Chủ nhật 08/11/2026 22:57
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Kinh nghiệm của một số quốc gia về thủ tục ban hành quyết định hành chính và một số gợi mở đối với Việt Nam

Tóm tắt: Pháp luật ban hành quyết định hành chính đóng vai trò quan trọng trong kiểm soát ban hành quyết định hành chính và bảo đảm quyết định hành chính được ban hành theo đúng quy định, qua đó nâng cao chất lượng, hiệu quả quản lý nhà nước, quyền và nghĩa vụ của các tổ chức, cá nhân có thẩm quyền. Nghiên cứu phân tích pháp luật của Đức, Nhật Bản và Úc về thủ tục ban hành quyết định hành chính, vì đây là các quốc gia có hệ thống pháp luật tương đối hoàn thiện và điển hình nhằm rút ra những gợi mở có giá trị tham khảo trong xây dựng và hoàn thiện pháp luật tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, mặc dù, có khác biệt về mô hình và kỹ thuật lập pháp, nhưng, pháp luật của ba quốc gia này đều xác lập các nguyên tắc và thủ tục nền tảng bảo đảm sự cân bằng giữa yêu cầu quản lý hành chính hiệu quả với bảo đảm tính công khai, minh bạch, tuân thủ pháp quyền và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đối tượng chịu tác động. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất Việt Nam nên nghiên cứu tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của các quốc gia này trong xây dựng đạo luật khung về thủ tục ban hành quyết định hành chính theo hướng quy định các nguyên tắc và thủ tục chung, kết hợp với các quy định chuyên ngành để hình thành khuôn khổ pháp lý thống nhất, đồng bộ, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả của hoạt động hành chính.

Từ khóa: quyết định hành chính; thủ tục; ban hành; luật thủ tục hành chính; so sánh pháp luật.

Đặt vấn đề

Trong bối cảnh Việt Nam đang xây dựng và hoàn thiện pháp luật về thủ tục ban hành quyết định hành chính, nghiên cứu kinh nghiệm của các quốc gia có hệ thống pháp luật hành chính phát triển mang ý nghĩa lý luận và thực tiễn quan trọng. Nghiên cứu tập trung phân tích kinh nghiệm của ba quốc gia tiêu biểu: Cộng hòa Liên bang Đức - đại diện cho truyền thống pháp luật thành văn châu Âu lục địa; Nhật Bản - quốc gia châu Á có hệ thống pháp luật hành chính hiện đại; Úc - quốc gia theo truyền thống thông luật với đặc thù riêng trong điều chỉnh hoạt động ban hành quyết định hành chính. Việc lựa chọn ba quốc gia này cho phép tiếp cận vấn đề từ nhiều góc độ khác nhau, từ đó, rút ra những bài học có giá trị tham khảo đối với Việt Nam.

1. Pháp luật về ban hành quyết định hành chính tại Đức

Trong hệ thống pháp luật hành chính của Đức, việc ban hành quyết định hành chính được điều chỉnh bởi Luật Thủ tục hành chính năm 1976. Trên thực tế, Đức không phải quốc gia đầu tiên trên thế giới pháp điển hóa luật về thủ tục hành chính; Áo đã ban hành Luật Thủ tục hành chính năm 1925, Hoa Kỳ ban hành đạo luật tương tự vào năm 1946[1]. Tại Đức, Chính phủ liên bang đã đệ trình dự luật đầu tiên vào năm 1970 và lần thứ hai vào năm 1973. Đến năm 1976, Luật Thủ tục hành chính liên bang mới được thông qua và hiện đang có hiệu lực thi hành[2]. Các bang ở Đức đều ban hành đạo luật riêng về thủ tục hành chính áp dụng cho các hoạt động hành chính của bang mình, nhưng về cơ bản, đều có cấu trúc và nội dung tương tự với Luật của liên bang. Ngoài Luật Thủ tục hành chính của liên bang, các luật chuyên ngành khác cũng có những quy định điều chỉnh hoạt động ban hành quyết định hành chính trong những lĩnh vực chuyên môn cụ thể, bổ sung cho quy định của Luật Thủ tục hành chính[3].

Một trong những nội dung quan trọng của Luật Thủ tục hành chính liên bang là đưa ra khái niệm quyết định hành chính. Theo đó, quyết định hành chính là bất cứ lệnh, quyết định hoặc biện pháp mang tính quyền lực nào do cơ quan nhà nước/người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước đưa ra nhằm điều chỉnh vụ việc cụ thể trong lĩnh vực pháp luật công và nhằm tác động pháp lý trực tiếp ra bên ngoài[4].

Khi xây dựng khái niệm quyết định hành chính, pháp luật hành chính của Đức nhấn mạnh đến sự khác biệt giữa khái niệm này với khái niệm “hợp đồng hành chính” và “hoạt động hành chính thực tế” - hai khái niệm này chưa rõ ràng trong pháp luật Việt Nam. Khái niệm “hoạt động hành chính thực tế” thực chất là khái niệm “hành vi hành chính” theo quy định của một số văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam[5].Tuy nhiên, hành vi hành chính theo quy định của pháp luật Việt Nam bao hàm cả: “quyết định hành chính” được thể hiện dưới những hình thức không phải bằng văn bản như quy định của pháp luật Đức. Trong khi đó, “hợp đồng hành chính” là khái niệm được bàn luận dưới góc độ học thuật ở Việt Nam và thực tiễn áp dụng pháp luật liên quan đến nội dung này đang bỏ ngỏ.

Luật Thủ tục hành chính của Đức đặt ra những quy định liên quan đến yêu cầu về hình thức, thủ tục ban hành các quyết định hành chính, cũng như các vấn đề liên quan đến giá trị pháp lý của quyết định hành chính. Các quy định liên quan đến nội dung này cũng là các quy định chung trong Luật, các luật chuyên ngành khác có thể đưa ra các quy định bổ sung. Chẳng hạn, về hình thức, các quy định có liên quan của Luật này chỉ dừng ở mức độ chừng mực, theo đó, quyết định hành chính có thể được ban hành dưới dạng văn bản, qua phương tiện điện tử, bằng lời nói hoặc bằng các hình thức khác; quyết định hành chính bằng văn bản, quyết định hành chính điện tử phải có căn cứ (cơ sở) ban hành (Điều 39). Về thủ tục, việc tham gia giải trình và cho phép kiểm tra hồ sơ là những yêu cầu thủ tục quan trọng nhất trong hoạt động ban hành quyết định hành chính. Quyền được giải trình quy định tại Điều 28 là quyền quan trọng nhất của những người tham gia thủ tục ban hành quyết định hành chính. Họ phải được trao cơ hội đưa ra ý kiến bình luận về tất cả các tình tiết khách quan phù hợp với nội dung của quyết định. Người có thẩm quyền không được đưa ra quyết định dựa trên những trường hợp mà người tham gia thủ tục không được đưa ra ý kiến bình luận và phải thể hiện trong phần căn cứ ra quyết định rằng người có thẩm quyền đã lưu ý đến những đề xuất của người tham gia thủ tục hành chính[6].

Các yêu cầu về tính hợp pháp cũng như những căn cứ đánh giá tính hợp pháp của quyết định hành chính do Tòa án thực hiện đều không được quy định trong văn bản pháp luật; Luật Thủ tục hành chính liên bang chỉ đề cập đến một số khía cạnh đặc biệt (Điều 37(1) và 40). Lý do của việc thiếu các quy định này thuộc về vai trò quan trọng của lý luận pháp luật và học thuyết pháp lý do các học giả xây dựng. Tòa án và các học giả xác định các yếu tố của tính hợp pháp. Sau đó, các học giả phân loại, hệ thống hóa, bàn luận và trình bày chúng trong những bài báo khoa học, giáo trình, sách. Cách thức này tạo điều kiện cho sự linh hoạt hơn so với việc điều chỉnh bằng các văn bản pháp luật. Ở các quốc gia mà lý luận pháp luật và học thuyết pháp lý chưa thể thực hiện được chức năng này, việc điều chỉnh cụ thể bằng văn bản pháp luật là điều cần thiết. Tuy nhiên, cần phải để mở nhằm tạo điều kiện cho những nội dung mới và tránh liệt kê cố định các yếu tố của tính hợp pháp.

Nghiên cứu Luật Thủ tục hành chính năm 1976 của Đức cho thấy ưu điểm nổi bật là xây dựng được một luật khung có tính ổn định cao. Luật này được ban hành cách đây 50 năm nhưng cơ bản rất ít sửa đổi, bảo đảm sự nhất quán giữa pháp luật liên bang và các bang, đồng thời, tạo không gian cho sự phát triển linh hoạt của học thuyết pháp lý. Như vậy, Luật Thủ tục hành chính Liên bang năm 1976 của Đức có thể gợi mở nhiều ý tưởng cho việc xây dựng và ban hành một luật tương tự về thủ tục ban hành quyết định hành chính ở Việt Nam với tính chất là một luật chung, mang tính chất khung điều chỉnh các vấn đề mang tính nguyên tắc. Các chi tiết có liên quan khác có thể được quy định trong các luật chuyên ngành.

2. Pháp luật về ban hành quyết định hành chính tại Nhật Bản

Về thủ tục ban hành quyết định hành chính, Nhật Bản đã ban hành Luật Thủ tục hành chính năm 1993[7], đặt ra những quy định chung về thủ tục ban hành các quyết định hành chính, các hướng dẫn và thông báo hành chính và thủ tục hành chính ban hành các lệnh hành chính. Như vậy, xét về phương diện thủ tục ban hành quyết định hành chính Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của Nhật Bản về Luật Thủ tục hành chính năm 1993 để ban hành một đạo luật tương tự. Luật Thủ tục hành chính năm 1993 của Nhật Bản có một số nội dung quan trọng sau[8]:

Thứ nhất, quyết định hành chính được hiểu là các quyết định và hành vi thực hiện quyền lực công của các cơ quan hành chính nhà nước. Có thể hiểu đây là các quyết định hành chính cá biệt, dùng để giải quyết các vụ việc cụ thể của các cơ quan hành chính.

Thứ hai, quy định về thủ tục ban hành các quyết định hành chính và quy định về thủ tục ban hành các hướng dẫn hành chính, thông báo hành chính hay các lệnh hành chính[9].

Thứ ba, thể hiện rõ nét yêu cầu công khai, minh bạch, bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của các đối tượng chịu sự tác động của quyết định hành chính. Luật chia quyết định hành chính thành hai nhóm: “quyết định hành chính có lợi” gồm các quyết định cho phép, chứng nhận, cấp phép thông qua đó mang lại lợi ích cho đối tượng và “quyết định hành chính bất lợi” gồm những quyết định áp đặt các nghĩa vụ hoặc hạn chế các quyền của đối tượng bị áp dụng và tương ứng với các nhóm này là những quy định đặc thù liên quan đến trình tự, thủ tục ban hành. Đối với các quyết định hành chính có lợi, Luật quy định một số thủ tục thực hiện chủ yếu để bảo đảm yêu cầu minh bạch, công khai, bảo đảm quyền lợi cho đối tượng chịu sự tác động của quyết định hành chính gồm: (i) công khai các tiêu chuẩn xem xét giải quyết yêu cầu của cá nhân, tổ chức; (ii) công bố thời hạn giải quyết; (iii) tiếp nhận yêu cầu của đối tượng và hoàn thiện thông tin hồ sơ; (iv) tổ chức đối thoại để lắng nghe ý kiến của những người khác. Đối với các quyết định hành chính bất lợi, Luật có nhiều quy định chi tiết bảo đảm yêu cầu minh bạch, công khai, bảo đảm quyền lợi cho đối tượng chịu sự tác động của quyết định hành chính, trong đó, có những quy định chung: (i) ban hành các tiêu chuẩn cụ thể để ban hành các quyết định hành chính bất lợi; (ii) thông báo lý do việc ban hành quyết định hành chính bất lợi; (iii) thủ tục về giải trình ý kiến và những quy định chi tiết liên quan đến thủ tục; (iv) đối thoại chính thức; (v) giải thích và bác bỏ các ý kiến giải trình.

Có thể thấy, ưu điểm nổi bật của mô hình Nhật Bản là cách tiếp cận hướng đến bảo vệ quyền lợi của người dân thông qua sự phân biệt rõ ràng giữa hai loại quyết định có lợi và bất lợi với các thủ tục tương ứng. Cách tiếp cận này mang tính thực dụng, dễ áp dụng và có giá trị tham chiếu cao cho Việt Nam. Vì vậy, Việt Nam có thể nghiên cứu tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của Nhật Bản về phân chia quyết định hành chính thành có lợi và bất lợi trong quá trình xây dựng Luật về thủ tục ban hành quyết định hành chính, bởi việc phân nhóm này giúp xác định rõ hơn các thủ tục bảo vệ quyền của đối tượng tương ứng với từng loại quyết định.

3. Pháp luật về ban hành quyết định hành chính tại Úc

Trong hệ thống pháp luật hành chính của Úc, có một số điểm nổi bật, quan trọng liên quan đến vấn đề ban hành quyết định hành chính như sau:

Thứ nhất, việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật (dưới luật) được điều chỉnh trong Luật Về văn bản pháp quy năm 2003. Luật này được ban hành nhằm mục đích bảo đảm chất lượng của các văn bản pháp quy được ban hành, bảo đảm hoạt động ban hành văn bản pháp quy được thực hiện trên cơ sở có sự tham vấn phù hợp với các cá nhân, tổ chức có liên quan, bảo đảm cho công chúng được tiếp cận với các văn bản pháp quy, bảo đảm cơ chế kiểm tra, giám sát của Quốc hội đối với hoạt động ban hành văn bản pháp quy[10].

Thứ hai, khác với Đức và Nhật Bản[11], Úc không ban hành Luật Thủ tục hành chính có nội dung điều chỉnh các hoạt động ban hành quyết định hành chính (cá biệt). Tuy nhiên, gián tiếp điều chỉnh nội dung này, Luật Quyết định hành chính (kiểm tra tư pháp) năm 1977 chứa đựng những quy định phản ánh những yêu cầu đặt ra đối với hoạt động ban hành quyết định hành chính. Nói cách khác, Luật Quyết định hành chính (kiểm tra tư pháp) năm 1977 của Úc không trực tiếp điều chỉnh hoạt động ban hành quyết định hành chính mà thực chất là đạo luật điều chỉnh hoạt động giải quyết việc kiện tụng các quyết định hành chính tại Tòa án. Luật Quyết định hành chính (kiểm tra tư pháp) năm 1977 pháp điển hóa tương đối đầy đủ các nguyên tắc của thông luật liên quan đến việc kiểm tra tư pháp các quyết định hành chính, đặc biệt, những căn cứ để làm cơ sở đánh giá tính hợp pháp của các quyết định hành chính là đối tượng của hoạt động kiểm tra tư pháp. Những căn cứ này thể hiện các yêu cầu đặt ra đối với hoạt động ban hành quyết định hành chính của các chủ thể có thẩm quyền. Úc là quốc gia có truyền thống pháp luật án lệ và các phán quyết của Tòa án là nguồn pháp luật truyền thống luôn được viện dẫn trong quá trình áp dụng pháp luật. Vì vậy, nếu các nguyên tắc pháp luật liên quan đến hoạt động ban hành quyết định hành chính trong Luật Quyết định hành chính (kiểm tra tư pháp) năm 1977 có dừng lại ở nội dung chung thì các phán quyết có liên quan của Tòa án sẽ đưa ra những giải thích chi tiết và trở thành những nguyên tắc pháp luật được áp dụng chung.

Thứ ba, ngoài các quy định của Luật Quyết định hành chính (kiểm tra tư pháp) năm 1977, các luật chuyên ngành như Luật Nhập cư năm 1958 cũng có các quy định trực tiếp điều chỉnh các vấn đề có liên quan đến hoạt động ban hành quyết định hành chính trong lĩnh vực chuyên ngành. Các quy định pháp luật này cùng với các quy định pháp luật mang tính nguyên tắc chung tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động ban hành quyết định hành chính trong các lĩnh vực có liên quan.

Mặc dù hầu như không trực tiếp đưa ra những quy định liên quan đến hoạt động ban hành quyết định hành chính, nhưng bằng quy định liên quan đến kiểm tra tư pháp các quyết định hành chính, Luật Quyết định hành chính (kiểm tra tư pháp) năm 1977 của Úc gián tiếp xác định các yêu cầu đối với hoạt động ban hành quyết định hành chính của các chủ thể có thẩm quyền đưa ra các quyết định hành chính.

Luật Quyết định hành chính (kiểm tra tư pháp) năm 1977 đưa ra định nghĩa về quyết định hành chính được áp dụng trong Luật này. Dù có sự khác biệt về cách diễn đạt, về bản chất “quyết định hành chính” được định nghĩa trong Luật này của Úc cũng là quyết định cá biệt, giống như sự điều chỉnh trong Luật Thủ tục hành chính của Đức. Điều 3 Luật Quyết định hành chính (kiểm tra tư pháp) năm 1977 quy định Luật này được áp dụng đối với các quyết định có tính chất hành chính được ban hành, được đề xuất ban hành hoặc được yêu cầu phải ban hành theo quy định của văn bản quy phạm pháp luật hoặc do người có thẩm quyền hay cơ quan có thẩm quyền theo quy định của văn bản quy phạm phạm pháp luật ban hành, đề xuất ban hành hay yêu cầu ban hành. Thông qua các quy định được giải thích trong Luật này về cụm từ “có tính chất hành chính” cũng như các phán quyết có liên quan do các Tòa án của Úc ban hành, quyết định hành chính được Luật này áp dụng về bản chất là các quyết định cá biệt (quyết định áp dụng pháp luật). Luật Quyết định hành chính (kiểm tra tư pháp) năm 1977 không đặt ra mục đích áp dụng đối với các văn bản quy phạm pháp luật (dưới luật). Những yêu cầu đặt ra đối với hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật (dưới luật) tuân theo các yêu cầu được quy định trong Luật Về văn bản quy phạm pháp luật năm 2003.

Về cơ bản, các yêu cầu đặt ra đối với hoạt động ban hành quyết định hành chính theo quy định của pháp luật Úc được xác định như sau:

(i) Quyết định hành chính được ban hành trên cơ sở tuân thủ nguyên tắc công bằng về thủ tục[12]. Về căn bản, “công bằng về thủ tục” trong hoạt động ban hành quyết định hành chính đòi hỏi: trong quá trình ban hành quyết định hành chính, chủ thể có thẩm quyền phải bảo đảm cho đối tượng có các quyền và lợi ích hợp pháp bị ảnh hưởng bởi quyết định hành chính sẽ ban hành được thực hiện việc chất vấn, giải trình về vụ việc của mình; trong quá trình ban hành quyết định hành chính, chủ thể có thẩm quyền không được thiên vị đối với bất kỳ đối tượng nào.

(ii) Quyết định hành chính phải được ban hành trên cơ sở tuân thủ các yêu cầu về thủ tục được pháp luật quy định đối với hoạt động ban hành quyết định đó.

(iii) Chủ thể đã ban hành ra quyết định phải là chủ thể có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.

(iv) Quyết định hành chính phải được ban hành phù hợp với mục đích của văn bản quy phạm pháp luật làm cơ sở để ban hành.

(v) Quyết định hành chính phải được ban hành trên cơ sở sử dụng đúng thẩm quyền của chủ thể ban hành quyết định hành chính đã được pháp luật quy định[13]. Luật Quyết định hành chính (kiểm tra tư pháp) năm 1977 của Úc đưa ra những quy định chi tiết, cụ thể hóa nội dung của yêu cầu này như: không cân nhắc, xem xét những yếu tố không phù hợp khi đưa ra quyết định; không thực hiện thẩm quyền nằm ngoài mục đích được đặt ra khi pháp luật trao thẩm quyền đó cho chủ thể thực hiện; không được thực hiện thẩm quyền một cách bất hợp lý theo đó không một chủ thể bình thường nào trong trường hợp đó lại xử sự như vậy… Nếu chỉ căn cứ vào những quy định chung thì khó có thể hình dung nội dung cụ thể của mỗi yêu cầu này. Với truyền thống pháp luật án lệ, việc xác định những nội dung cụ thể này được gắn với phán quyết của các vụ việc cụ thể có liên quan. Thông qua những phán quyết này, nội dung pháp luật của những yêu cầu đối với hoạt động ban hành quyết định hành chính về khía cạnh này được xác định một cách rõ ràng.

(vi) Quyết định hành chính được ban hành trên cơ sở áp dụng đúng pháp luật.

(vii) Quyết định hành chính được ban hành trên cơ sở không có sự ảnh hưởng hoặc kết quả của sự lừa dối.

(viii) Quyết định hành chính được ban hành trên cơ sở có đầy đủ chứng cứ hoặc tài liệu để làm cơ sở cho việc ban hành quyết định theo quy định của pháp luật.

Cùng với những quy định về căn cứ đánh giá tính hợp pháp của các quyết định hành chính, Luật này cũng quy định liên quan đến thực hiện nghĩa vụ cung cấp những lý do (cơ sở) của việc ban hành quyết định hành chính cho các đối tượng có liên quan (các cơ quan tài phán, cơ quan thanh tra, luật sư…) khi được yêu cầu. Theo quy định của pháp luật, chủ thể ban hành quyết định hành chính phải có nghĩa vụ cung cấp văn bản nêu rõ lý do (cơ sở) của việc đưa quyết định đó khi được yêu cầu trong trường hợp:

- Quyết định đó bị khiếu kiện tại cơ quan tài phán hành chính phúc thẩm;

- Quyết định đó bị khiếu kiện tại Tòa án theo quy định của Luật Về quyết định hànhchính (kiểm tra tư pháp) năm 1977[14]. - Khi văn bản luật có liên quan yêu cầu phải cung cấp văn bản này khi thông báo cho đối tượng bị tác động/ảnh hưởng bởi quyết định hành chính đó.

Thực tiễn pháp luật hành chính của Úc liên quan đến việc quy định những vấn đề về ban hành hành quyết định hành chính cho thấy vai trò quan trọng của những quy định mang tính chất nguyên tắc chung, bao trùm, làm cơ sở cho việc giải thích khi áp dụng pháp luật nhằm giải quyết các vụ việc cụ thể phát sinh. Dù chỉ là những quy định xác định căn cứ (cơ sở) đánh giá tính hợp pháp của các quyết định hành chính, gián tiếp đặt ra những yêu cầu đối với hoạt động ban hành quyết định hành chính, những quy định này tạo thành khung pháp luật định hướng hoạt động ban hành quyết định hành chính. Do sự đa dạng về nội dung của hoạt động ban hành các quyết định hành chính, việc xác lập đầy đủ các quy định chi tiết trong một văn bản pháp luật vấn đề phức tạp và tốn nhiều công sức. Vì thế, việc xác lập các quy định khung, làm cơ sở cho việc hình thành những nội dung điều chỉnh pháp luật chi tiết là giải pháp phù hợp. Cùng với điều này, vai trò của án lệ trong xây dựng và áp dụng pháp luật cũng là vấn đề cần xem xét đối với các nước theo truyền thống pháp luật châu Âu.

Từ những nhận định trên cho thấy, Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc các kinh nghiệm này trong quá trình xem xét xây dựng và ban hành Luật Ban hành quyết định hành chính. Việc đặt ra mục tiêu ban hành một văn bản luật điều chỉnh tương đối toàn diện các vấn đề liên quan đến hoạt động ban hành quyết định hành chính là yêu cầu chính đáng. Tuy nhiên, do tính chất đa dạng, phức tạp của vấn đề điều chỉnh, cần phải xác định các nội dung chi tiết liên quan đến quyết định hành chính ở lĩnh vực nào cần được quy định ở những văn bản luật chuyên ngành tương ứng. Luật Ban hành quyết định hành chính cần xác định là luật khung, bao hàm các quy định mang tính nguyên tắc chung, không đi vào các quy định mang tính chi tiết. Phần quy định mang tính chi tiết là nhiệm vụ của các văn bản luật chuyên ngành.

4. Một số gợi mở đối với Việt Nam từ kinh nghiệm pháp luật của của Đức, Nhật Bản và Úc

Nghiên cứu kinh nghiệm pháp luật về ban hành quyết định hành chính của Đức, Nhật Bản và Úc cho thấy, Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của các quốc gia này liên quan đến phương pháp tiếp cận vấn đề và những nội dung xây dựng, hoàn thiện pháp luật về ban hành quyết định hành chính, cụ thể:

Thứ nhất, những hình thức văn bản pháp luật phản ánh các quy định pháp luật liên quan đến hoạt động ban hành quyết định hành chính trong pháp luật của các quốc gia trên thế giới, kể cả các quốc gia có hệ thống pháp luật hành chính phát triển là đa dạng và linh hoạt. Mặc dù những quy định pháp luật đó có thể trong Luật Thủ tục hành chính ở Đức, Nhật Bản hay Luật Quyết định hành chính (kiểm tra tư pháp) của Úc, nhưng điều cơ bản xuyên suốt là pháp luật của các quốc gia này xác lập những quy định pháp luật mang tính nguyên tắc nền tảng cho hoạt động ban hành quyết định hành chính. Những quy định này góp phần, điều chỉnh hiệu quả hoạt động ban hành quyết định hành chính. Vì thế, khi xây dựng và hoàn thiện pháp luật về ban hành quyết định hành chính ở Việt Nam, việc quan trọng không phải là ban hành một Luật có tên gọi là Luật Thủ tục hành chính hay Luật Ban hành quyết định hành chính, mà cần nhận thức rõ tầm quan trọng của những quy định pháp luật mang tính nguyên tắc chung đặt cơ sở pháp lý nền tảng cho việc điều chỉnh hoạt động ban hành quyết định hành chính.

Thứ hai, xây dựng và hoàn thiện pháp luật trong điều kiện hệ thống pháp luật chuyển đổi như Việt Nam có điều kiện thuận lợi từ việc nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm pháp luật của các nước phát triển. Tuy vậy, Việt Nam cần xác định, không nên rập khuôn máy móc mà cần nghiên cứu tiếp thu có chọn lọc những ưu điểm được coi là nổi trội trong quy định pháp luật của từng quốc gia mà Việt Nam tham khảo kinh nghiệm. Chẳng hạn, khi xem xét về nội dung căn cứ đánh giá tính hợp pháp của các quyết định hành chính, thực tiễn cho thấy pháp luật hành chính của Đức không có quy định pháp luật cụ thể liên quan đến nội dung này mà được giải quyết thông qua vai trò của Tòa án và các học giả. Tuy nhiên, ở Việt Nam, việc điều chỉnh bằng văn bản pháp luật về vấn đề này là cần thiết.

Thứ ba, về những nội dung xây dựng, hoàn thiện pháp luật:

(i) Việc xây dựng Luật chứa đựng những quy định mang tính nguyên tắc chung liên quan đến hoạt động ban hành quyết định hành chính là lựa chọn phù hợp đối với Việt Nam; vấn đề đặt ra là các nhà làm luật của Việt Nam cần xác định đúng những nội dung nào mang tính nguyên tắc sẽ được đưa vào Luật này còn những vấn đề nào sẽ được quy định trong các Luật chuyên ngành có liên quan.

(ii) Việc hoàn thiện pháp luật về ban hành quyết định hành chính ở Việt Nam cần xác định rõ phạm vi điều chỉnh các vấn đề liên quan trong lĩnh vực này là các quyết định hành chính cá biệt; đồng thời, cần xây dựng khái niệm chung, thống nhất về quyết định hành chính, theo đó, Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của Đức trong việc quy định khái niệm về quyết định hành chính trong quá trình xây dựng Luật Thủ tục hành chính.

(iii) Việc hoàn thiện pháp luật ban hành quyết định hành chính ở Việt Nam cần tập trung giải quyết những vấn đề mang tính cốt lõi do yêu cầu của các nguyên tắc pháp quyền đặt ra, gồm: các quy định về thủ tục hành chính, về ban hành quyết định hành chính bảo đảm công khai, minh bạch, bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của đối tượng tác động của quyết định hành chính; kiểm soát việc lạm quyền của chủ thể ban hành quyết định hành chính thông qua các quy định về quyền tự định liệu; các quy định về căn cứ đánh giá tính hợp pháp làm cơ sở cho kiểm soát hoạt động ban hành quyết định hành chính và xử lý các quyết định hành chính khiếm khuyết.

Kết luận

Nghiên cứu so sánh kinh nghiệm của Đức, Nhật Bản và Úc về thủ tục ban hành quyết định hành chính cho thấy, dù có sự khác biệt đáng kể về truyền thống pháp luật và hình thức tổ chức hệ thống pháp luật hành chính, các quốc gia này đã xác lập được nền tảng pháp lý vững chắc cho hoạt động ban hành quyết định hành chính trên cơ sở công khai, minh bạch, bảo vệ quyền giải trình của người dân và kiểm soát quyền lực nhà nước. Vì vậy, Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc những kinh nghiệm này để khẳng định sự cần thiết và tính đúng đắn của định hướng ban hành một đạo luật điều chỉnh thủ tục ban hành quyết định hành chính. Đạo luật cần được xác định là luật khung mang tính nguyên tắc, tập trung vào các nội dung bảo đảm yêu cầu pháp quyền trong hoạt động ban hành các quyết định hành chính. Trên cơ sở đó, các luật chuyên ngành sẽ cụ thể hóa các quy định phù hợp với đặc thù từng lĩnh vực.

PGS. TS. Nguyễn Văn Quang

Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Luật Hà Nội

[1]. Österreichisches Bundesgesetz über das allgemeine Verwaltungsverfahren [Austrian Federal General Administrative Procedure Act] (Luật thủ tục hành chính liên bang của CH Áo ban hành ngày 21/7/1925 và Administrative Procedure Act (APA) (Luật thủ tục hành chính của Hoa Kỳ) ban hành ngày 11/6/1946.

[2]. Về thông tin chung liên quan đến Luật Thủ tục hành chính năm 1976 của Đức, Thomas Schimtz (2013), Thủ tục hành chính trong luật hành chính Đức, Hội thảo: Quyết định hành chính và thủ tục hành chính trong pháp luật của Đức, Pháp và Việt Nam, http://www.thomas-schmitz-hanoi.vn/, truy cập ngày 26/5/2026.

[3]. Xem: Thomas Schimtz, tlđd.

[4]. Xem: Đoạn thứ nhất, Điều 35 Luật Thủ tục hành chính liên bang.

[5]. Ví dụ: Luật Tố tụng hành chính năm 2015 quy định rằng hành vi hành chính là hành vi của cơ quan hành chính nhà nước hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước, hoặc cơ quan, tổ chức được giao thực hiện quản lý hành chính nhà nước thực hiện hoặc không thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật.

[6]. Xem: Maurer, Allge mei nes Verwaltungsrecht, 18th edition 2011, § 19 no. 20.

[7]. Xem: https://www.japaneselawtranslation.go.jp/en/laws/view/2874/en.

[8]. Phạm Hồng Quang (2015), Kinh nghiệm pháp luật về ban hành quyết định hành chính của Đức, Nhật Bản, Hàn Quốc, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, https://danchuphapluat.vn/kinh-nghiem-phap-luat-ve-ban-ha-nh-quyet-dinh-ha-nh-chinh-cu-a-duc-nhat-ba-n-ha-n-quoc-659.html, truy cập ngày 26/5/2026; Phạm Hồng Quang (2013), Kinh nghiệm của Nhật Bản về cơ chế kiểm soát việc ban hành quyết định hành chính, https://pbgdpl.gov.vn/Pages/chi-tiet-tin.aspx?ItemID=1736&l=Nghiencuutraodoi, truy cập ngày 26/5/2026.

[9]. Hướng dẫn hành chính (administrative guidance); thông báo hành chính (administrative notification) và lệnh hành chính (administrative order) đều được xác định cụ thể trong Luật Thủ tục hành chính năm 1993 của Nhật Bản.

[10]. Xem: Điều 3, Luật về văn bản pháp quy năm 2003 của Australia.

[11]. Luật thủ tục hành chính năm 1976 của Cộng hòa Liên bang Đức (bản dịch tiếng Anh), https:// www.refworld.org/legal/legislation/natlegbod/1976/en/63421, truy cập ngày 19/3/2024; Luật Thủ tục hành chính năm 1993 của Nhật Bản (bản dịch tiếng Anh), https://www.japaneselawtranslation.go.jp/en/laws/view/2874/en, truy cập ngày 19/3/2024; Luật thủ tục hành chính của Hoa Kỳ năm 1946, https://www.justice.gov/sites/default/files/jmd/legacy/2014/05/01/act-pl79-404.pdf, truy cập ngày 19/3/2024.

[12]. Nguyễn Văn Quang (2013), Căn cứ đánh giá tính hợp pháp của quyết định hành chính, Tạp chí Luật học, số 11, tr.30-31.

[13]. Xem chi tiết khoản 2 Điều 5 Luật Quyết định hành chính (kiểm tra tư pháp) năm 1977.

[14]. Xem: Điều 13 Luật Quyết định hành chính (kiểm tra tư pháp) năm 1977.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Maurer, H., Allgemeines Verwaltungsrecht, 18th edition 2011, C.H. Beck.

2. Nguyễn Văn Quang (2013), Căn cứ đánh giá tính hợp pháp của quyết định hành chính, Tạp chí Luật học, 11/2013, tr. 26-35.

3. Phạm Hồng Quang (2013), Kinh nghiệm của Nhật Bản về cơ chế kiểm soát việc ban hành quyết định hành chính, https://pbgdpl.gov.vn/Pages/chi-tiet-tin.aspx?ItemID=1736&l=Nghiencuutraodoi, truy cập ngày 26/5/2026.

4. Phạm Hồng Quang (2015), Kinh nghiệm pháp luật về ban hành quyết định hành chính của Đức, Nhật Bản, Hàn Quốc, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, https://danchuphapluat.vn/kinh-nghiem-phap-luat-ve-ban-ha-nh-quyet-dinh-ha-nh-chinh-cu-a-duc-nhat-ba-n-ha-n-quoc-659.html, truy cập ngày 26/5/2026.

5. Thomas Schimtz (2013), Thủ tục hành chính trong luật hành chính Đức, Hội thảo: Quyết định hành chính và thủ tục hành chính trong pháp luật của Đức, Pháp và Việt Nam.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Pháp luật về phòng vệ chính đáng của một số quốc gia và kinh nghiệm đối với Việt Nam

Pháp luật về phòng vệ chính đáng của một số quốc gia và kinh nghiệm đối với Việt Nam

Tóm tắt: Phòng vệ chính đáng là chế định quan trọng của pháp luật hình sự, phản ánh sự cân bằng giữa quyền tự vệ của cá nhân và yêu cầu bảo đảm trật tự pháp luật. Nghiên cứu phân tích, so sánh quy định về phòng vệ chính đáng trong pháp luật hình sự Trung Quốc, Đức, Hoa Kỳ, Việt Nam và chỉ ra những điểm tương đồng, khác biệt giữa pháp luật Việt Nam với pháp luật các quốc gia này. Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam về phòng vệ chính đáng theo hướng cụ thể, minh bạch và bảo đảm tốt hơn quyền con người, phù hợp với thông lệ quốc tế.
Pháp luật về đấu giá tài sản tự nguyện của một số quốc gia và giá trị tham khảo đối với Việt Nam

Pháp luật về đấu giá tài sản tự nguyện của một số quốc gia và giá trị tham khảo đối với Việt Nam

Tóm tắt: Đấu giá tài sản tự nguyện ngày càng phát triển trở thành phương thức bán tài sản phổ biến ở nhiều quốc gia trên thế giới. Nghiên cứu phân tích pháp luật Pháp, Trung Quốc, một số tiểu bang Hoa Kỳ và Đức về đấu giá tài sản tự nguyện; đồng thời, tham khảo kinh nghiệm của Hàn Quốc về tổ chức hạ tầng đấu giá trực tuyến. Trên cơ sở so sánh quyền định đoạt tài sản, trách nhiệm của chủ thể cung cấp dịch vụ, nghĩa vụ thông tin, điều kiện bán và hậu quả pháp lý của đấu giá, nghiên cứu so sánh với pháp luật Việt Nam và dự thảo Luật Đấu giá tài sản (sửa đổi)*(dự thảo Luật). Kết quả phân tích, làm rõ những vấn đề về phạm vi áp dụng chế độ đấu giá tự nguyện, chứng minh quyền được bán, quyền thỏa thuận thủ tục, điều kiện về giá, hiệu lực kết quả và trách nhiệm trong môi trường điện tử. Từ đó, nghiên cứu kiến nghị hoàn thiện các quy định tương ứng nhằm bảo đảm quyền định đoạt, tính minh bạch và an toàn pháp lý của hoạt động đấu giá tài sản tự nguyện.
So sánh mô hình tổ chức giám định tư pháp theo pháp luật Việt Nam và pháp luật Úc

So sánh mô hình tổ chức giám định tư pháp theo pháp luật Việt Nam và pháp luật Úc

Tóm tắt: Trong bối cảnh yêu cầu cải cách tư pháp ngày càng cao, pháp luật về giám định tư pháp tại Việt Nam, dù đang từng bước hoàn thiện, nhưng vẫn bộc lộ những hạn chế. Nghiên cứu phân tích, tổng hợp, hệ thống và so sánh mô hình tổ chức giám định tư pháp theo pháp luật Úc và pháp luật Việt Nam nhằm làm rõ sự khác biệt giữa mô hình quản lý hành chính tập trung, chặt chẽ của Việt Nam so với cơ chế phân quyền, chuyên môn hóa cao, gắn với thị trường dịch vụ mở của Úc. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật về giám định tư pháp tại Việt Nam.
Đối thoại Biển lần thứ 15: Từ cam kết BBNJ đến hành động vì quản trị biển công bằng, hiệu quả

Đối thoại Biển lần thứ 15: Từ cam kết BBNJ đến hành động vì quản trị biển công bằng, hiệu quả

Ngày 18/9/2026, tại Hà Nội, Đối thoại Biển lần thứ 15 với chủ đề "Từ thỏa thuận đến hành động: Triển khai Hiệp định BBNJ vì quản trị biển công bằng, hiệu quả" diễn ra với sự tham dự của đại diện các cơ quan, tổ chức quốc tế, cơ quan Trung ương, các chuyên gia, nhà khoa học. Các đại biểu tập trung trao đổi về việc chuyển hóa các cam kết của Hiệp định về bảo tồn và sử dụng bền vững đa dạng sinh học biển ở các vùng nằm ngoài quyền tài phán quốc gia (Hiệp định BBNJ) thành pháp luật, cơ chế hợp tác và hành động cụ thể ở cấp quốc gia, khu vực và quốc tế.
Kinh nghiệm áp dụng thông luật của Tòa án Trung tâm Tài chính quốc tế Dubai và khuyến nghị đối với Việt Nam

Kinh nghiệm áp dụng thông luật của Tòa án Trung tâm Tài chính quốc tế Dubai và khuyến nghị đối với Việt Nam

Tóm tắt: Nghiên cứu cho thấy, Tòa án thuộc Trung tâm Tài chính quốc tế Dubai là mô hình tài phán đặc thù, thiết kế nhằm giải quyết tranh chấp dân sự, thương mại trong môi trường đầu tư quốc tế. Đặc điểm nổi bật của Tòa án thuộc Trung tâm Tài chính quốc tế Dubai là vận hành theo hệ thống thông luật, sử dụng tiếng Anh và tồn tại song song với hệ thống tư pháp chung của Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất. Mô hình này thể hiện rõ cách kết hợp giữa luật thành văn, án lệ và các nguyên tắc thông luật trong hoạt động xét xử. So sánh với Luật Tòa án chuyên biệt tại Trung tâm tài chính quốc tế năm 2025 của Việt Nam, có thể thấy, Việt Nam chưa xây dựng một khu tài phán thông luật hoàn chỉnh, mà mới tiếp nhận từng phần, một số kỹ thuật tố tụng và cơ chế chọn luật mang ảnh hưởng thông luật. Vì vậy, nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của Tòa án thuộc Trung tâm Tài chính quốc tế Dubai giúp Việt Nam hoàn thiện quy tắc tố tụng, tăng tính dự đoán xét xử và nâng cao sức hút thể chế, nhưng cần vận dụng thận trọng, phù hợp với chủ quyền tư pháp và trật tự công.
Pháp luật một số quốc gia về trả lương bằng tài sản mã hóa và kinh nghiệm đối với Việt Nam

Pháp luật một số quốc gia về trả lương bằng tài sản mã hóa và kinh nghiệm đối với Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ số và tài sản mã hóa đặt ra yêu cầu cấp thiết phải đánh giá khả năng áp dụng loại tài sản này trong quan hệ lao động, đặc biệt, trong phương thức trả lương. Nghiên cứu phân tích, so sánh pháp luật của Trung Quốc, Hoa Kỳ, El Salvador và Việt Nam, từ đó, gợi mở một số kinh nghiệm đối với Việt Nam trong hoàn thiện pháp luật để bảo đảm hài hòa giữa đổi mới công nghệ và bảo vệ người lao động trong kỷ nguyên số.
Bảo đảm các nguyên tắc của việc làm thỏa đáng trong điều kiện mới

Bảo đảm các nguyên tắc của việc làm thỏa đáng trong điều kiện mới

Trên cơ sở tham vấn ba bên (đại diện Chính phủ, người sử dụng lao động và người lao động từ 187 quốc gia thành viên ILO) và hai lần thảo luận tại Hội nghị Lao động Quốc tế, ngày 12/6/2026, ILO đã thông qua Công ước số 193 về việc làm thỏa đáng trong nền kinh tế nền tảng. Công ước số 193 được thông qua với 406/450 phiếu đồng thuận (hơn 90%).
Xã hội hóa công tác phổ biến, giáo dục pháp luật - Kinh nghiệm từ Trung Quốc và gợi mở đối với Việt Nam

Xã hội hóa công tác phổ biến, giáo dục pháp luật - Kinh nghiệm từ Trung Quốc và gợi mở đối với Việt Nam

Tóm tắt: Xã hội hóa công tác phổ biến, giáo dục pháp luật đóng vai trò quan trọng trong việc thu hút các nguồn lực xã hội vào thực hiện, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Hoàn thiện cơ chế xã hội hóa công tác phổ biến, giáo dục pháp luật là yêu cầu đặt ra trong quá trình sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 nhằm huy động hiệu quả nguồn lực xã hội và đáp ứng yêu cầu đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật theo tinh thần Nghị quyết số 66-NQ/TW[I]. Trên cơ sở phân tích dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)[II] (dự thảo Luật) và tham khảo kinh nghiệm của Trung Quốc, nghiên cứu nhận diện những bất cập trong cơ chế xã hội hóa, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện.
Pháp luật về khai thác quỹ đất nhằm tạo vốn phát triển kết cấu hạ tầng giao thông - Kinh nghiệm quốc tế và gợi mở đối với Việt Nam

Pháp luật về khai thác quỹ đất nhằm tạo vốn phát triển kết cấu hạ tầng giao thông - Kinh nghiệm quốc tế và gợi mở đối với Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh nhu cầu vốn cho hạ tầng giao thông tại Việt Nam vượt khả năng ngân sách, khai thác quỹ đất trở thành giải pháp quan trọng. Nghiên cứu phân tích, đánh giá cơ sở pháp lý và kinh nghiệm quốc tế về thu hồi giá trị gia tăng từ đất gắn với hạ tầng qua các mô hình phát triển đô thị theo định hướng giao thông công cộng (TOD), tái điều chỉnh đất đai và kết hợp hạ tầng - bất động sản. Kết quả cho thấy, pháp luật Việt Nam còn hạn chế về cơ chế phân chia địa tô chênh lệch, tiêu chí vùng phụ cận và tính đồng bộ pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứ đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả khai thác quỹ đất phục vụ phát triển hạ tầng giao thông.
Xây dựng tài liệu tập huấn thiết thực trong công tác tổ chức thi hành pháp luật

Xây dựng tài liệu tập huấn thiết thực trong công tác tổ chức thi hành pháp luật

Trong khuôn khổ Dự án tăng cường pháp luật và tư pháp tại Việt Nam giai đoạn II - Hợp phần hỗ trợ các cơ quan nhà nước (Dự án EU JULE II), chiều ngày 12/5, Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với Phái đoàn Liên minh châu Âu tại Việt Nam tổ chức cuộc họp kỹ thuật góp ý đối với dự thảo tài liệu tập huấn thử về công tác tổ chức thi hành pháp luật. Bà Nguyễn Thị Minh Phương, Phó Cục trưởng Cục Kiểm tra văn bản và Tổ chức thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp và bà Nguyễn Thị Thanh Hải, Cố vấn trưởng Dự án EU JULE đồng chủ trì cuộc họp.
Pháp luật một số quốc gia về bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, quản lý hoạt động tôn giáo và khuyến nghị đối với Việt Nam

Pháp luật một số quốc gia về bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, quản lý hoạt động tôn giáo và khuyến nghị đối với Việt Nam

Tóm tắt: Tín ngưỡng và tôn giáo là yếu tố cấu thành cơ bản trong đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi cá nhân, gồm các lễ nghi truyền thống và tập tục. Từ góc độ pháp lý, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được ghi nhận là quyền cơ bản của con người được quy định trong Hiến pháp và pháp luật của các quốc gia. Bài viết nghiên cứu, phân tích, so sánh khung pháp lý về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của một số quốc gia trong hệ thống dân luật và cách thức quản trị sự đa dạng tôn giáo của các quốc gia này. Trên cơ sở đó, đề xuất giải pháp bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo và quản lý hoạt động của các tôn giáo tại Việt Nam nhằm hài hòa và thúc đẩy công bằng xã hội.
Pháp luật Đức về trợ giúp người chưa thành niên trong tố tụng hình sự - Một số kinh nghiệm tham khảo cho Việt Nam

Pháp luật Đức về trợ giúp người chưa thành niên trong tố tụng hình sự - Một số kinh nghiệm tham khảo cho Việt Nam

Trên thực tế, hệ thống tư pháp người chưa thành niên ở Liên minh châu Âu nói chung và ở Đức nói riêng đã phát triển mạng lưới dịch vụ xã hội chuyên trách, với sự tham gia của các nhà tâm lý học, bác sĩ tâm thần, trung gian hòa giải, nhân viên xã hội hoặc cán bộ quản chế. Tại Cộng hòa Liên bang Đức, nhiệm vụ này gọi là trợ giúp thanh thiếu niên trong tố tụng hình sự, do các chuyên gia thực hiện bằng cách cung cấp thông tin cho thẩm phán Tòa án thanh thiếu niên và hỗ trợ người chưa thành niên và gia đình họ trước, trong và sau quá trình tố tụng hình sự.
Quy định của Liên minh châu Âu về bảo vệ khách hàng trong thị trường tài sản mã hóa và đề xuất cho Việt Nam

Quy định của Liên minh châu Âu về bảo vệ khách hàng trong thị trường tài sản mã hóa và đề xuất cho Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh thị trường tài sản mã hóa phát triển nhanh, tiềm ẩn nhiều rủi ro đối với khách hàng, việc xây dựng cơ chế bảo vệ người tham gia trở nên cấp thiết. Bài viết phân tích Quy định chung về thị trường tài sản mã hóa (MiCA) của Liên minh châu Âu trong bảo vệ khách hàng thông qua các nghĩa vụ đối với tổ chức cung cấp dịch vụ và yêu cầu minh bạch thông tin, đặc biệt trong sách trắng, tạo nền tảng an toàn cho thị trường. Qua phân tích, bài viết nhận diện những hạn chế trong cơ chế hiện hành tại Việt Nam, từ đó, đề xuất hoàn thiện khung pháp lý, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và bảo vệ quyền lợi người tham gia, đồng thời, thúc đẩy sự phát triển an toàn, bền vững của thị trường tài sản mã hóa trong nước.
Cam kết xóa bỏ phân biệt đối xử trong lao động tại các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới - Kinh nghiệm quốc tế và kiến nghị cho Việt Nam

Cam kết xóa bỏ phân biệt đối xử trong lao động tại các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới - Kinh nghiệm quốc tế và kiến nghị cho Việt Nam

Tóm tắt: Thời gian qua, Việt Nam ký kết một số hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, như: Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương, Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu, Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam - Vương quốc Anh và Bắc Ireland... Các hiệp định này đều đặt ra yêu cầu xóa bỏ tình trạng phân biệt đối xử trong lĩnh vực lao động thông qua thực thi đầy đủ nguyên tắc lao động cơ bản của Tổ chức Lao động Quốc tế. Mặc dù Việt Nam đã nội luật hóa nhiều cam kết quốc tế, tuy nhiên, hệ thống pháp luật hiện hành còn tồn tại một số hạn chế nhất định, có thể chưa đáp ứng đầy đủ các chuẩn mực lao động quốc tế mà các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới đặt ra. Từ thực tế đó, bài viết phân tích mức độ tương thích giữa pháp luật Việt Nam và các nguyên tắc của Tổ chức Lao động Quốc tế về không phân biệt đối xử, xác định những bất cập còn tồn tại, đồng thời, nghiên cứu kinh nghiệm một số quốc gia để đề xuất kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả các cam kết quốc tế Việt Nam đã tham gia.
Bảo vệ thông tin cá nhân người tiêu dùng trong thương mại điện tử - Kinh nghiệm quốc tế và kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Bảo vệ thông tin cá nhân người tiêu dùng trong thương mại điện tử - Kinh nghiệm quốc tế và kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh thương mại điện tử phát triển mạnh mẽ và trở thành trụ cột của nền kinh tế số, vấn đề bảo vệ thông tin cá nhân người tiêu dùng đặt ra ngày càng cấp thiết, đặc biệt, sau khi Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023 có hiệu lực thi hành. Trên cơ sở phân tích các quy định hiện hành và so sánh, tham chiếu các chuẩn mực pháp lý tiêu biểu của Liên minh châu Âu, Singapore và Nhật Bản, bài viết đánh giá thực trạng, chỉ ra những hạn chế về tính minh bạch, cơ chế bảo vệ quyền riêng tư và trách nhiệm của doanh nghiệp trong xử lý dữ liệu cá nhân và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về bảo vệ thông tin cá nhân người tiêu dùng trong hoạt động thương mại điện tử, nhằm tăng cường hiệu quả bảo vệ người tiêu dùng và thúc đẩy sự phát triển bền vững của thương mại điện tử tại Việt Nam.

Theo dõi chúng tôi trên: