Chủ nhật 23/08/2026 04:57
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bộ Tư pháp định hình diện mạo mới nền hành chính số thông qua thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông

Ngày 06/8/2026, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ký xác thực Văn bản hợp nhất Số:6050/2026/VBHN-NĐ-BTP quy định về thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế Một cửa, một cửa liên thông tại Bộ phận Một cửa và Cổng Dịch vụ công quốc gia. Đây là một mốc pháp lý quan trọng, không chỉ giúp hệ thống hóa toàn diện các quy định pháp luật hiện hành mà còn trực tiếp thúc đẩy tiến trình cải cách thủ tục hành chính, chuyển đổi số quốc gia một cách đồng bộ, thống nhất và thực chất.

Văn bản hợp nhất đã tích hợp đầy đủ, chính xác nội dung của bốn Nghị định quan trọng của Chính phủ ban hành từ năm 2025 đến năm 2026, bao gồm: Nghị định số 118/2025/NĐ-CP ngày 09/6/2025[1]; Nghị định số 367/2025/NĐ-CP ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 118/2025/NĐ-CP; Nghị định số 224/2026/NĐ-CP ngày 24/6/2026 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Chuyển đổi số và mới nhất là Nghị định số 309/2026/NĐ-CP ngày 05/8/2026 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 118/2025/NĐ-CP.

Chuyển giao toàn diện vai trò đầu mối đôn đốc, kiểm tra sang Bộ Tư pháp

Một trong những thay đổi căn bản nhất là việc chuyển giao toàn bộ vai trò đầu mối giúp Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông từ Văn phòng Chính phủ sang Bộ Tư pháp.

Theo quy định mới nhất tại Nghị định số 309/2026/NĐ-CP, Bộ Tư pháp đảm nhiệm các chức năng và nhiệm vụ sau:

Thứ nhất, giúp Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện Nghị định tại các bộ, ngành, địa phương; định kỳ hoặc đột xuất báo cáo Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về tình hình và kết quả triển khai.

Thứ hai, chủ trì, phối hợp với các Bộ: Nội vụ, Công an, Khoa học và Công nghệ, Tài chính hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc việc triển khai thiết lập và hoạt động của Bộ phận Một cửa của các bộ, ngành, Ủy ban nhân dân các cấp.

Thứ ba, xây dựng, ban hành thống nhất các biểu mẫu thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết thủ tục hành chính.

Thứ tư, quy định tiêu chuẩn thủ tục hành chính đủ điều kiện thực hiện không phụ thuộc vào địa giới hành chính trong phạm vi toàn quốc; quy trình thực hiện cụ thể ở cả cấp tỉnh và cấp quốc gia.

Thứ năm, đánh giá chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp trong thực hiện thủ tục hành chính, dịch vụ công của các bộ, ngành, địa phương, thay thế thẩm quyền đánh giá trước đây của Văn phòng Chính phủ.

Thứ sáu, quản lý, hướng dẫn việc cập nhật, đăng tải, khai thác dữ liệu thủ tục hành chính trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về thủ tục hành chính; hướng dẫn số hóa hồ sơ, kết quả giải quyết và rà soát, đơn giản hóa, tái cấu trúc quy trình điện tử.

Sự chuyển giao này khẳng định xu hướng chuyên môn hóa sâu sắc trong công tác kiểm soát thủ tục hành chính. Bộ Tư pháp, với vai trò là cơ quan gác cổng về mặt pháp chế của Chính phủ, sẽ bảo đảm tính hợp pháp, tính thống nhất và tính khả thi của các quy định hành chính, tránh tình trạng chồng chéo hoặc ban hành các rào cản kỹ thuật trái quy định pháp luật.

Thiết chế hóa thiết bị tự phục vụ (ki-ốt thông minh)

Lần đầu tiên trong văn bản quy phạm pháp luật về cơ chế một cửa, khái niệm “Thiết bị tự phục vụ” (ki-ốt thông minh) được định nghĩa và chuẩn hóa về mặt pháp lý.

