Từ khóa: xã hội hóa phổ biến pháp luật; phổ biến, giáo dục pháp luật; kinh nghiệm của Trung Quốc.
Đặt vấn đề
Sau 13 năm triển khai thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012, hoạt động xã hội hóa phổ biến, giáo dục pháp luật ghi nhận sự tham gia của các tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân, góp phần chia sẻ trách nhiệm với Nhà nước đưa pháp luật vào cuộc sống. Tuy nhiên, mức độ xã hội hóa đạt được chưa tương xứng với nhu cầu thực tiễn. Sự tham gia của xã hội dựa trên tinh thần tự nguyện với nguồn lực tự có, thụ động, chưa hình thành được các mô hình, cơ chế chuyên nghiệp, bền vững[1]. Một trong những nguyên nhân của hạn chế này là vì chưa có cơ chế, chính sách khuyến khích cụ thể để thu hút sự tham gia của toàn xã hội vào công tác phổ biến, giáo dục pháp luật[2].
Trong bối cảnh Việt Nam bước vào kỷ nguyên mới, Nghị quyết số 27-NQ/TW[3], Nghị quyết số 66-NQ/TW, Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đặt ra yêu cầu đổi mới công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, đổi mới tư duy xây dựng và thi hành pháp luật, phát huy vai trò của toàn xã hội trong quá trình thực hiện pháp luật. Việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 là cần thiết nhằm khắc phục những hạn chế của quy định hiện hành, hướng tới phổ biến, giáo dục pháp luật phù hợp với tư duy quản trị hiện đại. Dự thảo Luật ghi nhận chính sách xã hội hóa, mở rộng sự tham gia của nhiều chủ thể, tuy nhiên, nghiên cứu cho thấy, một số nội dung về phân công trách nhiệm, bảo đảm nguồn lực và cơ chế vận hành cần tiếp tục được hoàn thiện.
1. Một số vấn đề về xã hội hóa phổ biến, giáo dục pháp luật ở Việt Nam
Xã hội hóa phổ biến, giáo dục pháp luật mang thuộc tính cốt lõi của quá trình xã hội hóa cung ứng dịch vụ công. Đó là cách tổ chức lại cung ứng dịch vụ công, xây dựng mô hình cung cấp dịch vụ công hợp lý trên cơ sở phân định giữa quản lý và thị trường, giữa vai trò, trách nhiệm của Nhà nước và khả năng tham gia của xã hội[4]. Đặc trưng của xã hội hóa phổ biến, giáo dục pháp luật thể hiện qua các khía cạnh: (i) đa dạng về chủ thể và nguồn lực; (ii) phong phú, linh hoạt trong phương thức triển khai; (iii) liên kết giữa các chủ thể thực hiện, trong đó, nhấn mạnh vai trò điều phối của Nhà nước. Các đặc trưng này đặt ra yêu cầu xã hội hóa phổ biến, giáo dục pháp luật muốn đạt chất lượng, hiệu quả cao thì cơ chế vận hành cần xác định cụ thể về phân công trách nhiệm, phương thức phối hợp và cơ chế kiểm tra, đánh giá, nghiệm thu kết quả.
1.1. Yêu cầu đối với xã hội hóa phổ biến, giáo dục pháp luật tại Việt Nam trong kỷ nguyên mới
Bước vào kỷ nguyên mới, Việt Nam đang có sự dịch chuyển mạnh mẽ trong mô hình quản trị quốc gia. Xã hội hóa phổ biến, giáo dục pháp luật gắn trực tiếp với phương thức quản trị nhà nước hiện đại, hướng tới mục tiêu hình thành văn hóa tuân thủ pháp luật.
Yêu cầu hoàn thiện cơ chế xã hội hóa phổ biến, giáo dục pháp luật xuất phát từ định hướng đổi mới tổ chức thi hành pháp luật và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Nghị quyết số 27-NQ/TW xác định rõ tinh thần “đổi mới công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật... phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, các đoàn thể và nhân dân”. Trong bối cảnh đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật, Nghị quyết số 66-NQ/TW đặt ra yêu cầu chuyển đổi mạnh mẽ tư duy từ quản lý bằng mệnh lệnh sang quản trị kiến tạo và đối tác, lấy sự hài lòng và ý thức tuân thủ pháp luật làm thước đo hiệu quả thi hành. Đặc biệt, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng nhấn mạnh nhiệm vụ hoàn thiện thể chế phát triển, giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa Nhà nước, thị trường và xã hội, khơi thông, huy động mọi nguồn lực. Các định hướng này cho thấy, xã hội hóa phổ biến, giáo dục pháp luật không chỉ là vận động đóng góp, mà còn phải thiết kế thành cơ chế pháp lý để tổ chức, phân công, huy động và kiểm soát sự tham gia của các chủ thể xã hội.
Trên phương diện thực tiễn, sự phát triển của xã hội, chuyển đổi số, hội nhập quốc tế làm thay đổi nhu cầu tiếp cận pháp luật của người dân và đặt ra yêu cầu đổi mới phương thức tổ chức, điều phối hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật. Trong khi đó, nguồn lực của Nhà nước còn hạn chế so với quy mô, tính chất và yêu cầu thực tiễn của hoạt động này. Các quan hệ xã hội và rủi ro pháp lý mới liên tục phát sinh, nhu cầu phổ biến, giáo dục pháp luật vượt qua giới hạn truyền đạt thông tin, hướng tới khả năng vận dụng pháp luật và hình thành thói quen tuân thủ chủ động của người dân.
