữ liệu; dịch vụ công, cắt giảm thủ tục hành chính và tái sử dụng dữ liệu; tài chính, nguồn lực. Việc triển khai còn tồn tại những điểm nghẽn cần được tập trung xử lý, giải quyết trong thời gian tới. [1] Kế hoạch hành động ngày 11/7/2026 của Ban chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số về 100 ngày xử lý các điểm nghẽn về chuyển đổi số trong hệ thống chính trị. [2] Quyết định ngày 29/7/2026 ban hành Kế hoạch hành động của Ban Chỉ đạo của Chính phủ triển khai thực hiện Thông báo số 24-TB/CQTTBCĐ, Thông báo số 25-TB/CQTTBCĐ và Kế hoạch số 05-KH/BCĐTW.
Quyết tâm đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị và mô hình chính quyền địa phương hai cấp

Quyết tâm đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị và mô hình chính quyền địa phương hai cấp

Trong bối cảnh cả hệ thống chính trị đang nỗ lực thực hiện các mục tiêu chiến lược nhằm tinh gọn bộ máy, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị, Bộ Tư pháp đã ban hành Kế hoạch triển khai Kết luận số 76-KL/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV và Nghị quyết số 221/NQ-CP của Chính phủ. Kế hoạch này là cơ sở định hướng quan trọng cho những chuyển đổi mang tính đột phá của Bộ Tư pháp trong giai đoạn tới.
Đột phá thể chế trong phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2045

Đột phá thể chế trong phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2045

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV) xác định đột phá thể chế là nền tảng của mọi cải cách lớn nhằm hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước đến năm 2045. Tư duy thể chế trong Văn kiện Đại hội XIV nhấn mạnh trực diện đến hiệu lực tổ chức thực hiện pháp luật như thước đo trung tâm của chất lượng thể chế. Trên cơ sở đó, bài viết phân tích những điểm mới về tư duy thể chế trong Văn kiện Đại hội XIV; làm rõ mối quan hệ giữa đột phá thể chế và phát triển kinh tế nhà nước; đồng thời luận giải vai trò trung tâm của Bộ Tư pháp trong thể chế hóa các nghị quyết của Đảng và tổ chức thực hiện pháp luật trong giai đoạn phát triển mới.
Diễn đàn Pháp luật ASEAN năm 2026: Thúc đẩy ứng dụng AI trong xây dựng và thi hành pháp luật

Diễn đàn Pháp luật ASEAN năm 2026: Thúc đẩy ứng dụng AI trong xây dựng và thi hành pháp luật

Từ ngày 18 - 19/8/2026, Bộ Tư pháp Việt Nam sẽ đăng cai tổ chức Diễn đàn Pháp luật ASEAN năm 2026 với chủ đề "Ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong công tác xây dựng và thi hành pháp luật trong kỷ nguyên số". Diễn đàn là cơ hội để các nước ASEAN chia sẻ kinh nghiệm, trao đổi chính sách, thúc đẩy hợp tác trong ứng dụng AI, hướng tới xây dựng hệ thống pháp luật hiện đại, hài hòa và thích ứng với yêu cầu của kỷ nguyên số. Dịp này, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh đã có cuộc trả lời phỏng vấn báo chí.
Nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong thực hiện chính quyền địa phương hai cấp

Nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong thực hiện chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Trong bối cảnh cải cách tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, hiệu lực, hiệu quả, việc triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp đặt ra yêu cầu đổi mới phương thức quản trị ở địa phương. Cùng với quá trình phân cấp, phân quyền mạnh mẽ, phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành công cụ quan trọng nhằm bảo đảm đội ngũ cán bộ, công chức và người dân hiểu đúng, thực hiện đúng pháp luật, qua đó, nâng cao chất lượng quản lý nhà nước và xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật trong xã hội. Nghiên cứu phân tích cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong điều kiện thực hiện chính quyền địa phương hai cấp, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả quản trị địa phương và bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật của người dân.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trong môi trường số

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trong môi trường số

Tóm tắt: Chuyển đổi số tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội và đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật cho người dân, nhất là người tiêu dùng. Nghiên cứu phân tích việc hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trên các nền tảng thương mại điện tử. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tham chiếu kinh nghiệm quốc tế, nghiên cứu chỉ ra những hạn chế của pháp luật hiện hành trong xác định đối tượng, nội dung, phương thức phổ biến, cơ chế phối hợp và đánh giá hiệu quả. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)1 (dự thảo Luật) theo hướng phát triển năng lực pháp lý số, góp phần nâng cao khả năng phòng ngừa rủi ro và tự bảo vệ của người tiêu dùng trong môi trường số.
Phát huy vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Phát huy vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật giữ vai trò quan trọng nhằm đưa pháp luật vào đời sống xã hội, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của người dân, xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật và bảo đảm hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước. Trong hệ thống chính quyền địa phương, Ủy ban nhân dân cấp xã là cấp chính quyền gần dân nhất, trực tiếp tiếp xúc và giải quyết các nhu cầu của người dân, đồng thời, là chủ thể giữ vai trò trung tâm trong tổ chức triển khai các hoạt động tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật tại cơ sở. Nghiên cứu tập trung phân tích cơ sở lý luận và pháp lý về vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật; đánh giá thực trạng triển khai trong thời gian qua, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật đối với lĩnh vực này.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Chính phủ số và xã hội số, việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đặt ra yêu cầu hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số. Nghiên cứu phân tích cơ sở lý luận, quy định pháp luật hiện hành, dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật) và kinh nghiệm quốc tế, từ đó chỉ ra những khoảng trống pháp lý trong chuyển đổi số hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm xây dựng hệ sinh thái phổ biến, giáo dục pháp luật số hiệu quả, đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số quốc gia.

Theo dõi chúng tôi trên: