Nghị định gồm 07 chương, 32 điều; được xây dựng nhằm hoàn thiện hành lang pháp lý đồng bộ, thống nhất trong việc triển khai các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về luật sư công, góp phần bảo vệ lợi ích của Nhà nước và bảo đảm tổ chức thực hiện hiệu quả chế định này.
Thiết lập cơ chế đào tạo, tập sự và bảo đảm tiêu chuẩn hành nghề của luật sư công
Nghị định số 364/2026/NĐ-CP quy định việc đào tạo, tập sự nghề luật sư cho người muốn trở thành luật sư công tương tự như pháp luật về luật sư hiện hành. Theo đó, người có bằng cử nhân luật hoặc thạc sĩ luật được tham dự khóa đào tạo nghề luật sư tại cơ sở đào tạo nghề luật sư để trở thành luật sư công. Thời gian đào tạo nghề luật sư là mười hai tháng; các đối tượng được miễn đào tạo nghề luật sư được xác định trên cơ sở quy định của Luật Luật sư gồm: (i) Giáo sư, phó giáo sư chuyên ngành luật; tiến sĩ luật; (ii) Đã từng là thẩm phán Tòa án nhân dân bậc 2, bậc 3; kiểm sát viên trung cấp, kiểm sát viên cao cấp; điều tra viên trung cấp, điều tra viên cao cấp; chấp hành viên cao cấp; thẩm tra viên cao cấp; (iii) Đã từng là chấp hành viên trung cấp, thẩm tra viên chính; (iv) Chuyên viên cao cấp, pháp chế viên cao cấp, thanh tra viên cao cấp, nghiên cứu viên cao cấp, giảng viên cao cấp trong lĩnh vực pháp luật; (v) Chuyên viên chính, pháp chế viên chính, thanh tra viên chính, nghiên cứu viên chính, giảng viên chính trong lĩnh vực pháp luật; (vi) Đã từng là trợ giúp viên pháp lý và có giấy chứng nhận tốt nghiệp đào tạo nghề luật sư (Điều 4).
Về tập sự, nơi tập sự, thời gian tập sự, luật sư tập sự có thể lựa chọn tập sự tại tổ chức hành nghề luật sư hoặc cơ quan, doanh nghiệp quản lý của mình và đăng ký tập sự tại Đoàn Luật sư. Trong một số trường hợp, người muốn trở thành luật sư công phải tham gia tập sự, thời gian tập sự được xác định theo đối tượng tập sự, gồm 04 tháng, 06 tháng hoặc 12 tháng.
Bên cạnh đó, Nghị định xác định các trường hợp được miễn tập sự hành nghề luật sư để trở thành luật sư công gồm: (i) Giáo sư, phó giáo sư chuyên ngành luật; tiến sĩ luật; (ii) Đã từng là thẩm phán Tòa án nhân dân bậc 2, bậc 3; kiểm sát viên trung cấp, kiểm sát viên cao cấp; điều tra viên trung cấp, điều tra viên cao cấp; chấp hành viên cao cấp; thẩm tra viên cao cấp; trợ giúp viên pháp lý hạng I; (iii) Đang là chuyên viên cao cấp, pháp chế viên cao cấp, thanh tra viên cao cấp, nghiên cứu viên cao cấp, giảng viên cao cấp trong lĩnh vực pháp luật. Quy định này nhằm bảo đảm tiêu chuẩn đầu vào và chất lượng của luật sư công.
Để nâng cao chất lượng tập sự và tạo điều kiện cho luật sư tập sự, Nghị định còn quy định cụ thể quyền và trách nhiệm của luật sư tập sự, luật sư hướng dẫn tập sự, tổ chức hành nghề luật sư nhận tập sự và cơ quan, doanh nghiệp quản lý luật sư tập sự.
Công nhận và quản lý tư cách hành nghề của luật sư công
Nhằm phát huy hiệu quả của đội ngũ luật sư công trong việc bảo vệ lợi ích của Nhà nước, tránh lãng phí, tiêu cực, lợi dụng quy định để hưởng chế độ, chính sách, Nghị định số 364/2026/NĐ-CP quy định cơ quan thực hiện thí điểm căn cứ vào nhu cầu thực tế sử dụng luật sư công cử người dự kiểm tra kết quả tập sự và đề nghị cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư (Điều 12).
Đáng chú ý, người được miễn tập sự hành nghề luật sư không phải tham dự kỳ kiểm tra kết quả tập sự hành nghề luật sư. Mặt khác, luật sư tập sự đã hoàn thành thời gian tập sự hành nghề luật sư được tham dự kỳ kiểm tra kết quả tập sự hành nghề luật sư do Bộ Tư pháp tổ chức. Người đạt yêu cầu kỳ kiểm tra kết quả tập sự được Bộ trưởng Bộ Tư pháp cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư để trở thành luật sư công. Luật sư công được tham gia giải quyết công việc có tính chất pháp lý tại khu vực nhà nước kể từ ngày được cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư (Điều 11 Nghị định số 364/2026/NĐ-CP).
Trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày được cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư, luật sư công có trách nhiệm nộp 01 bộ hồ sơ gia nhập Đoàn Luật sư nơi cơ quan, doanh nghiệp quản lý có trụ sở; trường hợp quá thời hạn này mà chưa nộp hồ sơ phải báo cáo bằng văn bản, nêu rõ lý do với cơ quan, doanh nghiệp quản lý. Cơ quan, doanh nghiệp quản lý có trách nhiệm theo dõi, đôn đốc việc gia nhập Đoàn Luật sư của luật sư công. Quá thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được Chứng chỉ hành nghề luật sư, luật sư công không nộp hồ sơ gia nhập Đoàn Luật sư mà không có lý do chính đáng thì bị xem xét, xử lý theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức, viên chức và pháp luật khác có liên quan (Điều 14 Nghị định số 364/2026/NĐ-CP).
Liên quan đến Chứng chỉ hành nghề luật sư, Nghị định quy định cụ thể việc thu hồi; cấp, cấp đổi, cấp lại cho luật sư công nhằm xác định rõ trình tự, thủ tục và trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị, cá nhân có liên quan trong quá trình xem xét, giải quyết hồ sơ, góp phần thống nhất việc áp dụng quy định trong quá trình triển khai thí điểm.
Ngoài ra, để thuận tiện cho việc cử, giới thiệu luật sư công khi phát sinh vụ, việc, Nghị định số 364/2026/NĐ-CP quy định cơ quan thực hiện thí điểm có trách nhiệm lập, đăng tải Danh sách luật sư công trên Cổng thông tin điện tử của mình. Với vai trò là cơ quan giúp Chính phủ quản lý luật sư công, Bộ Tư pháp có trách nhiệm lập, đăng tải Danh sách luật sư công của tất cả các cơ quan thực hiện thí điểm (Điều 17).
Phát huy vai trò của luật sư công trong giải quyết công việc có tính chất pháp lý tại khu vực nhà nước
Theo quy định tại Điều 19 Nghị định số 364/2026/NĐ-CP, khi phát sinh vụ, việc có tính chất pháp lý, cơ quan thực hiện thí điểm cử luật sư công của cơ quan mình để tham gia giải quyết vụ, việc. Trong trường hợp có nhu cầu sử dụng luật sư công của cơ quan khác, cơ quan thực hiện thí điểm gửi văn bản đề nghị cơ quan có luật sư công cử hoặc đề nghị Bộ Tư pháp giới thiệu luật sư công trong danh sách luật sư công của tất cả các cơ quan thực hiện thí điểm.
Đặc biệt, để bảo đảm tính độc lập, khách quan của luật sư công khi thực hiện các công việc của Nhà nước, Nghị định Nghị định số 364/2026/NĐ-CP quy định cơ quan, doanh nghiệp quản lý luật sư công được từ chối cử luật sư công khi có một trong các lý do: (i) Nội dung vụ, việc cần luật sư công tham gia không phù hợp với lĩnh vực chuyên môn của cơ quan, doanh nghiệp quản lý luật sư công; (ii) Không có luật sư công đủ năng lực chuyên môn để tham gia giải quyết vụ, việc; (iii) Không bố trí được thời gian để luật sư công tham gia giải quyết vụ, việc do đang đồng thời thực hiện nhiệm vụ ưu tiên, khẩn cấp khác theo văn bản phân công của cấp có thẩm quyền; (iv) Không bảo đảm tính độc lập, trung thực, khách quan của luật sư công và có xung đột lợi ích khi tham gia giải quyết vụ, việc; (v) Có lý do chính đáng khác. Bên cạnh đó, Nghị định quy định luật sư công có nghĩa vụ từ chối tham gia giải quyết vụ, việc và báo cáo bằng văn bản với người đứng đầu cơ quan sử dụng luật sư công nếu việc tham gia không bảo đảm tính độc lập, trung thực, khách quan hoặc có xung đột lợi ích (Điều 20).
Trên cơ sở cụ thể hóa nội dung về việc cho phép cơ quan thực hiện thí điểm được lựa chọn và ký hợp đồng dịch vụ pháp lý với tổ chức hành nghề luật sư để cùng luật sư công giải quyết vụ, việc, Nghị định số 364/2026/NĐ-CP quy định cơ quan thực hiện thí điểm có thể ký hợp đồng dịch vụ pháp lý với tổ chức hành nghề luật sư để cùng luật sư công giải quyết vụ, việc có tính chất pháp lý phức tạp khi thuộc một trong các trường hợp: (i) Vụ, việc có tính chất phức tạp, đòi hỏi chuyên môn sâu mà đội ngũ luật sư công chưa đáp ứng được; (ii) Số lượng vụ, việc phức tạp cần nhiều luật sư mà vượt quá khả năng tham gia của đội ngũ luật sư công; (iii) Vụ, việc có liên quan đến các dự án quan trọng quốc gia hoặc dự án có tác động lớn đến kinh tế, xã hội; (iv) Vụ, việc có yếu tố nước ngoài thuộc thẩm quyền tài phán quốc tế; (v) Các vụ, việc khác theo quyết định của cơ quan chủ trì giải quyết vụ, việc (Điều 21). Như vậy, việc ký hợp đồng dịch vụ pháp lý với tổ chức hành nghề luật sư chỉ được thực hiện trong trường hợp luật sư công không đáp ứng được yêu cầu giải quyết vụ, việc có tính chất pháp lý phát sinh và giới hạn trong một số trường hợp khác.
Ngoài ra, Nghị định số 364/2026/NĐ-CP cũng làm rõ việc lựa chọn tổ chức hành nghề luật sư được thực hiện theo quy trình lựa chọn nhà thầu trong trường hợp đặc biệt áp dụng tương tự quy trình lựa chọn luật sư để bảo vệ quyền và lợi ích của Nhà nước Việt Nam, cơ quan nhà nước tại cơ quan điều tra áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại, các biện pháp khác ảnh hưởng đến lợi ích thương mại của Việt Nam tại nước ngoài, cơ quan tài phán, cơ quan giải quyết tranh chấp trong nước, nước ngoài hoặc quốc tế theo quy định của pháp luật đấu thầu (khoản 2 Điều 21).
Bảo đảm chế độ, chính sách và tăng cường trách nhiệm của luật sư công
Để phù hợp với cơ chế tài chính và tự chủ của doanh nghiệp nhà nước, khoản 1 Điều 22 Nghị định số 364/2026/NĐ-CP quy định: Ngoài tiền lương, luật sư công làm việc trong doanh nghiệp nhà nước được hưởng mức hỗ trợ hằng tháng; mức hỗ trợ hằng tháng được thỏa thuận trong hợp đồng lao động với doanh nghiệp nhà nước. Ngoài khoản hỗ trợ hằng tháng và bồi dưỡng theo vụ, việc, luật sư công còn được hưởng các chế độ, chính sách theo quy định của Nghị quyết số 197/2025/QH15 ngày 17/5/2025 của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách đặc biệt tạo đột phá trong xây dựng và tổ chức thi hành pháp
Về trách nhiệm thực hiện chế độ, chính sách cho luật sư công, Nghị định số 364/2026/NĐ-CP quy định cơ quan, doanh nghiệp quản lý luật sư công có trách nhiệm chi trả khoản hỗ trợ hằng tháng, phí tập sự và các khoản phí liên quan đến gia nhập, duy trì tư cách thành viên của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư cho luật sư công; cơ quan sử dụng luật sư công có trách nhiệm chi trả bồi dưỡng, thanh toán các khoản chi phí khác theo quy định khi luật sư công tham gia giải quyết vụ, việc có tính chất pháp lý của cơ quan, tổ chức mình
Luật sư công vừa là cán bộ, công chức, viên chức, sĩ quan, vừa là thành viên của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư, vì vậy, Nghị định số 364/2026/NĐ-CP quy định xử lý vi phạm đối với họ theo 02 cơ chế xử lý kỷ luật đối với cán bộ, công chức, viên chức, sĩ quan, người làm việc trong doanh nghiệp nhà nước và cơ chế xử lý kỷ luật đối với luật sư, cụ thể: Luật sư công có hành vi vi phạm pháp luật thì tùy theo tính chất, mức độ bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật. Luật sư công vi phạm Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư Việt Nam thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm phải chịu một trong các hình thức kỷ luật theo quy định của Điều lệ Liên đoàn Luật sư Việt Nam. Việc xử lý kỷ luật theo quy định của Điều lệ Liên đoàn Luật sư Việt Nam và việc xử lý kỷ luật theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức, viên chức, sĩ quan được thực hiện độc lập, không thay thế cho nhau (Điều 28).
Về giải quyết tố cáo đối với luật sư công, Nghị định số 364/2026/NĐ-CP quy định cá nhân có quyền tố cáo hành vi vi phạm của luật sư công. Tùy từng hành vi vi phạm cụ thể, việc giải quyết tố cáo được thực hiện theo quy định của pháp luật về tố cáo, Điều lệ Liên đoàn Luật sư Việt Nam (Điều 29).
Nghị định số 364/2026/NĐ-CP có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026 đến ngày Nghị quyết số 24/2026/QH16 hết hiệu lực thi hành.
Ảnh: internet