Để bảo đảm việc triển khai Quyết định định số 1205/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ hiệu quả, thống nhất, ngày 17/8/2026, Bộ Tư pháp ban hành văn bản số 6374/BTP-CTXDVBQPPLhướng dẫn đánh giá, chấm điểm KPI về công tác xây dựng luật, kèm theo Phụ lục hướng dẫn cụ thể về tiêu chí, cách thức đánh giá
Xác định các kỳ đánh giá, chấm điểm và cách tính thời gian quá hạn
Trong giai đoạn thí điểm, hoạt động đánh giá và chấm điểm KPI được tổ chức thực hiện theo 05 kỳ cụ thể nhằm bảo đảm tính liên tục và bám sát tiến độ thực tiễn:
Kỳ đánh giá, chấm điểm lần 1: Thực hiện đối với các nhiệm vụ trong Quý III năm 2026 (từ ngày 01/7/2026 đến hết ngày 30/9/2026).
Kỳ đánh giá, chấm điểm lần 2: Thực hiện đối với các nhiệm vụ trong 06 tháng cuối năm 2026 (từ ngày 01/7/2026 đến hết ngày 31/12/2026).
Kỳ đánh giá, chấm điểm lần 3: Thực hiện đối với các nhiệm vụ trong Quý I năm 2027 (từ ngày 01/01/2027 đến hết ngày 31/3/2027).
Kỳ đánh giá, chấm điểm lần 4: Thực hiện đối với các nhiệm vụ trong 06 tháng đầu năm 2027 (từ ngày 01/01/2027 đến hết ngày 30/6/2027).
Kỳ đánh giá, chấm điểm lần 5: Thực hiện đối với các nhiệm vụ trong Quý III năm 2027 (từ ngày 01/7/2027 đến hết ngày 30/9/2027), kết hợp với việc tổng kết thi hành toàn bộ Đề án thí điểm (tính từ ngày 01/7/2026 đến hết ngày 30/9/2027).
Thời hạn thực hiện nhiệm vụ làm căn cứ đánh giá được xác định căn cứ theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành, Quy chế làm việc của Chính phủ hoặc văn bản giao nhiệm vụ của cơ quan, người có thẩm quyền. Thời gian quá hạn được tính từ ngày liền kề sau ngày phải hoàn thành nhiệm vụ đến ngày nhiệm vụ đó thực tế hoàn thành. Trong trường hợp có quyết định điều chỉnh thời hạn thực hiện nhiệm vụ từ cơ quan hoặc người có thẩm quyền thì thời hạn đã điều chỉnh sẽ được áp dụng để xác định tiến độ.
Phạm vi nhiệm vụ và danh mục văn bản thuộc diện đánh giá
Nhiệm vụ được đưa vào đánh giá, chấm điểm trong kỳ phải trực tiếp liên quan đến các hoạt động: xây dựng, thẩm định, xử lý hồ sơ chính sách, dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật, trả lời phiếu ý kiến thành viên Chính phủ, chỉnh lý, hoàn thiện và trình ban hành. Các nhiệm vụ này phải có thời hạn hoàn thành hoặc đã quá hạn trong kỳ đánh giá, đồng thời hồ sơ văn bản tương ứng phải được cấp có thẩm quyền ban hành hoặc thông qua trên thực tế trong kỳ đó.
Phạm vi văn bản cụ thể được phân định theo từng loại văn bản gắn với các chủ thể có thẩm quyền.
Đối với luật, pháp lệnh, nghị quyết của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Thời hạn trình được tính theo Chương trình lập pháp và văn bản phân công của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; thời điểm hoàn thành thực tế là thời điểm Chính phủ thông qua.
Đối với nghị định, quyết định của Thủ tướng Chính phủ, thông tư quy định chi tiết: Căn cứ vào quyết định phân công của Thủ tướng Chính phủ sau mỗi Kỳ họp Quốc hội để xác định thời hạn; thời điểm hoàn thành là thời điểm văn bản được ban hành.
Đối với nghị định, quyết định của Thủ tướng Chính phủ ban hành theo thẩm quyền: Xác định thời hạn theo Chương trình công tác của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; thời điểm hoàn thành là thời điểm ban hành văn bản.
Để bảo đảm tính khả thi, Bộ Tư pháp sẽ chủ trì phối hợp rà soát, công bố danh mục dự kiến các văn bản thuộc diện đánh giá chậm nhất trước ngày 15 của tháng cuối cùng của kỳ đánh giá. Đối với các hồ sơ văn bản chưa được ban hành hoặc thông qua tính đến thời điểm chốt số liệu, toàn bộ điểm số liên quan đến các nhiệm vụ này sẽ được chuyển sang kỳ đánh giá tiếp theo – kỳ mà văn bản đó chính thức được ban hành hoặc thông qua.
Bảo đảm tính liên tục và minh bạch trong đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ
Việc áp dụng các tiêu chí xác định kỳ đánh giá và phạm vi nhiệm vụ KPI thể hiện sự chuyển dịch từ phương thức quản lý hành chính định tính truyền thống sang phương thức quản lý công vụ hiện đại dựa trên kết quả đầu ra. Việc lượng hóa khái niệm “thời gian quá hạn” bằng cách tính ngày liền kề sau hạn định hành chính và việc lấy mốc thực tế ban hành/thông qua làm điều kiện đủ để tính điểm là những giải pháp kỹ thuật có tính thực chứng cao. Cơ chế này giúp triệt tiêu các báo cáo trung gian không đi kèm kết quả thực chất.
Đồng thời, quy định chuyển tiếp điểm số đối với các văn bản chưa ban hành sang kỳ tiếp theo bảo đảm tính liên tục của dữ liệu và phản ánh chính xác nỗ lực thực thi của các chủ thể soạn thảo qua nhiều giai đoạn hành chính liên kết. Đây là cơ sở quan trọng nhằm tăng cường tính minh bạch, giảm thiểu hiện tượng trì trệ trong quy trình lập pháp liên ngành.
Việc xác định rõ kỳ đánh giá, phạm vi nhiệm vụ, thời hạn hoàn thành, thời gian quá hạn và cơ chế chuyển tiếp điểm số tạo cơ sở thống nhất, minh bạch cho việc thí điểm đánh giá KPI trong công tác xây dựng pháp luật. Qua đó, kết quả đánh giá được gắn với tiến độ và sản phẩm thực tế, góp phần nâng cao trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị, hạn chế tình trạng chậm trễ và từng bước chuyển từ quản lý hành chính sang quản lý theo kết quả, hướng tới nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác xây dựng pháp luật.
(Ảnh: Internet)