Theo đó, ki-ốt thông minh là thiết bị đầu cuối chuyên dụng kết nối trực tiếp với Cổng Dịch vụ công quốc gia và Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính. Thiết bị này cho phép người dân, doanh nghiệp tự thực hiện toàn trình các bước: tra cứu thông tin thủ tục, nộp hồ sơ, xác thực định danh (qua ứng dụng định danh quốc gia VNeID hoặc thiết bị đọc thẻ Căn cước có giá trị thay thế việc kiểm tra giấy tờ tùy thân của công dân), thanh toán trực tuyến nghĩa vụ tài chính và nhận kết quả thủ tục hành chính tự động.

Nhằm tối ưu hóa khả năng tiếp cận dịch vụ công trực tuyến của người dân, Nghị định số 309/2026/NĐ-CP quy định khuyến khích các cơ quan, tổ chức triển khai ki-ốt thông minh tại Bộ phận Tiếp nhận và Trả kết quả, Trung tâm Phục vụ hành chính công, Điểm tiếp nhận và trả kết quả để hỗ trợ tổ chức, cá nhân thực hiện thủ tục, dịch vụ công trực tuyến.

Việc sử dụng ki-ốt thông minh phải bảo đảm nguyên tắc không làm thay đổi thẩm quyền, trách nhiệm tiếp nhận, giải quyết, trả kết quả của cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, căn cứ vào tình hình thực tế địa phương, quyết định tổ chức triển khai ki-ốt thông minh tại các địa điểm sinh hoạt cộng đồng như nhà văn hóa, bưu điện hoặc các khu vực công cộng để hỗ trợ người dân.

Đây là giải pháp đột phá để thu hẹp khoảng cách số, giúp người dân dễ dàng tiếp cận công nghệ số, nâng cao trải nghiệm dịch vụ công trực tuyến một cách chủ động và tự động.

Thực hiện thủ tục hành chính không phụ thuộc vào địa giới hành chính trên phạm vi toàn quốc

Nếu trước đây, việc nộp hồ sơ và nhận kết quả không phụ thuộc địa giới hành chính chỉ được thí điểm hoặc áp dụng bó hẹp trong phạm vi cấp tỉnh, thì Nghị định số 309/2026/NĐ-CP đã chính thức nâng tầm lên phạm vi toàn quốc.

Trung tâm Phục vụ hành chính công cấp tỉnh và Trung tâm Phục vụ hành chính công cấp xã tiếp nhận thủ tục hành chính không phụ thuộc vào địa giới hành chính trong phạm vi toàn quốc đối với các thủ tục hành chính quy định đáp ứng đầy đủ yêu cầu về: (i) Số hóa hồ sơ đầu vào; (ii) Xác thực điện tử danh tính; (iii) Liên thông, chia sẻ dữ liệu thông suốt theo danh mục do cơ quan có thẩm quyền công bố.

Thời gian giải quyết đối với các thủ tục hành chính tiếp nhận không phụ thuộc vào địa giới hành chính được tính kể từ thời điểm cơ quan có thẩm quyền giải quyết nhận được hồ sơ theo quy định. Sự thay đổi mang tính cách mạng này triệt tiêu hoàn toàn rào cản về khoảng cách địa lý, giảm thiểu tối đa chi phí đi lại, lưu trú cho người dân và doanh nghiệp khi cần giải quyết các thủ tục hành chính liên tỉnh, liên vùng.

Tinh gọn tổ chức bộ phận một cửa và định hình cơ cấu nhân sự cấp xã

Bên cạnh những cải cách về mặt công nghệ, Nghị định số 309/2026/NĐ-CP quy định tập trung tinh gọn bộ máy, chuẩn hóa cơ cấu tổ chức của Bộ phận Một cửa các cấp để bảo đảm hoạt động hiệu lực, hiệu quả:

Đối với các cơ quan ngành dọc của Trung ương đặt tại địa phương: Người đứng đầu cơ quan ngành dọc quyết định tổ chức Bộ phận Tiếp nhận và Trả kết quả. Trường hợp người đứng đầu cơ quan ngành dọc không tổ chức Bộ phận Tiếp nhận và Trả kết quả tại cơ quan mình thì bắt buộc phải bố trí cán bộ, công chức, viên chức đến làm việc tại Trung tâm Phục vụ hành chính công cấp tỉnh, Trung tâm Phục vụ hành chính công cấp xã nơi có cơ quan ngành dọc đặt trụ sở để tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính cho người dân.

Đối với Trung tâm Phục vụ hành chính công cấp xã: Cơ cấu lãnh đạo đã được điều chỉnh căn bản nhằm tinh gọn và nâng cao năng lực thực thi hành chính công. Theo đó, lãnh đạo Trung tâm gồm Giám đốc tương đương Trưởng phòng và không quá 02 Phó Giám đốc tương đương Phó Trưởng phòng thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã (thay thế quy định cũ tại Nghị định 118/2025/NĐ-CP vốn quy định Giám đốc Trung tâm cấp xã là một Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã kiêm nhiệm và chỉ có 01 Phó Giám đốc).

Về kỷ luật lao động và kỷ cương công vụ: Người đứng đầu Bộ phận Một cửa trực tiếp điều hành, quản lý thời gian làm việc, tác phong cư xử và tiến độ xử lý công việc của nhân sự làm việc tại đây. Có quyền từ chối tiếp nhận hoặc chủ động đề xuất với cơ quan cử người thay thế ngay những cán bộ, công chức, viên chức vi phạm kỷ luật công vụ, có thái độ sách nhiễu, cửa quyền hoặc năng lực chuyên môn yếu kém, không đáp ứng được nhiệm vụ.

Nghị định số 309/2026/NĐ-CP được ban hành trong bối cảnh các cơ quan nhà nước đang nỗ lực chuyển đổi phương thức phục vụ từ bị động sang chủ động, lấy sự hài lòng của người dân và doanh nghiệp làm thước đo hiệu quả công vụ. Văn bản hợp nhất được Bộ Tư pháp ban hành góp phần bảo đảm sự thống nhất về mặt thể chế sẽ loại bỏ hoàn toàn các khoảng trống pháp lý, tạo điều kiện thuận lợi nhất để các bộ, ngành, địa phương tổ chức thực hiện nghiêm túc, nhất quán, góp phần xây dựng nền hành chính minh bạch, hiện đại và chuyên nghiệp.

(Ảnh: Internet)

[1] Nghị định số 118/2025/NĐ-CP ngày 09/6/2025 của Chính phủ quy định về thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông tại Bộ phận một cửa và cổng dịch vụ công quốc gia

HL

Tin bài có thể bạn quan tâm

Chuyển dịch phương thức chỉ đạo, điều hành dựa trên dữ liệu: Đột phá mới trong chuyển đổi số tại Bộ Tư pháp

Chuyển dịch phương thức chỉ đạo, điều hành dựa trên dữ liệu: Đột phá mới trong chuyển đổi số tại Bộ Tư pháp

Ngày 19/8/2026, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 1925/QĐ-BTP về việc ban hành Quy chế quản lý, vận hành, khai thác và sử dụng Nền tảng tổng hợp, phân tích dữ liệu của Bộ Tư pháp (Quy chế). Đây là bước cụ thể hóa chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; đồng thời, đáp ứng yêu cầu xây dựng nền hành chính minh bạch, hiện đại, chuyên nghiệp, hoạt động dựa trên dữ liệu và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước.
Quyết tâm đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị và mô hình chính quyền địa phương hai cấp

Quyết tâm đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị và mô hình chính quyền địa phương hai cấp