Cùng với sự phát triển của khoa học, công nghệ, các phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật có thể thay đổi, nhưng xã hội hóa về bản chất vẫn luôn xoay quanh cấu trúc: chủ thể, nguồn lực; cơ chế vận hành và giám sát. Do vậy, việc làm rõ và thể chế hóa các thuộc tính này trong bối cảnh mới là cơ sở then chốt để định hình khung pháp lý phổ biến, giáo dục pháp luật hiện đại và kiến tạo phát triển bền vững.
Thứ nhất, cần định vị lại vai trò của các chủ thể phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng phân công trách nhiệm xã hội rõ ràng. Kỷ nguyên mới chứng kiến sự bứt phá của các công ty công nghệ lớn (Big Tech), các nhà phát triển giải pháp trí tuệ nhân tạo (AI) pháp lý, cùng nguồn lực vô hình là dữ liệu (Data) và thuật toán. Đây là những tiềm năng mà nguồn lực công khó có thể sở hữu ngay. Do vậy, Nhà nước cần bao quát vĩ mô, dẫn dắt thể chế, thúc đẩy đổi mới, sáng tạo để mọi nguồn lực xã hội phát huy tiềm năng tối đa[5]. Bằng công cụ chính sách và pháp luật, Nhà nước điều phối, trao cho các chủ thể xã hội không gian phù hợp để vận hành, đổi mới sáng tạo và cung ứng các sản phẩm phổ biến, giáo dục pháp luật có chất lượng, phù hợp với xã hội. Trách nhiệm của từng nhóm chủ thể phải được xác định tương ứng với chức năng, năng lực và phạm vi tác động xã hội của họ.
Thứ hai, cần cụ thể hóa cơ chế vận hành, giám sát và đánh giá xã hội hóa phổ biến, giáo dục pháp luật. Phổ biến, giáo dục pháp luật là hoạt động có tính xã hội cao, không mang nhiều lợi nhuận, vì vậy, thu hút hỗ trợ, tài trợ còn gặp nhiều khó khăn[6]. Khi xã hội phát triển theo quy luật thị trường, các chủ thể ngoài nhà nước, đặc biệt, khu vực tư nhân chỉ tham gia bền vững khi có sự hài hòa giữa lợi ích và động lực thị trường. Vì thế, Nhà nước cần mở ra các cơ chế linh hoạt để giải phóng và kích hoạt tối đa năng lực của khu vực tư nhân; đồng thời, kiểm soát, ngăn chặn tình trạng thương mại hóa tri thức pháp luật. Đây là nhiệm vụ xây dựng chính sách để thúc đẩy xã hội hóa phổ biến, giáo dục pháp luật.
1.2. Quy định của pháp luật và thực tiễn thực hiện xã hội hóa phổ biến, giáo dục pháp luật tại Việt Nam
Nguyên tắc xã hội hóa được quy định tại Điều 4 Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và được hướng dẫn chi tiết tại Điều 8, Điều 9 Nghị định số 28/2013/NĐ-CP[7]. Theo đó, Nhà nước khuyến khích, hỗ trợ và tạo điều kiện thuận lợi để các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân đóng góp các nguồn lực (nhân lực, cơ sở vật chất và tài chính) cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật.
Xã hội hóa phổ biến, giáo dục pháp luật được triển khai qua đề án “Xã hội hóa công tác phổ biến giáo dục pháp luật và trợ giúp pháp lý” trong hai giai đoạn 2012 - 2016 và 2017 - 2021 do Hội Luật gia chủ trì[8]. Các hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật từng bước nhận được sự quan tâm, hưởng ứng của các tổ chức, cá nhân trong xã hội, nhất là phát huy vai trò của Hội Luật gia các cấp, Đoàn Luật sư, các hiệp hội nghề nghiệp về pháp luật và doanh nghiệp. Từ đó, công tác này dần đi vào nền nếp, hình thành các mô hình Trung tâm pháp luật, Tổ pháp luật cộng đồng, điểm tư vấn pháp luật ở cơ sở và đạt được những kết quả nhất định[9].
Tuy nhiên, phổ biến, giáo dục pháp luật vẫn mang tính chủ đạo từ Nhà nước, chưa được sự quan tâm và tham gia đúng mức từ cộng đồng. Nguồn lực vận động từ xã hội chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế, đặc biệt, tại khu vực vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện khó khăn. Một số hoạt động mới dừng ở phạm vi thiện nguyện, nguồn lực kinh phí và cơ sở vật chất chưa bảo đảm để triển khai toàn diện, bền vững công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Các tổ chức chính trị - xã hội chưa thể hiện xứng tầm vai trò đại diện và vận động các nguồn lực Nhân dân. Việc phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức liên quan thiếu chặt chẽ, dẫn đến chưa phát huy được tiềm năng của xã hội tham gia thực hiện các hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.
Những hạn chế trên có nguyên nhân do hệ thống pháp luật hiện hành chưa hoàn thiện: (i) các quy định pháp luật chỉ xác lập nguyên tắc khuyến khích, chưa làm rõ phạm vi, mức độ và phương thức xã hội hóa công tác phổ biến, giáo dục pháp luật; (ii) pháp luật chưa thiết kế đầy đủ chế độ trách nhiệm, đầu mối tổ chức thực hiện và phối hợp giữa các chủ thể trong và ngoài nhà nước; (iii) chính sách ưu đãi, bảo đảm nguồn lực chưa cụ thể để tạo được động lực vận động nguồn từ xã hội; (iv) chưa quy định về cơ chế đánh giá, giám sát chất lượng, hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật từ các chủ thể xã hội hóa[10].
Những hạn chế trên mặc dù đã được dự thảo Luật quy định, khắc phục nhưng chưa triệt để. Cụ thể:
Thứ nhất, các quy định về tổ chức quản lý, thực hiện xã hội hóa chưa được thiết kế đầy đủ, thống nhất và gắn với trách nhiệm cụ thể của cơ quan đầu mối. Dự thảo Luật đã ghi nhận tư vấn các giải pháp về huy động nguồn lực là một nội dung thuộc chức năng tư vấn của Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật (Điều 7). Cùng với đó là sự phân công trách nhiệm cho một số nhóm chủ thể theo chức năng, nghề nghiệp và phạm vi hoạt động tại Chương III dự thảo Luật. Các quy định trên góp phần hình thành thiết chế tư vấn liên ngành để thúc đẩy sự tham gia và huy động nguồn lực xã hội cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Tuy nhiên, các quy định này chưa hình thành cơ chế quản lý xã hội hóa thống nhất. Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật chỉ thực hiện chức năng tư vấn, không trực tiếp tổ chức, theo dõi và chịu trách nhiệm về kết quả xã hội hóa. Đặc biệt, cơ chế phối hợp của Hội đồng phối hợp phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật nếu chưa có đầu mối có thể dẫn đến tình trạng phân tán trách nhiệm và không xác định rõ chủ thể chịu trách nhiệm cuối cùng. Trong khi đó, Điều 6 dự thảo Luật xác định Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về phổ biến, giáo dục pháp luật, truyền thông chính sách và giao Chính phủ quy định chi tiết. Quy định này chưa xác định rõ cơ quan đầu mối giúp Chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhà nước trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật. Chính phủ có thể quy định chi tiết nhiệm vụ, quyền hạn và cơ chế phối hợp tại văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành (sau khi dự thảo Luật được Quốc hội thông qua). Tuy nhiên, thẩm quyền của cơ quan đầu mối cần được xác định ngay trong Luật nhằm bảo đảm tính minh bạch, ổn định và thống nhất trong phân công thẩm quyền.
Thứ hai, phương thức thực hiện và chính sách khuyến khích, ưu đãi, hỗ trợ xã hội hóa phổ biến, giáo dục pháp luật quy định tương đối khái quát. Về phương thức vận động xã hội, nội dung khoản 1 Điều 4 dự thảo Luật mới chỉ quy định mang tính nguyên tắc “khuyến khích tham gia, hỗ trợ nguồn lực”. Về cơ chế ưu đãi, hỗ trợ, khoản 2 Điều 4 dự thảo Luật giao Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định cơ chế hỗ trợ, khuyến khích theo điều kiện kinh tế - xã hội của địa phương. Tuy nhiên, dự thảo Luật chưa xác định các hình thức hỗ trợ cơ bản, điều kiện áp dụng và phạm vi thẩm quyền của địa phương. Đặc biệt, cụm từ “ngoài các ưu đãi chung theo quy định của pháp luật” chưa làm rõ nội dung ưu đãi cũng như căn cứ pháp lý để áp dụng. Việc thiếu khung chính sách tối thiểu áp dụng thống nhất có thể dẫn đến cách hiểu khác nhau và chênh lệch về mức độ hỗ trợ, khả năng huy động nguồn lực xã hội giữa các địa phương.
Thứ ba, cơ chế sử dụng kinh phí để huy động nguồn lực xã hội tham gia phổ biến, giáo dục pháp luật chưa được cụ thể hóa. Khoản 2 Điều 3 và khoản 3 Điều 36 dự thảo Luật đã xác định ngân sách nhà nước là nguồn bảo đảm cho hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật và truyền thông chính sách, đồng thời, cho phép huy động các nguồn hợp pháp khác. Quy định này bước đầu tạo cơ sở pháp lý để kết hợp giữa nguồn lực nhà nước và nguồn lực xã hội trong tổ chức thực hiện phổ biến, giáo dục pháp luật. Tuy nhiên, quy định này mới chỉ xác định các nguồn hình thành kinh phí, chưa làm rõ phương thức sử dụng ngân sách nhà nước để huy động năng lực chuyên môn, công nghệ và mạng lưới của các chủ thể ngoài nhà nước. Cách tiếp cận này chưa thể hiện rõ vai trò của ngân sách nhà nước như một công cụ tạo đòn bẩy thu hút và phát huy năng lực của các chủ thể xã hội có đủ điều kiện tham gia.
Thứ tư, cơ chế đánh giá, kiểm tra và kiểm soát chất lượng hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật chưa gắn đầy đủ với yêu cầu công khai kết quả và bảo đảm trách nhiệm thực hiện. Điểm mới của dự thảo Luật ghi nhận các tiêu chí đánh giá cơ bản, trong đó, mức độ tiếp cận pháp luật và sự hài lòng của đối tượng thụ hưởng tại Điều 37. Tuy nhiên, dự thảo Luật chưa làm rõ hình thức thể hiện kết quả đánh giá, công khai kết quả. Bên cạnh đó, việc đánh giá chưa gắn kết với các giải pháp pháp lý cụ thể đối với từng trường hợp hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật đạt yêu cầu hoặc không bảo đảm chất lượng. Có thể thấy, quy định này chưa thực sự tạo được cơ sở đầy đủ để xã hội giám sát và kiểm chứng hiệu quả thực chất của hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.
2. Kinh nghiệm xây dựng chính sách và pháp luật liên quan đến xã hội hóa công tác phổ biến, giáo dục pháp luật tại Trung Quốc
Trung Quốc là quốc gia có quá trình triển khai phổ biến, giáo dục pháp luật tương đối sớm từ năm 1985 thông qua các Kế hoạch 05 năm tuyên truyền pháp luật[11]. Gần đây nhất là Kế hoạch 05 năm lần thứ tám giai đoạn 2021 - 2025 với mục tiêu “tăng cường trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật”[12].
