Mở rộng diện người được trợ giúp pháp lý
Một trong những nội dung đáng chú ý của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý là việc sửa đổi Điều 7 về người được trợ giúp pháp lý. Theo đó, bên cạnh các nhóm đang được hưởng trợ giúp pháp lý như người có công với cách mạng, người thuộc hộ nghèo, người khuyết tật, trẻ em, người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn..., Luật số 05/2026/QH16 bổ sung một số nhóm đối tượng.
Đáng chú ý, người lao động có thu nhập thấp là người bị buộc tội, bị hại được bổ sung vào diện người được trợ giúp pháp lý. Đây là nhóm đối tượng được xác định trên cơ sở đồng thời xem xét yếu tố thu nhập và tư cách tham gia trong vụ việc.
Luật số 05/2026/QH16 cũng bổ sung người có khó khăn đột xuất do gặp thiên tai hoặc hỏa hoạn, nhưng việc trợ giúp pháp lý được giới hạn trong vụ việc liên quan trực tiếp đến việc khắc phục hậu quả xảy ra với họ bởi sự kiện này.
Một điểm mới khác là quy định cụ thể hơn về người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi. Nhóm này được trợ giúp pháp lý khi là người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị buộc tội, bị hại, người làm chứng, người chấp hành biện pháp xử lý chuyển hướng hoặc phạm nhân theo quy định của Luật Tư pháp người chưa thành niên.
Bên cạnh đó, Luật số 05/2026/QH16 bổ sung nạn nhân, người đang trong quá trình xác định là nạn nhân của hành vi mua bán người và người dưới 18 tuổi đi cùng theo quy định của Luật Phòng, chống mua bán người; cá nhân bị thiệt hại mà không thuê người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp theo quy định của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước; đồng thời quy định người nước ngoài theo điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên có quy định được trợ giúp pháp lý.
Việc bổ sung các nhóm đối tượng này làm rõ hơn phạm vi tiếp cận trợ giúp pháp lý trong những trường hợp có nhu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, đặc biệt trong một số tình huống liên quan đến tố tụng, thiên tai, hỏa hoạn, mua bán người và trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.
Điều chỉnh căn cứ thành lập Chi nhánh Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước
Luật số 05/2026/QH16 sửa đổi Điều 11 theo hướng quy định Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước có thể có Chi nhánh. Chi nhánh là đơn vị phụ thuộc của Trung tâm và Trung tâm chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động của Chi nhánh.
Đáng chú ý, căn cứ để thành lập Chi nhánh được xác định trên cơ sở điều kiện kinh tế - xã hội và nhu cầu trợ giúp pháp lý tại địa phương. Trên cơ sở đó, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thành lập Chi nhánh.
Quy định mới tạo cơ sở để việc tổ chức mạng lưới Chi nhánh được xem xét phù hợp hơn với điều kiện thực tế và nhu cầu trợ giúp pháp lý tại từng địa phương, thay vì chỉ dựa trên những điều kiện mang tính cố định. Đồng thời, Luật số 05/2026/QH16 giao Chính phủ quy định về tổ chức, hoạt động của Trung tâm, Chi nhánh cũng như trình tự, thủ tục thành lập, giải thể, sáp nhập Chi nhánh.
Hoàn thiện tiêu chuẩn trợ giúp viên pháp lý
Điều 19 của Luật Trợ giúp pháp lý hiện hành được sửa đổi theo hướng quy định cụ thể các tiêu chuẩn để một viên chức của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước có thể trở thành trợ giúp viên pháp lý.
Theo đó, người được xem xét phải là công dân Việt Nam, là viên chức của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước và đáp ứng các tiêu chuẩn: có phẩm chất đạo đức tốt; có trình độ cử nhân luật trở lên; đã được đào tạo nghề luật sư hoặc được miễn đào tạo nghề luật sư; đã qua thời gian tập sự hành nghề luật sư hoặc tập sự trợ giúp pháp lý, trừ trường hợp đã từng là trợ giúp viên pháp lý; có sức khỏe bảo đảm thực hiện trợ giúp pháp lý.
So với việc chỉ quy định khái quát, việc luật hóa cụ thể các tiêu chuẩn này tạo căn cứ rõ ràng cho việc xem xét, bổ nhiệm trợ giúp viên pháp lý, đồng thời gắn yêu cầu về trình độ chuyên môn, quá trình đào tạo, tập sự với khả năng thực hiện nhiệm vụ.
Siết chặt điều kiện bổ nhiệm, đồng thời quy định rõ trường hợp được bổ nhiệm lại
Cùng với việc quy định tiêu chuẩn, Luật số 05/2026/QH16 sửa đổi Điều 21 theo hướng xác định rõ những trường hợp không được xem xét bổ nhiệm và cấp thẻ trợ giúp viên pháp lý.
Người đủ tiêu chuẩn nhưng đang trong thời hạn bị xử lý kỷ luật; đang bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc hoặc cơ sở giáo dục bắt buộc; đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc thuộc một số trường hợp đã bị kết án theo quy định thì không được xem xét bổ nhiệm và cấp thẻ.
Đáng chú ý, Luật số 05/2026/QH16 cũng quy định trường hợp người đã bị miễn nhiệm, thu hồi thẻ trợ giúp viên pháp lý thuộc một số trường hợp nhất định có thể được xem xét bổ nhiệm, cấp thẻ trở lại khi đáp ứng đủ tiêu chuẩn và lý do miễn nhiệm, thu hồi thẻ không còn.
Quy định này vừa đặt ra yêu cầu chặt chẽ đối với việc bổ nhiệm, vừa tạo cơ chế xem xét trở lại đối với người trước đó bị miễn nhiệm, thu hồi thẻ khi các điều kiện liên quan đã được khắc phục.
Mở rộng nguồn nhân lực thông qua cộng tác viên trợ giúp pháp lý
Theo Luật số 05/2026/QH16, Điều 24 được thiết kế theo hướng mở rộng và cụ thể hóa nhóm người có thể trở thành cộng tác viên trợ giúp pháp lý.
Trong đó, có người đã nghỉ hưu hoặc thôi việc theo nguyện vọng, thôi việc vì lý do khách quan, có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, phẩm chất đạo đức tốt, đủ sức khỏe và có nguyện vọng thực hiện trợ giúp pháp lý. Nhóm này bao gồm những người từng là trợ giúp viên pháp lý, thẩm phán, thẩm tra viên ngành Tòa án, kiểm sát viên, kiểm tra viên ngành Kiểm sát, điều tra viên, chấp hành viên, thẩm tra viên thi hành án dân sự và một số người có quá trình công tác pháp luật theo quy định.
Luật số 05/2026/QH16 cũng cho phép một số viên chức có thời gian làm công tác pháp luật đáp ứng điều kiện trở thành cộng tác viên.
Đồng thời, Luật quy định rõ trách nhiệm của Giám đốc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước trong việc ký hợp đồng thực hiện trợ giúp pháp lý với cộng tác viên được cấp thẻ để thực hiện tư vấn pháp luật, đại diện ngoài tố tụng tại địa phương.
Bổ sung cơ chế thụ lý ngay đối với vụ việc cần trợ giúp khẩn cấp
Luật số 05/2026/QH16 sửa đổi Điều 30, trong đó bổ sung cơ chế thụ lý ngay trong trường hợp người yêu cầu chưa thể cung cấp đầy đủ hồ sơ nhưng cần được trợ giúp pháp lý ngay.
Cụ thể, cơ chế này được áp dụng khi vụ việc sắp hết thời hiệu khởi kiện, sắp đến ngày xét xử, khi cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng hoặc cơ quan tiến hành tố tụng chuyển yêu cầu trợ giúp pháp lý cho tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý hoặc để tránh gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của người được trợ giúp pháp lý.
Trong trường hợp này, người tiếp nhận yêu cầu phải báo cáo người đứng đầu tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý và thụ lý ngay, đồng thời hướng dẫn người yêu cầu bổ sung các giấy tờ, tài liệu cần thiết.
Quy định này cho thấy, pháp luật đã tính đến những tình huống mà việc chờ hoàn thiện đầy đủ hồ sơ có thể ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người có yêu cầu trợ giúp pháp lý.
Tăng cường phối hợp trong xác minh, chuyển vụ việc và kiến nghị
Luật số 05/2026/QH16 sửa đổi các quy định về phối hợp xác minh và chuyển vụ việc trợ giúp pháp lý. Khi cần xác minh tình tiết, sự kiện liên quan đến vụ việc tại địa phương khác, tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý đã thụ lý có thể yêu cầu tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý nơi cần xác minh phối hợp thực hiện. Yêu cầu phải bằng văn bản, nêu rõ nội dung cần xác minh và thời hạn trả lời.
Đồng thời, Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước đang giải quyết vụ việc có thể chuyển vụ việc cho Trung tâm ở địa phương khác khi vụ việc đã được chuyển cho cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng tại địa phương đó giải quyết và đã thông báo cho người được trợ giúp pháp lý biết.
Đáng chú ý, Luật số 05/2026/QH16 sửa đổi Điều 36 về kiến nghị trong hoạt động trợ giúp pháp lý. Theo đó, trong quá trình thực hiện trợ giúp pháp lý, tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý có thể kiến nghị bằng văn bản với cơ quan nhà nước có thẩm quyền về các vấn đề liên quan đến việc giải quyết vụ việc. Cơ quan nhận được kiến nghị có trách nhiệm trả lời bằng văn bản theo quy định.
Trường hợp cơ quan nhận được kiến nghị không trả lời theo quy định, tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý có quyền kiến nghị cơ quan cấp trên trực tiếp xem xét, giải quyết.
Làm rõ trách nhiệm phối hợp trong hoạt động trợ giúp pháp lý trong tố tụng
Luật số 05/2026/QH16 sửa đổi, bổ sung Điều 41, theo đó quy định cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng có trách nhiệm phối hợp và tổ chức phối hợp thực hiện cơ chế liên ngành, trực trợ giúp pháp lý tại Tòa án nhân dân và trong điều tra hình sự; tạo điều kiện để người được trợ giúp pháp lý được hưởng quyền trợ giúp pháp lý và người thực hiện trợ giúp pháp lý tham gia tố tụng theo quy định.
Đồng thời, Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Tài chính phối hợp xây dựng cơ chế hội đồng phối hợp liên ngành về trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng ở Trung ương và cấp tỉnh.
Quy định này đặt hoạt động phối hợp giữa các cơ quan liên quan trong tố tụng thành một nội dung cụ thể của Luật, cùng với trách nhiệm kết nối, liên thông và chia sẻ dữ liệu trợ giúp pháp lý.
Tăng trách nhiệm của cơ quan nhà nước trong việc bảo đảm quyền được trợ giúp pháp lý
Điều 42 theo Luật số 05/2026/QH16 được sửa đổi, bổ sung theo hướng Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên có trách nhiệm giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật về trợ giúp pháp lý và phối hợp với các cơ quan nhà nước, tổ chức có liên quan.
Đặc biệt, trong quá trình xử lý, giải quyết vụ việc liên quan đến công dân, nếu công dân thuộc diện người được trợ giúp pháp lý, cơ quan nhà nước có trách nhiệm giải thích quyền được trợ giúp pháp lý và giới thiệu đến tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý.
Quy định này làm rõ hơn trách nhiệm của cơ quan nhà nước trong việc giúp người dân nhận biết và tiếp cận quyền được trợ giúp pháp lý khi giải quyết các vụ việc có liên quan.
Hướng tới hệ thống trợ giúp pháp lý linh hoạt và liên thông hơn
Có thể thấy, các sửa đổi, bổ sung của Luật số 05/2026/QH16 tập trung vào nhiều khâu của hoạt động trợ giúp pháp lý, từ xác định người được trợ giúp pháp lý, tổ chức mạng lưới, đội ngũ người thực hiện, tiếp nhận và thụ lý vụ việc đến phối hợp trong tố tụng, quản lý chất lượng, giải quyết khiếu nại và chuyển đổi số.
Đáng chú ý, việc mở rộng diện người được trợ giúp pháp lý được đặt song song với việc hoàn thiện cơ chế tổ chức thực hiện. Cơ chế thụ lý ngay được bổ sung cùng với quy định về phối hợp xác minh, chuyển vụ việc; trách nhiệm của cơ quan nhà nước trong việc giải thích, giới thiệu quyền được trợ giúp pháp lý được quy định cùng với cơ chế phối hợp liên ngành trong tố tụng. Trong khi đó, yêu cầu chuyển đổi số được gắn với việc xây dựng, kết nối và chia sẻ cơ sở dữ liệu trợ giúp pháp lý trên Cổng Pháp luật quốc gia.
Những sửa đổi này tạo thành một hệ thống quy định tương đối đồng bộ hơn về đối tượng, tổ chức, con người, quy trình thực hiện và phương thức quản lý trợ giúp pháp lý, hướng đến việc bảo đảm hoạt động trợ giúp pháp lý được tổ chức phù hợp với nhu cầu thực tế và yêu cầu bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người được trợ giúp pháp lý.
Ảnh: Internet