Trong bối cảnh cả hệ thống chính trị đang nỗ lực thực hiện các mục tiêu chiến lược nhằm tinh gọn bộ máy, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị, Bộ Tư pháp đã ban hành Kế hoạch triển khai Kết luận số 76-KL/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV và Nghị quyết số 221/NQ-CP của Chính phủ. Kế hoạch này là cơ sở định hướng quan trọng cho những chuyển đổi mang tính đột phá của Bộ Tư pháp trong giai đoạn tới.
Đột phá thể chế trong phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2045

Đột phá thể chế trong phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2045

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV) xác định đột phá thể chế là nền tảng của mọi cải cách lớn nhằm hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước đến năm 2045. Tư duy thể chế trong Văn kiện Đại hội XIV nhấn mạnh trực diện đến hiệu lực tổ chức thực hiện pháp luật như thước đo trung tâm của chất lượng thể chế. Trên cơ sở đó, bài viết phân tích những điểm mới về tư duy thể chế trong Văn kiện Đại hội XIV; làm rõ mối quan hệ giữa đột phá thể chế và phát triển kinh tế nhà nước; đồng thời luận giải vai trò trung tâm của Bộ Tư pháp trong thể chế hóa các nghị quyết của Đảng và tổ chức thực hiện pháp luật trong giai đoạn phát triển mới.
Diễn đàn Pháp luật ASEAN năm 2026: Thúc đẩy ứng dụng AI trong xây dựng và thi hành pháp luật

Diễn đàn Pháp luật ASEAN năm 2026: Thúc đẩy ứng dụng AI trong xây dựng và thi hành pháp luật

Từ ngày 18 - 19/8/2026, Bộ Tư pháp Việt Nam sẽ đăng cai tổ chức Diễn đàn Pháp luật ASEAN năm 2026 với chủ đề "Ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong công tác xây dựng và thi hành pháp luật trong kỷ nguyên số". Diễn đàn là cơ hội để các nước ASEAN chia sẻ kinh nghiệm, trao đổi chính sách, thúc đẩy hợp tác trong ứng dụng AI, hướng tới xây dựng hệ thống pháp luật hiện đại, hài hòa và thích ứng với yêu cầu của kỷ nguyên số. Dịp này, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh đã có cuộc trả lời phỏng vấn báo chí.
Nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong thực hiện chính quyền địa phương hai cấp

Nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong thực hiện chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Trong bối cảnh cải cách tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, hiệu lực, hiệu quả, việc triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp đặt ra yêu cầu đổi mới phương thức quản trị ở địa phương. Cùng với quá trình phân cấp, phân quyền mạnh mẽ, phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành công cụ quan trọng nhằm bảo đảm đội ngũ cán bộ, công chức và người dân hiểu đúng, thực hiện đúng pháp luật, qua đó, nâng cao chất lượng quản lý nhà nước và xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật trong xã hội. Nghiên cứu phân tích cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong điều kiện thực hiện chính quyền địa phương hai cấp, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả quản trị địa phương và bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật của người dân.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trong môi trường số

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trong môi trường số

Tóm tắt: Chuyển đổi số tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội và đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật cho người dân, nhất là người tiêu dùng. Nghiên cứu phân tích việc hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trên các nền tảng thương mại điện tử. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tham chiếu kinh nghiệm quốc tế, nghiên cứu chỉ ra những hạn chế của pháp luật hiện hành trong xác định đối tượng, nội dung, phương thức phổ biến, cơ chế phối hợp và đánh giá hiệu quả. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)1 (dự thảo Luật) theo hướng phát triển năng lực pháp lý số, góp phần nâng cao khả năng phòng ngừa rủi ro và tự bảo vệ của người tiêu dùng trong môi trường số.
Phát huy vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Phát huy vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật giữ vai trò quan trọng nhằm đưa pháp luật vào đời sống xã hội, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của người dân, xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật và bảo đảm hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước. Trong hệ thống chính quyền địa phương, Ủy ban nhân dân cấp xã là cấp chính quyền gần dân nhất, trực tiếp tiếp xúc và giải quyết các nhu cầu của người dân, đồng thời, là chủ thể giữ vai trò trung tâm trong tổ chức triển khai các hoạt động tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật tại cơ sở. Nghiên cứu tập trung phân tích cơ sở lý luận và pháp lý về vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật; đánh giá thực trạng triển khai trong thời gian qua, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật đối với lĩnh vực này.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Chính phủ số và xã hội số, việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đặt ra yêu cầu hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số. Nghiên cứu phân tích cơ sở lý luận, quy định pháp luật hiện hành, dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật) và kinh nghiệm quốc tế, từ đó chỉ ra những khoảng trống pháp lý trong chuyển đổi số hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm xây dựng hệ sinh thái phổ biến, giáo dục pháp luật số hiệu quả, đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số quốc gia.
Đơn giản hóa thủ tục yêu cầu Nhà nước bồi thường - Từ yêu cầu cải cách hành chính đến bảo đảm quyền của người bị thiệt hại