Ngày 12/9/2025, Trung Quốc thông qua Luật Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa về Tuyên truyền và giáo dục pháp luật (Luật CHND Trung Hoa về Tuyên truyền và giáo dục pháp luật), đánh dấu bước chuyển từ cơ chế điều hành bằng kế hoạch sang điều chỉnh bằng pháp luật. Xã hội hóa phổ biến, giáo dục pháp luật từ một chủ trương, chính sách đã trở thành nguyên tắc pháp lý bắt buộc, gắn với trách nhiệm của từng chủ thể cùng cơ chế bảo đảm thực hiện tương ứng.
2.1. Cơ chế phân công trách nhiệm đa chủ thể
Xã hội hóa hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trong Luật CHND Trung Hoa về Tuyên truyền và giáo dục pháp luật được khai thác qua hai phương diện: (i) mở rộng phạm vi chủ thể xã hội tham gia; (ii) phân tầng mức độ trách nhiệm tới từng nhóm chủ thể. Hiệu quả của xã hội hóa phổ biến, giáo dục pháp luật không chỉ mở rộng cơ học số lượng chủ thể tham gia, mà còn xác lập rõ vai trò, trách nhiệm trong hệ thống chung.
Về nguyên tắc, Điều 7, Điều 8 và Điều 9 Luật CHND Trung Hoa về Tuyên truyền và giáo dục pháp luật đặt ra cấu trúc trách nhiệm cơ bản trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật. Cơ quan hành chính tư pháp giữ vai trò đầu mối quản lý, điều phối ở trung ương và địa phương. Các cơ quan nhà nước khác có trách nhiệm phổ biến, giáo dục pháp luật trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình theo nguyên tắc “ai thực thi pháp luật thì người đó có trách nhiệm phổ biến pháp luật”. Cùng với đó, khuyến khích, hỗ trợ các doanh nghiệp, tổ chức khác và cá nhân thực hiện, tham gia phổ biến, giáo dục pháp luật.
Cơ chế phân công trách nhiệm của Trung Quốc có thể khái quát thành hai tầng: (i) nhóm chủ thể có trách nhiệm bắt buộc đối với các cơ quan nhà nước; (ii) nhóm chủ thể được giao nhiệm vụ hoặc khuyến khích trong xã hội. Theo quy định các Chương II, III, IV và V Luật CHND Trung Hoa về Tuyên truyền và giáo dục pháp luật, các chủ thể ngoài nhà nước được phân công theo chức năng quản lý, phạm vi hoạt động và khả năng tiếp cận xã hội.
Luật CHND Trung Hoa về Tuyên truyền và giáo dục pháp luật phân công trách nhiệm cho các chủ thể theo chức năng xã hội, nghề nghiệp gắn với nhóm cộng đồng mục tiêu. Chẳng hạn, doanh nghiệp giáo dục pháp luật cho người lao động; tổ chức dịch vụ pháp lý lồng ghép vào hoạt động tư vấn, hòa giải; tổ chức tài chính, đơn vị quản lý địa điểm công cộng và nhà cung cấp dịch vụ mạng phổ biến, giáo dục pháp luật cho khách hàng. Luật CHND Trung Hoa về Tuyên truyền và giáo dục pháp luật mở rộng sự tham gia của các chủ thể xã hội thông qua cơ chế khuyến khích, hỗ trợ và tạo điều kiện phù hợp. Các tổ chức quần chúng, cơ quan truyền thông, chuyên gia pháp luật, sinh viên luật và tình nguyện viên được huy động trên cơ sở phát huy lợi thế về chuyên môn, mạng lưới, công nghệ và sự gắn kết với cộng đồng. Cùng với đó, để phát huy sự tham gia của xã hội ở mức cao nhất, việc phân công này gắn với điều kiện bảo đảm về nhân lực, phương tiện, không gian, công nghệ và phương thức thực hiện. Xuyên suốt các nhóm quy định về trách nhiệm, phổ biến, giáo dục pháp luật luôn được đặt trong tổng thể xây dựng pháp quyền địa phương, chú trọng xây dựng đội ngũ nhân lực phổ biến, giáo dục pháp luật, tận dụng truyền thông đại chúng và khuyến khích ứng dụng công nghệ mới.
2.2. Cơ chế huy động và bảo đảm nguồn lực xã hội hóa
Cơ chế huy động và bảo đảm nguồn lực cho hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật được Trung Quốc xây dựng dựa trên kết hợp chặt chẽ giữa vai trò chủ đạo của Nhà nước và sự tham gia của các lực lượng xã hội. Xã hội hóa phổ biến, giáo dục pháp luật dựa trên nền tảng tài chính công ổn định, đồng thời, tạo ra cơ chế đòn bẩy để tìm kiếm các nguồn lực ngoài nhà nước. Mục tiêu là tạo ra nguồn lực bền vững, hạn chế tình trạng phong trào hay phụ thuộc vào nguồn lực thiếu tính lâu dài.
Thứ nhất, quy định trách nhiệm bảo đảm kinh phí thường xuyên của Nhà nước làm nền tảng để thu hút các nguồn lực xã hội. Điều 55 Luật CHND Trung Hoa về Tuyên truyền và giáo dục pháp luật quy định chính quyền nhân dân cấp huyện trở lên có trách nhiệm bố trí kinh phí phổ biến, giáo dục pháp luật trong ngân sách; các cơ quan nhà nước, tổ chức quần chúng và các tổ chức liên quan phải bố trí nguồn lực phù hợp để thực hiện nhiệm vụ được giao. Nguồn kinh phí nhà nước giữ vai trò “nguồn lực nền”, bảo đảm tính liên tục và ổn định cho hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật, trong khi nguồn lực xã hội được huy động bổ sung dưới sự hướng dẫn của Nhà nước.
Thứ hai, Trung Quốc sử dụng cơ chế mua sắm dịch vụ của Chính phủ như một phương thức kích hoạt nguồn lực từ xã hội cho phổ biến, giáo dục pháp luật. Bộ Tư pháp và Bộ Tài chính Trung Quốc ban hành quy định về việc thiết lập và hoàn thiện cơ chế đấu thầu dịch vụ pháp lý của Chính phủ[13]. Ở góc độ xã hội hóa, đây là phương thức chuyển hóa nguồn lực tài chính công thành nguồn lực xã hội để thực hiện nhiệm vụ công. Mua sắm dịch vụ công không làm thay đổi tính chất công ích của phổ biến, giáo dục pháp luật, mà tạo ra phương thức để Nhà nước sử dụng ngân sách như một “đòn bẩy” huy động năng lực chuyên môn, mạng lưới và khả năng thích ứng của xã hội.
2.3. Cơ chế bảo đảm thực thi phổ biến, giáo dục pháp luật
Các yêu cầu về đánh giá, giám sát, báo cáo và trách nhiệm pháp lý trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật quy định tại Chương V, Chương VI Luật CHND Trung Hoa về Tuyên truyền và giáo dục pháp luật. Trung Quốc sử dụng giám sát như một công cụ quản lý xã hội hóa phổ biến, giáo dục pháp luật. Xã hội hóa không được vận hành tự phát mà đặt trong khuôn khổ trách nhiệm: Nhà nước giữ vai trò kiểm soát chuẩn mực, chủ thể thực hiện phải chịu trách nhiệm về chất lượng tác động xã hội của hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.
Thứ nhất, xây dựng cơ chế đánh giá công khai để quản lý trách nhiệm trong xã hội hóa hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật và được cụ thể hóa tại Điều 56 và Điều 58 Luật CHND Trung Hoa về Tuyên truyền và giáo dục pháp luật. Theo đó, cơ quan hành chính tư pháp có trách nhiệm tổ chức đánh giá, công khai kết quả đánh giá và chịu sự giám sát của xã hội. Ủy ban Thường vụ Đại hội đại biểu nhân dân các cấp giám sát việc thực hiện thông qua xem xét báo cáo, kiểm tra thi hành pháp luật, chất vấn và nghiên cứu chuyên đề. Cơ chế này kết hợp giữa giám sát của cơ quan dân cử và giám sát xã hội để tạo áp lực trách nhiệm đối với các chủ thể tham gia, góp phần nâng cao tính minh bạch, hạn chế tính hình thức và tạo cơ sở để khen thưởng các tổ chức, cá nhân có thành tích trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật (Điều 12).
Thứ hai, đưa ra biện pháp nhắc nhở các chủ thể không thực hiện đúng trách nhiệm phổ biến, giáo dục pháp luật. Điều 57 Luật CHND Trung Hoa về Tuyên truyền và giáo dục pháp luật quy định khi phát hiện các đơn vị cùng cấp không thực hiện nhiệm vụ, cơ quan tư pháp cấp huyện trở lên có quyền nhắc nhở, buộc các đơn vị cải thiện và báo cáo kết quả. Trong bối cảnh xã hội hóa, cơ chế này có ý nghĩa như một công cụ mềm, là bước trung gian giữa giám sát và xử lý vi phạm, tạo cơ hội cho chủ thể được giao trách nhiệm tự khắc phục nhưng vẫn phải chịu trách nhiệm giải trình.
Thứ ba, gắn việc thực hiện xã hội hóa hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật với chế tài, trách nhiệm cụ thể. Từ Điều 59 đến Điều 63 Luật CHND Trung Hoa về Tuyên truyền và giáo dục pháp luật quy định trách nhiệm pháp lý chung đối với cơ quan, đơn vị, cá nhân trong và ngoài nước không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ phổ biến, giáo dục pháp luật. Luật đặt ra chế tài đối với vi phạm quy định về quản lý kinh phí phổ biến, giáo dục pháp luật, xâm phạm hoặc phá hủy cơ sở vật chất phục vụ phổ biến, giáo dục pháp luật, thực hiện phổ biến, giáo dục pháp luật trái quy định và gây tác động xã hội bất lợi.
Như vậy, pháp luật Việt Nam và Trung Quốc đều xác định Nhà nước giữ vai trò chủ đạo và khuyến khích xã hội tham gia phổ biến, giáo dục pháp luật. Tuy nhiên, pháp luật Trung Quốc đã thiết lập cơ chế tương đối đồng bộ, từ xác định đầu mối điều phối, phân công trách nhiệm đến bảo đảm nguồn lực và kiểm soát việc thực hiện. Trong khi đó, pháp luật Việt Nam chưa làm rõ mối liên hệ giữa trách nhiệm của chủ thể, phương thức huy động nguồn lực và cơ chế đánh giá kết quả. Từ sự khác biệt này, Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm về các nguyên tắc xác định đầu mối điều phối, sử dụng ngân sách nhà nước để huy động năng lực xã hội và gắn sự tham gia với trách nhiệm giải trình. Việc tiếp thu cần được thực hiện có chọn lọc, phù hợp với đặc điểm thể chế và điều kiện thực tiễn của Việt Nam.
3. Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật
Từ thực trạng pháp luật Việt Nam và trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của Trung Quốc, phù hợp với điều kiện thực tiễn đất nước, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật như sau:
Thứ nhất, hoàn thiện quy định về quản lý xã hội hóa hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật. Kinh nghiệm của Trung Quốc cho thấy, xã hội hóa chỉ có thể được tổ chức hiệu quả khi pháp luật xác định một đầu mối điều phối thống nhất và phân biệt mức độ trách nhiệm của đơn vị. Theo đó, Việt Nam cần hoàn thiện quy định tại Điều 6 dự thảo Luật hoặc văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành (sau khi dự thảo Luật được Quốc hội thông qua) (văn bản hướng dẫn thi hành) cần quy định cụ thể về cơ quan đầu mối chịu trách nhiệm điều phối, theo dõi và đánh giá việc thực hiện chính sách xã hội hóa. Cụ thể, quy định trách nhiệm của Bộ Tư pháp, với tư cách là cơ quan quản lý nhà nước về phổ biến, giáo dục pháp luật, truyền thông chính sách, chủ trì tham mưu, điều phối, theo dõi và đánh giá việc thực hiện chính sách xã hội hóa trên phạm vi toàn quốc.
Đồng thời, cần phân định rõ quan hệ giữa cơ quan quản lý nhà nước và Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật. Cụ thể, cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền ban hành hoặc tham mưu ban hành chính sách, tổ chức thực hiện, kiểm tra và chịu trách nhiệm về kết quả thực hiện xã hội hóa hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật. Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật tiếp tục giữ vai trò tư vấn, phối hợp liên ngành, đề xuất giải pháp và kết nối nguồn lực giữa các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân. Sự phân định này tạo ranh giới thẩm quyền, tránh tình trạng sử dụng cơ chế phối hợp để thay thế hoặc làm phân tán trách nhiệm quản lý nhà nước. Các đề xuất, chương trình huy động nguồn lực do Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật kiến nghị cần được chuyển hóa thành kế hoạch, nhiệm vụ cụ thể do cơ quan có thẩm quyền phê duyệt, xác định rõ đơn vị chủ trì, đơn vị phối hợp, nguồn lực thực hiện và kết quả đầu ra.
Bên cạnh đó, để hỗ trợ việc quản lý, nội dung theo dõi xã hội hóa cần được tích hợp vào cơ sở dữ liệu dùng chung về phổ biến, giáo dục pháp luật. Cơ sở dữ liệu này phải phản ánh tối thiểu các thông tin về chủ thể tham gia, hình thức tham gia, chương trình hoặc nhiệm vụ được thực hiện, nguồn lực huy động, kinh phí ngân sách đã sử dụng, sản phẩm đầu ra và kết quả đánh giá. Việc số hóa thông tin không chỉ phục vụ quản lý, tránh trùng lặp trong phân bổ nguồn lực, mà còn tạo cơ sở cho hoạt động kiểm tra, công khai và trách nhiệm giải trình. Trên cơ sở dữ liệu thống nhất, cơ quan đầu mối có thể đánh giá mức độ tham gia của xã hội, nhận diện những địa bàn hoặc nhóm đối tượng còn thiếu nguồn lực và đề xuất chính sách điều chỉnh phù hợp.
Thứ hai, hoàn thiện quy định về phương thức thực hiện và chính sách ưu đãi xã hội hóa hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật. Pháp luật Trung Quốc tiếp cận nguồn lực theo hướng ngân sách nhà nước giữ vai trò bảo đảm nền tảng, đồng thời, cho phép huy động nguồn lực xã hội và sử dụng cơ chế mua dịch vụ của Chính phủ để lựa chọn các chủ thể có năng lực thực hiện hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật. Vì vậy, Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc kinh nhiệm của Trung Quốc trong việc sử dụng các công cụ giao nhiệm vụ, đặt hàng hoặc đấu thầu để chuyển chính sách khuyến khích chung thành quan hệ pháp lý cụ thể, trong đó, xác định được chủ thể thực hiện, yêu cầu sản phẩm, kinh phí và trách nhiệm tương ứng. Yêu cầu này xuất phát từ thực tiễn khi nhiều hoạt động xã hội hóa phổ biến, giáo dục pháp luật vẫn phụ thuộc vào nguồn lực tự có, tài trợ, hoạt động thiện nguyện hoặc các chương trình, đề án có thời hạn, nên khó bảo đảm tính ổn định và khả năng nhân rộng. Do đó, yêu cầu đặt ra đối với Việt Nam không chỉ tiếp tục khuyến khích sự tham gia, mà còn phải thiết lập cơ chế pháp lý để cơ quan có thẩm quyền có thể lựa chọn, sử dụng và hỗ trợ năng lực của các chủ thể xã hội. Trên cơ sở quy định về xã hội hóa tại Điều 4 dự thảo Luật, cần tiếp tục cụ thể hóa các phương thức thực hiện và các nhóm chính sách khuyến khích, ưu đãi, hỗ trợ, làm căn cứ cho việc huy động và sử dụng nguồn lực xã hội một cách thống nhất, minh bạch và khả thi. Cụ thể:
(i) Bổ sung quy định về cơ chế giao nhiệm vụ, đặt hàng hoặc đấu thầu cung cấp dịch vụ phổ biến, giáo dục pháp luật. Quy định này không nhằm mục đích thương mại hóa hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật mà tạo cơ sở pháp lý chuyển giao khâu thực hiện cho các chủ thể đủ năng lực bằng nguồn ngân sách có trọng điểm. Việc luật hóa cơ chế trên đối với hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật không phải là đề xuất mới hoàn toàn, mà có cơ sở từ khuôn khổ pháp luật hiện hành về cung ứng dịch vụ công sử dụng ngân sách nhà nước. Trong lĩnh vực tư pháp, Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 (sửa đổi, bổ sung năm 2026) ghi nhận cơ chế ký hợp đồng với luật sư, tổ chức hành nghề luật sư, tổ chức tư vấn pháp luật để thực hiện trợ giúp pháp lý; đồng thời, Nghị định số 32/2019/NĐ-CP[14] xác định trợ giúp pháp lý là một loại dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách nhà nước. Từ các quy định này cho thấy, việc thiết kế cơ chế tương tự đối với hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật là có cơ sở, nhằm tạo căn cứ chuyên ngành để Nhà nước có thể giao nhiệm vụ, đặt hàng hoặc đấu thầu các sản phẩm phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng có đầu ra, có nghiệm thu và có kiểm soát chất lượng. Tuy nhiên, để bảo đảm hiệu quả vận hành, cần tiếp tục nghiên cứu và xây dựng hệ thống định mức đối với các sản phẩm phổ biến, giáo dục pháp luật mang tính đặc thù.
(ii) Cụ thể hóa cơ chế khuyến khích, ưu đãi tại khoản 2 Điều 4 dự thảo Luật hoặc trong văn bản hướng dẫn thi hành. Việc giao Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quy định chính sách ưu đãi, hỗ trợ theo tình hình kinh tế - xã hội từng thời kỳ là phù hợp, bởi ngân sách và nhu cầu phổ biến, giáo dục pháp luật giữa các địa phương không giống nhau. Tuy nhiên, để tránh tình trạng quy định quá mở, dự thảo Luật cần xác định rõ các nhóm chính sách ưu đãi, hỗ trợ làm cơ sở cho địa phương cụ thể hóa về hình thức, mức độ và điều kiện áp dụng cụ thể.
Thứ ba, làm rõ nguyên tắc sử dụng kinh phí phổ biến, giáo dục pháp luật để huy động nguồn lực xã hội. Trung Quốc quy định cơ chế tài chính theo hướng ngân sách nhà nước giữ vai trò bảo đảm nền tảng nhưng không giới hạn ở việc cấp kinh phí cho cơ quan nhà nước trực tiếp thực hiện, mà còn tạo điều kiện huy động sự đóng góp từ xã hội. Vì vậy, Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm này, phù hợp với thực tiễn trong việc yêu cầu sử dụng nguồn lực công theo cách có khả năng thúc đẩy, kết nối và phát huy các nguồn lực xã hội. Để các phương thức giao nhiệm vụ, đặt hàng hoặc đấu thầu được kiến nghị tại Điều 4 dự thảo Luật có thể vận hành, quy định về kinh phí tại Điều 36 phải tạo căn cứ pháp lý cho việc sử dụng ngân sách. Vì vậy, Điều 36 dự thảo Luật hoặc văn bản hướng dẫn thi hành cần bổ sung nguyên tắc kinh phí phổ biến, giáo dục pháp luật có thể được sử dụng để hỗ trợ hoặc đặt hàng cho các chủ thể ngoài nhà nước thực hiện hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước, đấu thầu và pháp luật có liên quan.
Thứ tư, hoàn thiện quy định về cơ chế kiểm tra, đánh giá hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật nói chung và xã hội hóa phổ biến, giáo dục pháp luật nói riêng. Pháp luật Trung Quốc quy định việc đánh giá hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật có sự tham gia của xã hội; yêu cầu cơ quan có trách nhiệm báo cáo kết quả thực hiện; đồng thời, thiết lập cơ chế nhắc nhở, yêu cầu khắc phục và xử lý đối với chủ thể không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ trách nhiệm. Có thể thấy, mở rộng chủ thể tham gia phải đi kèm với tiêu chí đánh giá, cơ chế công khai và công cụ bảo đảm trách nhiệm thực hiện. Từ đó, cần sửa đổi Điều 37 dự thảo Luật hoặc văn bản hướng dẫn thi hành theo hướng quy định cơ chế đánh giá, tăng cường công khai và gắn kết quả với các biện pháp quản lý, pháp lý. Cụ thể:
(i) Thiết lập cơ chế công khai kết quả đánh giá, tổng kết và nhân rộng mô hình xã hội hóa phổ biến, giáo dục pháp luật hiệu quả. Bộ Tư pháp và cơ quan tư pháp địa phương định kỳ rà soát, tổng kết các mô hình xã hội hóa đang triển khai; xây dựng hồ sơ thực tiễn về mô hình hiệu quả, gồm mục tiêu, đối tượng thụ hưởng, chủ thể tham gia, nguồn lực huy động, phương thức thực hiện, sản phẩm đầu ra và kết quả đánh giá; đồng thời, hướng dẫn các địa phương, tổ chức, cá nhân tham khảo, áp dụng hoặc phát triển mô hình phù hợp với điều kiện thực tế. Kết quả đánh giá nên được công khai ở mức độ phù hợp để tăng trách nhiệm giải trình.
(ii) Quy định nguyên tắc nghiệm thu gắn liền với sản phẩm đầu ra và kết quả thực hiện, đặc biệt là các hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật do Nhà nước đặt hàng, đấu thầu. Đối với hoạt động đạt yêu cầu, kết quả đánh giá là căn cứ để nghiệm thu, thanh toán, tiếp tục giao nhiệm vụ, đặt hàng hoặc lựa chọn chủ thể tiếp tục thực hiện. Ngược lại, đối với hoạt động không bảo đảm chất lượng, cần xác định rõ trách nhiệm giải trình, yêu cầu khắc phục, chấm dứt nhiệm vụ hoặc không tiếp tục lựa chọn chủ thể thực hiện theo điều kiện, trình tự do pháp luật quy định.
Kết luận
Xã hội hóa công tác phổ biến, giáo dục pháp luật là một trong những giải pháp quan trọng để nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành pháp luật. Trên cơ sở phân tích dự thảo Luật và kinh nghiệm của Trung Quốc, nghiên cứu kiến nghị hoàn thiện cơ chế xã hội hóa theo hướng quy định rõ trách nhiệm của các chủ thể, bảo đảm cơ chế huy động nguồn lực xã hội gắn với kiểm tra, giám sát và phát huy vai trò quản lý của Nhà nước. Qua đó, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật và bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật của người dân./.
Nguyễn Ngọc Trâm Anh
Học viện Tư pháp
Nguyễn Thị Thu Minh
Trường Đại học Hải Phòng
Nguyễn Bảo Ngọc
Công ty Luật TNHH Nhân dân Việt Nam
Ảnh: internet
[I]. Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
[II]. Dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi) trình Quốc hội kèm theo Tờ trình số 431/TTr-CP ngày 24/7/2026.
[1]. Báo cáo số 210/BC-HLGVN ngày 18/08/2021 của Hội Luật gia Việt Nam về Tổng kết thực hiện Đề án “Xã hội hóa công tác phổ biến, giáo dục pháp luật và trợ giúp pháp lý” giai đoạn 2017 - 2021.
[2]. Báo cáo số 400/BC-BTP ngày 08/6/2026 của Bộ Tư pháp tổng kết việc thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật.
[3]. Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
[4]. Trần Thu Hường (2017), Đề xuất đổi mới việc cung ứng dịch vụ trong lĩnh vực tư pháp trong điều kiện xã hội hóa theo chiến lược cải cách tư pháp, Tạp chí Nghề Luật, số 1/2017, tr.11.
[5]. Bùi Xuân Đông (2025), Pháp luật trong kỷ nguyên số với vấn đề quản trị dữ liệu, an ninh và quyền riêng tư, Tạp chí Việt Nam hội nhập, số 375, tháng 12/2025, tr.6.
[6]. Báo cáo số 45/BC-BTP ngày 15/02/2023 của Bộ Tư pháp về Tổng kết thực hiện Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật.
[7]. Nghị định số 28/2013/NĐ-CP ngày 04/4/2013 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật.
[8]. Báo cáo số 45/BC-BTP, tr.17.
[9]. Báo cáo số 210/BC-HLGVN.
[10]. Phụ lục 8 Báo cáo số 400/BC-BTP.
[11]. Chen Rong (2021), Phân tích con đường thể chế của “Luật Giáo dục tuyên truyền pháp luật” trong việc thúc đẩy phổ biến pháp luật cho toàn dân, https://mks.ecnu.edu.cn/92/a8/c2710a758440/page.htm, truy cập ngày 02/6/2026.
[12]. Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Quốc vụ viện (2021), Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc và Quốc vụ viện chuyển tiếp “Quy hoạch lần thứ tám của Ban Tuyên giáo Trung ương và Bộ Tư pháp về việc triển khai tuyên truyền, giáo dục pháp luật (2021-2025)”, https://www.gov.cn/zhengce/2021-06/15/content_5618254.htm, truy cập ngày 02/6/2026.
[13]. Văn phòng tổng hợp Quốc vụ viện (2020), Ý kiến của Bộ Tư pháp và Bộ Tài chính về việc thiết lập và cải thiện cơ chế đấu thầu dịch vụ pháp lý của Chính phủ), https://www.gov.cn/zhengce/zhengceku/2020-10/21/content_5553096.htm, truy cập ngày 09/6/2026.
[14]. Nghị định số 32/2019/NĐ-CP ngày 10/4/2019 của Chính phủ quy định giao nhiệm vụ, đặt hàng hoặc đấu thầu cung cấp sản phẩm, dịch vụ công sử dụng ngân sách nhà nước từ nguồn kinh phí chi thường xuyên.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bùi Xuân Đông (2025), Pháp luật trong kỷ nguyên số với vấn đề quản trị dữ liệu, an ninh và quyền riêng tư, Tạp chí Việt Nam hội nhập, số 375, tháng 12/2025.
2. Chen Rong (2021), Phân tích con đường thể chế của “Luật Giáo dục tuyên truyền pháp luật” trong việc thúc đẩy phổ biến pháp luật cho toàn dân, https://mks.ecnu.edu.cn/92/a8/c2710a758440/page.htm, truy cập ngày 02/6/2026.
3. Đào Lệ Thu, Nguyễn Ngọc Trâm Anh, Nguyễn Thị Thu Minh, Nguyễn Bảo Ngọc (2025), Xã hội hóa công tác phổ biến, giáo dục pháp luật - Các mô hình tiêu biểu trên thế giới và gợi mở cho Việt Nam, Tạp chí Luật học, số 02/2025.
4. Nguyễn Văn Quang (chủ nhiệm) (2010), Hoàn thiện khung pháp luật về xã hội hóa cung ứng dịch vụ công ở Việt Nam, Đề tài nghiên cứu khoa học, Trường Đại học Luật Hà Nội.
5. Trần Thu Hường (2017), Đề xuất đổi mới việc cung ứng dịch vụ trong lĩnh vực tư pháp trong điều kiện xã hội hóa theo chiến lược cải cách tư pháp, Tạp chí Nghề Luật, số 1/2017.
6. Văn phòng tổng hợp Quốc vụ viện) (2020), Ý kiến của Bộ Tư pháp và Bộ Tài chính về việc thiết lập và cải thiện cơ chế đấu thầu dịch vụ pháp lý của Chính phủ), https://www.gov.cn/zhengce/zhengceku/2020-10/21/ content_5553096.htm, truy cập ngày 09/6/2026.
(Nguồn: Ấn phẩm chuyên sâu “Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới”, xuất bản năm 2026)