Đơn giản hóa thủ tục yêu cầu Nhà nước bồi thường - Từ yêu cầu cải cách hành chính đến bảo đảm quyền của người bị thiệt hại

Tóm tắt: Trong Nhà nước pháp quyền, cá nhân, tổ chức và Nhà nước bình đẳng trước pháp luật. Vì thế, trong quá trình thực thi công vụ, các cá nhân, tổ chức có thẩm quyền thực hiện hành vi trái pháp luật gây thiệt hại cho các cá nhân, tổ chức thì các cá nhân, tổ chức bị thiệt hại có quyền yêu cầu Nhà nước bồi thường. Nghiên cứu phân tích việc đơn giản hóa thủ tục yêu cầu Nhà nước bồi thường trên cơ sở quyền hiến định của người bị thiệt hại, yêu cầu cải cách hành chính, chuyển đổi số và các quy định của dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước[1] (dự thảo Luật). Trọng tâm là các quy định về hồ sơ, hình thức yêu cầu, tiếp nhận và xử lý hồ sơ, thụ lý, xác minh thiệt hại, thương lượng, quyết định giải quyết bồi thường, quyền khởi kiện và chuyển đổi số trong quản lý nhà nước. Trên cơ sở đánh giá các điều 41, 42, 43, 45, 46, 47, 52 và 73, nghiên cứu đề xuất làm rõ giá trị pháp lý của hồ sơ điện tử, xác nhận tiếp nhận, yêu cầu bổ sung hồ sơ một lần, khai thác dữ liệu sẵn có, hiệu lực của quyết định giải quyết bồi thường và bảo vệ dữ liệu cá nhân của người yêu cầu bồi thường.
Ứng dụng công nghệ và trí tuệ nhân tạo trong tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Ứng dụng công nghệ và trí tuệ nhân tạo trong tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Hoạt động tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) là nhiệm vụ quan trọng, lần đầu tiên được triển khai trên phạm vi toàn quốc theo Kết luận số 09-KL/TW ngày 10/3/2026 của Bộ Chính trị. Năm 2026, công tác này phải xử lý khối lượng dữ liệu văn bản rất lớn được ban hành ở cả Trung ương và địa phương qua nhiều giai đoạn. Trong điều kiện đó, phương thức rà soát thủ công dựa trên việc đối chiếu văn bản giấy không còn đáp ứng yêu cầu về tiến độ, phạm vi và độ chính xác. Vì vậy, việc ứng dụng công nghệ số và trí tuệ nhân tạo (AI) trong rà soát là giải pháp cần thiết, góp phần nhận diện, phân tích và xử lý các quy định chồng chéo, mâu thuẫn hoặc không còn phù hợp một cách hệ thống, hiệu quả.
Hà Nội phấn đấu đạt Chỉ số SIPAS tối thiểu 95% vào năm 2030

Hà Nội phấn đấu đạt Chỉ số SIPAS tối thiểu 95% vào năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn mới, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, cải cách hành chính tiếp tục được xác định là một trong những nhiệm vụ trọng tâm nhằm nâng cao năng lực quản trị quốc gia; đồng thời là một trong các tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước. Đối với Thủ đô Hà Nội, trung tâm văn hóa, chính trị, kinh tế - xã hội của cả nước, nơi hội tụ nhiều cơ chế, chính sách đặc thù, cải cách hành chính không chỉ là yêu cầu tất yếu của quá trình đổi mới mà còn là điều kiện tiên quyết để khai thác hiệu quả các nguồn lực, tạo môi trường thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của Thủ đô đến năm 2030.
Dấu ấn hành trình 80 năm và những bước phát triển đột phá trong tổ chức bộ máy Hệ thống Thi hành án dân sự

Dấu ấn hành trình 80 năm và những bước phát triển đột phá trong tổ chức bộ máy Hệ thống Thi hành án dân sự

Trong hành trình 80 năm phát triển (19/7/1946 - 19/7/2026), Hệ thống Thi hành án dân sự (THADS) đã có những bước đột phá mạnh mẽ cả về thể chế, tổ chức bộ máy, nguồn nhân lực chất lượng và hiệu quả hoạt động. Đặc biệt, tổ chức bộ máy đã từng bước chuyển đổi toàn diện, từ các cơ quan hành chính tư pháp sơ khai trở thành hệ thống cơ quan tư pháp chuyên sâu. Từ bước phát triển đột phá đó tạo điều kiện quan trọng để đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, đổi mới phương thức quản trị, từng bước công khai, minh bạch hóa quy trình tổ chức thi hành án và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Đồng thời, xây dựng Hệ thống THADS phát triển hiện đại, chuyên nghiệp, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới.
Chuyển đổi số trong thi hành án dân sự: Dấu ấn 80 năm từng bước hiện đại hóa hoạt động, kiến tạo nền quản trị dữ liệu và điều hành thông minh

Chuyển đổi số trong thi hành án dân sự: Dấu ấn 80 năm từng bước hiện đại hóa hoạt động, kiến tạo nền quản trị dữ liệu và điều hành thông minh

80 năm xây dựng và trưởng thành là hành trình bền bỉ của Hệ thống Thi hành án dân sự (THADS) trong việc đưa bản án, quyết định của Tòa án và các cơ quan có thẩm quyền được thi hành trên thực tế, bảo vệ công lý, quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức, cá nhân, góp phần giữ vững kỷ cương pháp luật và niềm tin của Nhân dân vào Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Phân cấp, phân quyền, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính trong thi hành án dân sự nhằm nâng cao hiệu quả phục vụ người dân, doanh nghiệp đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phân cấp, phân quyền, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính trong thi hành án dân sự nhằm nâng cao hiệu quả phục vụ người dân, doanh nghiệp đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Thi hành án dân sự (THADS) là giai đoạn cuối cùng của quá trình thực thi công lý, bảo đảm các bản án, quyết định của Tòa án được thực hiện trên thực tế. Hiệu quả của công tác THADS không chỉ tác động trực tiếp đến việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, mà còn phản ánh tính nghiêm minh của pháp luật, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và mức độ bảo đảm môi trường đầu tư, kinh doanh minh bạch, ổn định của quốc gia.
Luật Công chứng sửa đổi năm 2026: Tạo thuận lợi cao nhất cho người dân, doanh nghiệp

Luật Công chứng sửa đổi năm 2026: Tạo thuận lợi cao nhất cho người dân, doanh nghiệp

Ngày 23/4/2026, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng (Luật năm 2026). Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2027. Luật năm 2026 có nhiều điểm mới đáng chú ý nhằm thể chế hóa kịp thời các chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước về tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền; thúc đẩy tạo lập dữ liệu phục vụ chuyển đổi số toàn diện, cải cách tối đa thủ tục hành chính, giảm chi phí, tạo thuận lợi cao nhất cho người dân, doanh nghiệp.

Theo dõi chúng tôi trên: