Từ khóa: giám định tư pháp; mô hình, tổ chức; pháp luật Úc.
Nhận bài: 18/3/2026 Hoàn thành biên tập: 12/6/2026 Duyệt đăng: 18/6/2026
Comparison of the model of judicial expertise organization under Vietnamese law and Australian law
Abstract: In the context of increasing demands for judicial reform, the law on judicial expertise in Vietnam, although gradually improving, still reveals certain limitations. This study uses analytical, synthetic, systematic, and comparative legal methods to compare the organizational models of judicial expertise under Australian and Vietnamese law in two aspects: (i) judicial expertise organizations; and (ii) judicial examiners. The research results clarify the differences between Vietnam's centralized, tightly controlled administrative management model and Australia's decentralized, highly specialized, and market-oriented service mechanism. Based on this, the study proposes some directions for improving the law on judicial expertise in Vietnam.
Keywords: Judicial expertise; model, organization; Australian law.
Article received: 18/3/2026 Editing completed: 12/6/2026 Approved for publication: 18/6/2026
Đặt vấn đề
Giám định tư pháp (GĐTP) là hoạt động bổ trợ tư pháp, là công cụ đắc lực phục vụ quá trình tố tụng. Thời gian qua, hoạt động GĐTP được triển khai tương đối hiệu quả dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo sát sao của Đảng và Nhà nước. Tuy nhiên, thực tiễn hoạt động cũng cho thấy những tồn tại, hạn chế nhất định, nhất là vấn đề xã hội hóa trong hoạt động giám định, cũng như năng lực chuyên môn của người GĐTP. Trước thực tiễn đó, việc nghiên cứu, so sánh với mô hình tổ chức GĐTP tại Úc để làm rõ những điểm tương đồng, khác biệt nhằm cung cấp kinh nghiệm để Việt Nam có thể tiếp thu có chọn lọc trong quá trình hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về GĐTP.
1. Mô hình tổ chức giám định tư pháp theo pháp luật Việt Nam
Theo khoản 1 Điều 3 Luật Giám định tư pháp năm 2025, GĐTP được hiểu là việc sử dụng kiến thức, phương tiện, phương pháp khoa học, kỹ thuật, nghiệp vụ để kiểm tra, đánh giá, kết luận chuyên môn những vấn đề có liên quan đến hoạt động tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự hoặc giải quyết vụ việc dân sự, vụ án hành chính theo trưng cầu của người trưng cầu GĐTP hoặc theo yêu cầu của người yêu cầu GĐTP. Như vậy, tại Việt Nam, GĐTP được tiếp cận theo nghĩa rộng, là hoạt động chuyên môn, do người có kiến thức chuyên môn thực hiện nhằm hỗ trợ giải quyết vụ việc, vụ án, có thể diễn ra cả trước và trong quá trình tố tụng.
“Mô hình tổ chức GĐTP” được hiểu là cách thức thiết kế và sắp xếp chủ thể, cơ cấu và quan hệ tổ chức trong hệ thống GĐTP, gồm các loại hình tổ chức, vị trí pháp lý, thẩm quyền và mối quan hệ giữa các tổ chức, cá nhân thực hiện giám định. Nói cách khác, đây là cách Nhà nước xác định những chủ thể nào được thực hiện giám định, các điều kiện để tham gia hoạt động này, cũng như chức năng, quyền hạn và cơ chế phối hợp trong quá trình thực hiện GĐTP. Cụ thể, mô hình tổ chức GĐTP tại Việt Nam gồm tổ chức GĐTP công lập, tổ chức GĐTP theo vụ việc và văn phòng GĐTP (tư nhân). Hoạt động GĐTP được thực hiện bởi giám định viên (GĐV) tư pháp và người GĐTP.
Nhìn chung, việc quy định về mô hình GĐTP phù hợp với đặc trưng của Nhà nước đơn nhất, cho phép bao quát đầy đủ phạm vi hoạt động giám định, không chỉ giới hạn trong giai đoạn tố tụng, mà còn thừa nhận vai trò của hoạt động chuyên môn ngay từ giai đoạn tiền tố tụng.
1.1. Tổ chức giám định tư pháp
Theo Luật Giám định tư pháp năm 2025, tổ chức GĐTP tại Việt Nam được xây dựng theo hướng tổ chức công lập và các tổ chức khác, gồm tổ chức GĐTP theo vụ việc và văn phòng GĐTP.
Thứ nhất, theo quy định tại Luật Giám định tư pháp năm 2025, tổ chức GĐTP công lập là các tổ chức có tư cách pháp nhân, được cơ quan nhà nước có thẩm quyền thành lập trong các lĩnh vực pháp y, pháp y tâm thần và kỹ thuật hình sự. Về cơ cấu, hệ thống này được tổ chức theo từng lĩnh vực chuyên môn gắn với các cơ quan quản lý tương ứng. Cụ thể, trong lĩnh vực pháp y, các tổ chức GĐTP thuộc Bộ Y tế, Bộ Quốc phòng, Bộ Công an và các Sở Y tế; trong lĩnh vực pháp y tâm thần, các tổ chức GĐTP thuộc Bộ Y tế; trong lĩnh vực kỹ thuật hình sự, các tổ chức GĐTP thuộc Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Công an cấp tỉnh[1]. Đặc biệt, tổ chức GĐTP công lập thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao thực hiện giám định về âm thanh, dữ liệu điện tử, trong khi tổ chức GĐTP công lập thuộc Công an cấp tỉnh thực hiện giám định pháp y tử thi và pháp y thương tích[2]. Chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của các tổ chức này do Chính phủ và Viện kiểm sát nhân dân tối cao quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành, bảo đảm tính thống nhất trong tổ chức và hoạt động GĐTP[3]. Như vậy, đặc trưng của mô hình GĐTP công lập tại Việt Nam là tổ chức theo ngành dọc, gắn chặt với hệ thống cơ quan nhà nước. Việc phân bổ các tổ chức GĐTP theo từng lĩnh vực chuyên môn và đặt dưới sự quản lý của các bộ, ngành tương ứng cho thấy, Nhà nước giữ vai trò trung tâm trong tổ chức và kiểm soát hoạt động GĐTP, đặc biệt, trong các lĩnh vực có tính chất nhạy cảm, liên quan trực tiếp đến hoạt động tố tụng hình sự.
Thứ hai, theo quy định tại Luật Giám định tư pháp năm 2025, tổ chức GĐTP theo vụ việc là các tổ chức khác được tham gia hoạt động giám định khi có trưng cầu hoặc yêu cầu giám định và phải đáp ứng những điều kiện nhất định. Cụ thể, các tổ chức này phải có tư cách pháp nhân; có chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn trong lĩnh vực chuyên môn phù hợp; đã hoạt động từ đủ 05 năm trở lên trong lĩnh vực hoặc chuyên ngành liên quan đến nội dung được trưng cầu, yêu cầu giám định; đồng thời, phải bảo đảm đội ngũ nhân sự chuyên môn, cơ sở vật chất và trang thiết bị phục vụ hoạt động giám định. Bên cạnh đó, các quy định chi tiết về điều kiện thành lập, lĩnh vực hoạt động, cũng như việc công nhận hoặc hủy bỏ tư cách tổ chức GĐTP theo vụ việc, được hướng dẫn trong các văn bản chuyên ngành do các bộ quản lý lĩnh vực tương ứng ban hành. Như vậy, các tổ chức GĐTP theo vụ việc chỉ tham gia giám định khi phát sinh nhu cầu cụ thể, với phạm vi hoạt động gắn liền với từng lĩnh vực chuyên môn nhất định. Phạm vi này khá rộng, gồm cả các lĩnh vực thuộc khu vực công như năng lượng, hóa chất, vật liệu nổ, an toàn thực phẩm (thuộc quản lý của ngành công thương)[4], hay chăn nuôi, thú y, đất đai, tài nguyên nước, môi trường (thuộc lĩnh vực nông nghiệp và môi trường)[5],… đồng thời, mở rộng sang nhiều lĩnh vực ngoài công lập như khảo cổ học hoặc các ngành nghề thủ công. Việt Nam đã thực hiện tốt việc xã hội hóa trong lĩnh vực GĐTP, khai thác nguồn lực chuyên môn đa dạng trong xã hội, đặc biệt, ở các lĩnh vực mà hệ thống giám định công lập chưa tổ chức được đầy đủ hoặc chưa có nhiều lợi thế. Tuy nhiên, Nhà nước vẫn giữ vai trò kiểm soát khi quy định về điều kiện thành lập các tổ chức giám định theo vụ việc này trong những thông tư của các bộ, ban, ngành.
Thứ ba, văn phòng GĐTP là tổ chức GĐTP ngoài công lập, được tổ chức và hoạt động dưới hình thức doanh nghiệp tư nhân hoặc công ty hợp danh, có tư cách pháp lý theo quy định pháp luật[6]. Các văn phòng này được đăng ký hoạt động trong một số lĩnh vực, chuyên ngành nhất định như ADN, cổ vật, di vật, bản quyền tác giả, tài chính, ngân hàng…[7], phù hợp với phạm vi quản lý và nhu cầu giám định trong thực tiễn. Về điều kiện thành lập, trưởng văn phòng bắt buộc phải là GĐV tư pháp, có thời gian công tác từ 03 năm trở lên và phải có đề án thành lập theo quy định[8]; đồng thời, pháp luật cũng đặt ra giới hạn đối với một số chủ thể như cán bộ, công chức, viên chức, sĩ quan, hạ sĩ quan,… [9] không được phép thành lập văn phòng GĐTP nhằm bảo đảm tính độc lập và tránh xung đột lợi ích. Văn phòng GĐTP hoạt động trong khu vực tư nhân và vận hành theo cơ chế cung cấp dịch vụ giám định, qua đó, góp phần đa dạng hóa chủ thể cung ứng và thể hiện xu hướng xã hội hóa trong lĩnh vực này. Tuy nhiên, đối với một số lĩnh vực đặc thù như ADN, tài liệu, kỹ thuật số và điện tử, dấu vết đường vân trong tố tụng hình sự, pháp luật đặt ra những giới hạn nhất định đối với sự tham gia của các văn phòng này, chỉ cho phép thực hiện trong các trường hợp đặc biệt[10].
1.2. Người giám định tư pháp
Theo Luật Giám định tư pháp năm 2025, người GĐTP gồm GĐV tư pháp và người GĐTP theo vụ việc.
Thứ nhất, GĐV tư pháp là cá nhân được cơ quan nhà nước có thẩm quyền bổ nhiệm để thực hiện hoạt động giám định[11]. GĐV tư pháp phải là công dân Việt Nam thường trú trong nước, có phẩm chất đạo đức tốt, có trình độ đại học trở lên và có ít nhất 05 năm kinh nghiệm chuyên môn trong lĩnh vực được đào tạo (trong một số lĩnh vực đặc thù như pháp y, kỹ thuật hình sự có thể yêu cầu tối thiểu 03 năm), đồng thời, phải được bồi dưỡng kiến thức pháp luật và nghiệp vụ GĐTP[12]. Về quyền và nghĩa vụ, GĐV tư pháp có quyền tham gia hoặc thành lập văn phòng GĐTP, tham gia hội nghề nghiệp và hưởng các chế độ theo quy định. Bên cạnh đó, có nghĩa vụ tuân thủ quy trình, nguyên tắc giám định, thường xuyên bồi dưỡng chuyên môn và thực hiện giám định theo trưng cầu hoặc yêu cầu của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền[13].
Thứ hai, người GĐTP theo vụ việc là cá nhân được cơ quan có thẩm quyền công nhận để thực hiện giám định trong những trường hợp cụ thể, không thuộc đội ngũ GĐV tư pháp được bổ nhiệm thường xuyên. Người GĐTP theo vụ việc phải là công dân Việt Nam thường trú trong nước, có phẩm chất đạo đức tốt, có trình độ đại học và có ít nhất 05 năm kinh nghiệm chuyên môn trong lĩnh vực liên quan; tuy nhiên, pháp luật cho phép linh hoạt công nhận cả những người không có trình độ đại học nhưng có kiến thức chuyên sâu, kinh nghiệm thực tiễn và kỹ năng chuyên môn phù hợp với nội dung cần giám định[14]. Bên cạnh đó, phải thành lập và công khai danh sách người GĐTP theo vụ việc làm căn cứ lựa chọn, trưng cầu giám định[15]; trong trường hợp đặc biệt, cơ quan tiến hành tố tụng có thể trưng cầu người ngoài danh sách nếu đáp ứng đủ điều kiện và phải nêu rõ lý do[16]. Về quyền và nghĩa vụ, người GĐTP theo vụ việc được hưởng các quyền cơ bản theo quy định, đồng thời, phải tuân thủ chặt chẽ quy trình, tiêu chuẩn chuyên môn, thực hiện giám định theo trưng cầu và thường xuyên bồi dưỡng kiến thức pháp luật, nghiệp vụ[17].
Như vậy, quy định về người GĐTP theo vụ việc thể hiện sự linh hoạt trong huy động nguồn nhân lực chuyên môn của xã hội, qua đó, góp phần bổ sung, hỗ trợ hoạt động GĐTP, đồng thời, bảo đảm yêu cầu kiểm soát về chất lượng và trách nhiệm nghề nghiệp.
2. Mô hình tổ chức giám định tư pháp theo pháp luật Úc
Tại Úc, GĐTP không được quy định bằng một khái niệm thống nhất trong một đạo luật riêng, mà được hình thành từ chế định chứng cứ chuyên gia trong pháp luật chứng cứ và pháp luật tố tụng. Điều 79 Đạo luật Chứng cứ năm 2008[18] cho phép chấp nhận ý kiến chuyên môn như một ngoại lệ đối với nguyên tắc loại trừ ý kiến; Bộ Quy tắc Tố tụng Tòa án Liên bang năm 2011[19] quy định việc sử dụng, quản lý và kiểm soát báo cáo chuyên gia trong tố tụng; Đạo luật Tòa án Liên bang năm 1976[20] và các hướng dẫn thực hành nhấn mạnh vai trò trung tâm của Tòa án trong kiểm soát chứng cứ nhằm bảo đảm xét xử công bằng và hiệu quả, có thể hiểu, GĐTP là hoạt động sử dụng tri thức chuyên môn của người có chuyên môn để phân tích, đánh giá và đưa ra ý kiến nhằm hỗ trợ giải quyết các vấn đề pháp lý. Hoạt động này có thể diễn ra cả trong và ngoài tố tụng, nhưng khi được đưa vào Tòa án và đáp ứng điều kiện pháp luật thì trở thành một loại chứng cứ đặc biệt.
Bên cạnh đó, tương tự như Việt Nam, mô hình tổ chức GĐTP cũng được hiểu là cách thức thiết kế và sắp xếp chủ thể, cơ cấu và quan hệ tổ chức trong hệ thống GĐTP. Tại Úc, mô hình tổ chức GĐTP được xây dựng theo hướng phân quyền, phù hợp với cấu trúc nhà nước liên bang. Theo đó, hệ thống này gồm hai khu vực chính là khu vực công và khu vực tư với người thực hiện giám định là GĐV tư pháp. Trên cơ sở đó, có thể thấy, mô hình này phù hợp với nhà nước liên bang khi bảo đảm sự phân quyền rõ ràng, đồng thời, có ưu điểm về tính linh hoạt, khả năng huy động nguồn lực xã hội và nâng cao tính khách quan của hoạt động giám định thông qua cơ chế kiểm soát của Tòa án.
2.1. Tổ chức giám định tư pháp
Tại Úc, tổ chức GĐTP gồm tổ chức GĐTP công lập và tổ chức GĐTP ngoài công lập. Cụ thể:
(i) Về tổ chức GĐTP công lập: ở cấp Liên bang, Chính phủ Úc có một số cơ quan hỗ trợ giám định cho các vụ án thuộc thẩm quyền liên bang (như khủng bố, buôn ma túy xuyên quốc gia, tội phạm mạng liên bang). Cảnh sát Liên bang Úc (AFP) có bộ phận khoa học hình sự riêng phục vụ cho các cuộc điều tra do AFP tiến hành. Ủy ban Tình báo Hình sự Úc quản lý các hệ thống cơ sở dữ liệu và dịch vụ nhận dạng quốc gia (như hệ thống ADN, vân tay quốc gia) hỗ trợ cảnh sát các bang[21]. Tuy nhiên, Liên bang không trực tiếp điều hành các phòng giám định địa phương mà chủ yếu phối hợp chia sẻ thông tin và nguồn lực. Trong các vụ án liên bang, giám định thường do các cơ quan của bang thực hiện theo ủy thác (ví dụ: cảnh sát bang thực hiện khám nghiệm hiện trường cho vụ án liên bang xảy ra trên địa bàn của bang đó). Ở cấp tiểu bang, mỗi bang có các cơ quan giám định chuyên môn trong những lĩnh vực chủ chốt sau:
Thứ nhất, giám định pháp y, gồm giám định pháp y tử thi và giám định pháp y lâm sàng. Ví dụ, Viện Pháp y Victoria là một cơ quan công lập theo luật định tại bang Victoria, chuyên thực hiện khám nghiệm tử thi, giám định nguyên nhân chết và độc chất pháp y, đồng thời, thực hiện khám và chứng nhận tỉ lệ thương tật cho nạn nhân và nghi phạm hình sự[22].
Thứ hai, giám định pháp y tâm thần. Mỗi bang có các cơ sở chuyên khoa về sức khỏe tâm thần phục vụ hoạt động GĐTP. Chẳng hạn, bang Victoria có Viện Pháp y Tâm thần phụ trách đánh giá năng lực chịu trách nhiệm hình sự, tình trạng tâm thần của bị cáo, cũng như điều trị cho phạm nhân mắc bệnh tâm thần[23]. Hay tại bang New South Wales, Mạng lưới Y tế Tư pháp và Pháp y Tâm thần cung cấp dịch vụ giám định pháp y tâm thần và điều trị cho người bị tạm giam có vấn đề tâm thần. Các chuyên gia pháp y tâm thần (bác sĩ chuyên khoa pháp y tâm thần) đánh giá năng lực nhận thức, năng lực điều khiển hành vi của bị cáo theo yêu cầu của Tòa án, cơ quan công tố hoặc do luật sư bào chữa mời để đưa ra ý kiến phản biện[24].
Thứ ba, giám định kỹ thuật hình sự và khoa học hình sự. Ở đa số các tiểu bang, phòng giám định hình sự nằm trong cơ cấu của Cảnh sát bang. Ví dụ, Phòng Giám định pháp y thuộc Cảnh sát bang Victoria (FSD) chịu trách nhiệm phân tích mẫu sinh học (ADN, máu, tinh dịch, tóc...), giám định chất ma túy, khám nghiệm hiện trường… cho các vụ án trong bang[25]. Hay tại bang Tasmania, Phòng Khoa học giám định pháp y (FSST) thuộc Sở Cảnh sát Tasmania cung cấp các dịch vụ giám định sinh học và hóa học hình sự trên địa bàn[26]. Một số bang khác tổ chức phòng giám định riêng, tách khỏi Cảnh sát bang để bảo đảm độc lập. Ví dụ, Phòng Khoa học giám định pháp y (FSSA) thuộc Sở Tư pháp Nam Australia hoạt động độc lập và cung cấp chứng cứ khoa học, ý kiến chuyên môn cho hệ thống tư pháp hình sự của bang[27]. FSSA thực hiện nhiều loại giám định như ADN, dấu vân tay, dấu chân, chất ma túy, các vụ cháy nổ và có cả bộ phận nghiên cứu khoa học hình sự tiên tiến.
Thứ tư, giám định dấu vết kỹ thuật số và điện tử. Nhiều bang thành lập các đơn vị giám định điện tử liên quan đến tội phạm (E-crime Unit) trong lực lượng cảnh sát để phân tích dữ liệu máy tính, điện thoại, âm thanh, hình ảnh camera... Ví dụ, Cảnh sát Victoria có Đội E-Crime chuyên trách giám định chứng cứ điện tử[28]. Bên cạnh các đơn vị giám định dấu vết kỹ thuật số và điện tử thường trực thuộc lực lượng cảnh sát tiểu bang thì trong một số trường hợp cần thiết vẫn có sự hợp tác với các chuyên gia tư nhân.
Thứ năm, các hoạt động giám định khác. Bên cạnh các lĩnh vực trên, còn có giám định kỹ thuật (ví dụ: giám định cháy nổ, tai nạn kỹ thuật do chuyên gia, kỹ sư thực hiện), giám định tài chính (trong các vụ án kinh tế), giám định chữ ký (trong các vụ án liên quan đến giả mạo chữ ký),… Những lĩnh vực này nhìn chung không được tổ chức thành một hệ thống cơ quan nhà nước chuyên trách cố định, nhưng trong bộ máy nhà nước vẫn tồn tại các phòng ban, đơn vị chức năng có đủ năng lực chuyên môn để thực hiện hoạt động giám định khi có yêu cầu từ cơ quan tiến hành tố tụng[29].
Nhìn chung, mô hình này thể hiện sự phân quyền rõ ràng giữa Liên bang và các bang, cách phân công này giúp hoạt động giám định gắn chặt với thực tiễn địa phương, nâng cao tính linh hoạt và khả năng xử lý nhanh các vụ việc cụ thể, đặc biệt, trong các hoạt động điều tra ban đầu như khám nghiệm hiện trường. Bên cạnh đó, việc kết hợp giữa các đơn vị giám định công lập với khả năng phối hợp liên ngành và hỗ trợ từ các cơ quan trung ương tạo nên hệ thống vừa phân tán nhưng vẫn có tính kết nối, qua đó, nâng cao hiệu quả tổng thể của hoạt động GĐTP.
(ii) Về tổ chức GĐTP ngoài công lập:
Thứ nhất, các công ty và phòng thí nghiệm tư nhân. Có nhiều công ty tư vấn chuyên cung cấp dịch vụ giám định kỹ thuật cho luật sư và Tòa án. Ví dụ, công ty giám định dấu vân tay, công ty phân tích ADN tư nhân, công ty giám định âm thanh/ hình ảnh,... Những đơn vị này hoạt động theo cơ chế thị trường, được thuê bởi bên có nhu cầu (như luật sư bào chữa trong vụ án hình sự, các bên đương sự trong vụ án dân sự,…) và kết quả phân tích từ phòng thí nghiệm tư nhân được Tòa án chấp nhận nếu phương pháp khoa học và quy trình thí nghiệm đạt chuẩn tương đương phòng thí nghiệm công.
Thứ hai, các viện nghiên cứu và trường đại học có trung tâm nghiên cứu pháp y hoặc phòng thí nghiệm có khả năng thực hiện giám định chuyên sâu. Trong một số trường hợp, Tòa án có thể trưng cầu chuyên gia học thuật trong những vụ việc phức tạp. Chẳng hạn, Trung tâm Khoa học Pháp y thuộc Đại học Công nghệ Sydney là đơn vị nghiên cứu pháp y có khả năng tiến hành các phân tích khoa học pháp y chuyên sâu và cung cấp dịch vụ tư vấn, giám định chuyên môn cho các cơ quan thực thi pháp luật[30].
Thứ ba, hội nghề nghiệp và tổ chức phi lợi nhuận. Các hội chuyên gia (như Hội kỹ sư, Hội kế toán,…) không trực tiếp làm dịch vụ giám định, nhưng có thể giới thiệu chuyên gia có uy tín khi Tòa án yêu cầu[31].
Nhìn chung, mô hình này tạo hệ thống các cơ quan giám định đa chủ thể, linh hoạt và cạnh tranh, vừa nâng cao chất lượng chuyên môn, vừa bảo đảm tính độc lập và khách quan của hoạt động GĐTP. Điều này góp phần nâng cao tính cạnh tranh, hạn chế nguy cơ độc quyền chuyên môn và tăng cường quyền tranh tụng.
2.2. Giám định viên tư pháp
GĐV tư pháp tại Úc không được “bổ nhiệm” theo danh sách cố định bởi cơ quan nhà nước, trừ một số vị trí công chức chuyên môn. Thay vào đó, bất cứ ai đáp ứng đủ tiêu chuẩn về chuyên môn đặc thù và kinh nghiệm đều có thể được mời làm GĐV trong một vụ án cụ thể.
Về tiêu chuẩn chuyên môn của GĐV tư pháp, pháp luật Úc không đặt ra danh mục cố định về bằng cấp hay chứng chỉ bắt buộc. Tuy nhiên, để được Tòa án chấp nhận, người được mời làm GĐV phải chứng minh mình có kiến thức chuyên môn chuyên sâu vượt ra ngoài hiểu biết thông thường của người bình thường, đồng thời, kiến thức đó phải có nguồn gốc từ đào tạo chính quy, nghiên cứu khoa học hoặc kinh nghiệm nghề nghiệp đáng kể[32]. Trong thực tiễn, nhiều lĩnh vực GĐTP tại Úc có hệ thống đào tạo và chứng nhận nghề nghiệp chuyên sâu do các tổ chức nghề nghiệp uy tín thiết lập, như Trường Đại học Pháp y Hoàng gia Australasia đối với bác sĩ pháp y[33], hay Trường Đại học Hoàng gia về Tâm thần học Australia và New Zealand đối với lĩnh vực tâm thần pháp y[34]. Các chứng chỉ chuyên môn này không phải là điều kiện pháp lý bắt buộc theo pháp luật về chứng cứ, nhưng trên thực tế có giá trị quan trọng nâng cao uy tín của GĐV và khả năng được Tòa án chấp nhận.
Về quy trình bổ nhiệm/công nhận GĐV tư pháp, ở Úc, ngoại trừ GĐV là công chức, không có thủ tục bổ nhiệm GĐV tư pháp theo thể thức hành chính. Thay vào đó, Tòa án quyết định công nhận một người có tư cách chuyên gia trong mỗi vụ án cụ thể, dựa trên hồ sơ chuyên môn của người đó. Vì vậy, một người có thể được coi là “GĐV tư pháp” trong một vụ án nhất định, nhưng không có nghĩa là họ có tư cách GĐV cố định trong mọi vụ án khác. Đặc biệt, các Tòa án ở Úc ban hành bộ quy tắc mà mọi GĐV phải tuân thủ[35].
Quy định về GĐV tư pháp tại Úc có ưu điểm nổi bật ở tính linh hoạt và đề cao năng lực thực chất thay vì thủ tục hành chính. Việc không giới hạn trong danh sách bổ nhiệm giúp mở rộng nguồn chuyên gia, tạo điều kiện tiếp cận tri thức đa dạng và chuyên sâu.
3. So sánh mô hình tổ chức giám định tư pháp và những khuyến nghị đối với Việt Nam
Nghiên cứu mô hình tổ chức giám định tư pháp tại Việt Nam và Úc cho thấy một số điểm tương đồng và khác biệt, từ đó, đề xuất kiến nghị hoàn thiện mô hình giám định tư pháp tại Việt Nam.
3.1. So sánh mô hình tổ chức giám định tư pháp tại Việt Nam và Úc
Dưới góc độ so sánh, cả Việt Nam và Úc đều tổ chức hệ thống GĐTP công theo các lĩnh vực chuyên môn chủ yếu như pháp y, pháp y tâm thần và kỹ thuật hình sự. Tuy nhiên, mô hình tổ chức GĐTP của Việt Nam và Úc có sự khác biệt xuất phát từ nguyên nhân Việt Nam là mô hình Nhà nước đơn nhất, còn Úc là quốc gia liên bang, cụ thể như sau:
Thứ nhất, về tổ chức GĐTP công lập. Tại Việt Nam, hệ thống tổ chức GĐTP công lập được thiết kế theo mô hình tập trung, gắn với các bộ, ngành và cơ quan tiến hành tố tụng, bảo đảm tính thống nhất và kiểm soát chặt chẽ của Nhà nước. Trong khi đó, tại Úc, hệ thống này được tổ chức theo hướng phân quyền, chủ yếu do các bang quản lý và vận hành, còn cấp Liên bang chỉ đóng vai trò điều phối và hỗ trợ. Cách tiếp cận của Việt Nam có ưu điểm về tính ổn định và kiểm soát chất lượng, nhưng hạn chế là thiếu linh hoạt và có nguy cơ ảnh hưởng đến tính độc lập của hoạt động giám định khi đặt trong cùng hệ thống với cơ quan tiến hành tố tụng. Ngược lại, mô hình của Úc giúp gắn hoạt động giám định với thực tiễn địa phương, nâng cao khả năng phản ứng nhanh và tính độc lập tương đối.
Thứ hai, về tổ chức GĐTP tư nhân/ngoài công lập. Việt Nam đã thừa nhận sự tham gia của khu vực ngoài công lập thông qua tổ chức giám định theo vụ việc và văn phòng GĐTP, tuy nhiên, vẫn đặt ra nhiều điều kiện chặt chẽ và giới hạn phạm vi hoạt động, đặc biệt, trong các lĩnh vực nhạy cảm. Trong khi tại Úc, khu vực tư nhân, học thuật và các tổ chức phi lợi nhuận tham gia rộng rãi vào hoạt động giám định mà không bị giới hạn bởi danh sách hay cơ chế cấp phép cứng nhắc mà chỉ cần đáp ứng tiêu chuẩn chứng cứ trước Tòa án. Mô hình này tạo điều kiện huy động nguồn lực xã hội, thúc đẩy cạnh tranh chuyên môn và nâng cao chất lượng dịch vụ giám định. So với Úc, mức độ xã hội hóa hoạt động GĐTP ở Việt Nam còn hạn chế, chưa khai thác đầy đủ nguồn nhân lực chất lượng cao trong các lĩnh vực mới, liên ngành hoặc công nghệ cao.
Thứ ba, về GĐV tư pháp và người GĐTP. Việt Nam áp dụng cơ chế bổ nhiệm GĐV tư pháp và công nhận người giám định theo vụ việc, với các tiêu chuẩn pháp lý tương đối cụ thể về bằng cấp, kinh nghiệm và quản lý danh sách. Ngược lại, tại Úc, không tồn tại cơ chế bổ nhiệm hành chính cố định; một cá nhân có được coi là GĐV hay không phụ thuộc vào sự chấp nhận của Tòa án trong từng vụ việc, dựa trên năng lực chuyên môn thực chất. Cách tiếp cận của Việt Nam giúp kiểm soát đầu vào và tạo sự ổn định, nhưng hạn chế ở tính cứng nhắc, có thể bỏ sót những chuyên gia giỏi ngoài hệ thống hoặc không kịp thời đáp ứng các yêu cầu chuyên môn mới. Đồng thời, việc phụ thuộc vào danh sách có thể làm giảm tính cạnh tranh và động lực nâng cao chất lượng chuyên môn.
3.2. Một số khuyến nghị đối với Việt Nam
Từ so sánh trên, Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của Úc để hoàn thiện mô hình tổ chức GĐTP như sau:
Thứ nhất, tăng cường tính độc lập, linh hoạt và minh bạch trong hoạt động GĐTP. Hiện, ở một số lĩnh vực, tổ chức giám định vẫn đặt trong hoặc trực thuộc cơ quan tiến hành tố tụng. Mô hình này có ưu điểm là tạo thuận lợi cho hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, nhưng có thể phát sinh nghi ngại về tính độc lập, khách quan và khả năng kiểm chứng của kết luận giám định. Do đó, cần nghiên cứu tách bạch chức năng giám định với chức năng điều tra trong những lĩnh vực phù hợp, đặc biệt, trong giải quyết vụ án hình sự, nơi cơ quan điều tra đồng thời có thể thực hiện hoạt động giám định. Sự tách bạch này không chỉ nhằm bảo đảm kết luận giám định được hình thành trên cơ sở chuyên môn độc lập, không bị chi phối bởi định hướng điều tra hay yêu cầu chứng minh tội phạm, mà còn góp phần tăng tính minh bạch, trách nhiệm giải trình và niềm tin của các chủ thể tố tụng đối với kết quả giám định.
Thứ hai, mở rộng phạm vi tham gia của khu vực ngoài nhà nước theo hướng có kiểm soát. Thực tiễn cho thấy, nhu cầu giám định trong các lĩnh vực mới như công nghệ số, dữ liệu điện tử, trí tuệ nhân tạo, tài chính, ngân hàng, môi trường, sở hữu trí tuệ hoặc công nghệ sinh học ngày càng gia tăng. Trong khi khu vực tư nhân, các cơ sở nghiên cứu, trường đại học và tổ chức nghề nghiệp độc lập thường có lợi thế về đội ngũ chuyên gia, cơ sở vật chất, trang thiết bị và khả năng tiếp cận công nghệ mới. Vì vậy, cần tiếp tục hoàn thiện các quy định về xã hội hóa hoạt động GĐTP theo hướng mở rộng có chọn lọc phạm vi tham gia của các tổ chức, cá nhân ngoài công lập; đồng thời, xây dựng cơ chế kiểm soát chất lượng, chuẩn hóa chuyên môn và giám sát hoạt động phù hợp. Cách tiếp cận này vừa góp phần huy động nguồn lực xã hội, vừa bảo đảm yêu cầu khách quan, chính xác và độ tin cậy của kết luận giám định.
Thứ ba, đơn giản hóa quy định công nhận người GĐTP theo vụ việc. Cơ chế bổ nhiệm GĐV tư pháp có vai trò quan trọng trong xác lập tư cách pháp lý, trách nhiệm và điều kiện hành nghề của người thực hiện giám định, góp phần kiểm soát chất lượng đội ngũ giám định viên. Tuy nhiên, thực tiễn bộc lộ hạn chế khi chưa tạo điều kiện thuận lợi để huy động kịp thời các chuyên gia đầu ngành trong những lĩnh vực chuyên sâu hoặc mới phát sinh. Do đó, cần nghiên cứu, hoàn thiện pháp luật về giám định tư pháp theo hướng đơn giản hóa thủ tục công nhận người GĐTP theo vụ việc; đồng thời, xây dựng hệ thống tiêu chuẩn đánh giá dựa trên năng lực chuyên môn thực chất, kinh nghiệm nghề nghiệp, kết quả đào tạo, chứng chỉ chuyên môn, công trình nghiên cứu, uy tín nghề nghiệp và khả năng giải trình phương pháp giám định.
Thứ tư, ban hành văn bản hướng dẫn thi hành Luật Giám định tư pháp năm 2025 theo hướng cụ thể hóa điều kiện, phạm vi và cơ chế quản lý đối với sự tham gia của các tổ chức giám định tư pháp ngoài công lập. Trong đó, cần xác định những trường hợp Văn phòng GĐTP được phép tham gia giám định ở các lĩnh vực như ADN, kỹ thuật số và điện tử, dấu vết đường vân hoặc xác định các trường hợp phải hạn chế hoặc chỉ cho phép tham gia dưới sự giám sát của cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm bảo đảm tính khả thi trong các quy định của Luật Giám định tư pháp năm 2025.
Bên cạnh đó, văn bản hướng dẫn thi hành cần xây dựng hệ thống tiêu chuẩn cụ thể đối với các văn phòng GĐTP khi tham gia các lĩnh vực mới hoặc có tính chuyên môn cao, gồm yêu cầu về tư cách pháp lý, năng lực chuyên môn của đội ngũ GĐV, cơ sở vật chất, phòng thí nghiệm và trang thiết bị kỹ thuật, hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn quốc gia hoặc quốc tế, quy trình bảo quản mẫu vật và dữ liệu, cũng như cơ chế bảo đảm tính độc lập, khách quan và phòng ngừa xung đột lợi ích. Đồng thời, cần bổ sung các điều kiện về bảo mật thông tin, an toàn dữ liệu, trách nhiệm nghề nghiệp, bảo hiểm trách nhiệm chuyên môn, lưu trữ hồ sơ giám định, cơ chế kiểm định định kỳ, công khai năng lực chuyên môn và chế tài xử lý nghiêm đối với các trường hợp vi phạm. Việc quy định đầy đủ và minh bạch các nội dung này tạo cơ sở pháp lý thống nhất để huy động hiệu quả nguồn lực xã hội tham gia hoạt động GĐTP, đồng thời, bảo đảm chất lượng chuyên môn, tính khách quan và độ tin cậy của kết luận giám định trong các vụ việc, vụ án.
Kết luận
Điểm khác biệt trong mô hình tổ chức GĐTP giữa Úc và Việt Nam chủ yếu bắt nguồn từ đặc trưng thể chế và cách thức tổ chức quyền lực nhà nước. Úc vận hành theo cơ chế phân quyền và tố tụng tranh tụng, Việt Nam tổ chức theo mô hình quản lý hành chính thống nhất, nhấn mạnh vai trò kiểm soát của Nhà nước nhằm bảo đảm tính ổn định và an toàn. Tuy nhiên, cả hai hệ thống đều hướng tới mục tiêu bảo đảm tính khách quan và độ tin cậy của kết luận giám định. Nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của Úc, Việt Nam cần tiếp tục hoàn thiện pháp luật theo hướng hài hòa giữa yêu cầu quản lý nhà nước với việc đẩy mạnh xã hội hóa có kiểm soát, mở rộng khả năng huy động nguồn lực chuyên gia trong xã hội và nâng cao tính độc lập, khách quan của hoạt động giám định. Đây cũng là nhu cầu cấp thiết nhằm đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp, nâng cao hiệu quả giải quyết các vụ việc trong bối cảnh khoa học, công nghệ ngày càng phát triển nhanh và các quan hệ pháp lý ngày càng phức tạp.
TS. Đỗ Thị Ánh Hồng & ThS. Võ Hiền Anh
Giảng viên Khoa Pháp luật Hình sự, Trường Đại học Luật Hà Nội
Ảnh: Internet
Bài viết trong khuôn khổ đề tài cấp Bộ năm 2025 “Mô hình tổ chức và hoạt động giám định tư pháp ở một số quốc gia trên thế giới và giá trị tham khảo cho Việt Nam” do PGS.TS Cao Thị Oanh chủ nhiệm.
[1]. Khoản 1, 2, 3 Điều 17 Luật Giám định tư pháp năm 2025.
[2]. Khoản 4 Điều 17 Luật Giám định tư pháp năm 2025.
[3]. Khoản 5 Luật Giám định tư pháp năm 2025.
[4]. Điều 3 Thông tư số 23/2026/TT-BCT ngày 29/4/2026 của Bộ Công Thương quy định về giám định tư pháp trong lĩnh vực chuyên môn thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ Công Thương.
[5]. Điều 3 Thông tư số 21/2026/TT-BNNMT ngày 24/4/2026 của Bộ Nông nghiệp và Môi trường quy định chi tiết một số điều của Luật Giám định tư pháp trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường.
[6]. Khoản 1 Điều 20 Luật Giám định tư pháp năm 2025.
[7]. Khoản 2 Điều 20 Luật Giám định tư pháp năm 2025.
[8]. Khoản 4, 6 Điều 20 Luật Giám định tư pháp năm 2025.
[9]. Khoản 8 Điều 20 Luật Giám định tư pháp năm 2025.
[10]. Khoản 3 Điều 20 Luật Giám định tư pháp năm 2025.
[11]. Điều 11 Luật Giám định tư pháp năm 2025.
[12]. Điều 10 Luật Giám định tư pháp năm 2025.
[13]. Điều 12 Luật Giám định tư pháp năm 2025.
[14]. Điều 13 Luật Giám định tư pháp năm 2025.
[15]. Khoản 3 Điều 14 Luật Giám định tư pháp năm 2025.
[16]. Khoản 4 Điều 14 Luật Giám định tư pháp năm 2025.
[17]. Điều 15 Luật Giám định tư pháp năm 2025.
[18]. Xem thêm: https://content.legislation.vic.gov.au/sites/default/files/2024-03/08-47aa027-authorised.pdf, truy cập ngày 04/5/2026.
[19]. Xem thêm: https://www.legislation.gov.au/F2011L01551/2014-01-03/text, truy cập ngày 04/5/2026.
[20]. Xem thêm: https://natlex.ilo.org/dyn/natlex2/natlex2/files/download/83833/AUS83833.pdf, truy cập ngày 04/5/2026.
[21]. Australian Criminal Intelligence Commission, Biometric and forensic services, https://www.acic.gov.au/biometric-and-forensic-services#:~:text=Biometric%20and%20forensic%20services%20,cross%20state%20and%20territory%20boundaries, truy cập ngày 04/5/2026.
[22]. Victorian Law Reform Commission, Forensic reports and delay, https://www.lawreform.vic.gov.au/publication/committals/10-forensic-reports-and-delay/#:~:text=10,649, truy cập ngày 04/5/2026.
[23]. Forensicare, Community Transition and Treatment Program (CTTP), https://www.forensicare.vic.gov.au/our-services/community-operations/statewide-services/, truy cập ngày 04/5/2026.
[24]. Justice Health and Forensic Mental Health Network (2025), Year in Review, https://www.nsw.gov.au/sites/default/files/noindex/2025-12/jhfmhn-year-in-review-2025.pdf, truy cập ngày 04/5/2026.
[25]. Victorian Law Reform Commission, Forensic reports and delay, https://www.lawreform.vic.gov.au/publication/committals/10-forensic-reports-and-delay/#:~:text=10,649, truy cập ngày 04/5/2026.
[26]. Tasmania Police, Forensic Science Service Tasmania (FSST), https://www.police.tas.gov.au/useful-links/forensic-science-service-tasmania-fsst/#:~:text=Forensic%20Science%20Service%20Tasmania%20,forensic%20chemistry%20services%20in%20Tasmania, truy cập ngày 04/5/2026.
[27]. Government of South Australia, Forensic Science SA, https://www.agd.sa.gov.au/law-and-justice/forensic-science-sa, truy cập ngày 04/5/2026.
[28]. Victorian Law Reform Commission, Forensic reports and delay, https://www.lawreform.vic.gov.au/publication/committals/10-forensic-reports-and-delay/#:~:text=10,649, truy cập ngày 04/5/2026.
[29]. NSW Audit Office, https://www.audit.nsw.gov.au/sites/default/files/documents/Policy%202.2.8%20Forensic%20Accounting%20Services%20-%20current%20version.PDF, truy cập ngày 04/5/2026.
[30]. Centre for Forensic Science, Forensic services, https://www.uts.edu.au/research/centres/centre-forensic-science/forensic-services, truy cập ngày 04/5/2026.
[31]. The Guardian (2024), Queensland to spend $56m on forensic examination service for sexual assault victims, https://www.theguardian.com/australia-news/article/2024/jun/11/queensland-forensic-examination-service-sexual-assault-victims#:~:text=Share, truy cập ngày 04/5/2026.
[32]. Điều 79 của Đạo luật về Chứng cứ năm 1995 của Liên bang Australia (Evidence Act 1995 (Cth)).
[33]. Royal College of Pathologists of Australasia (2025), RCPA Trainee Handbook - Forensic Pathology, https://www.rcpa.edu.au/getattachment/9059b775-5e5b-4181-90e1-b68c8ee16a11/Forensic-Pathology-Trainee-Handbook-2025, truy cập ngày 04/5/2026.
[34]. The Royal Australian and New Zealand College of Psychiatrists, Certificate of Advanced Training in Forensic Psychiatry, https://www.ranzcp.org/training-exams-and-assessments/advanced-training/forensic-psychiatry, truy cập ngày 04/5/2026.
[35]. Federal Court of Australia, Expert Evidence & Expert Witnesses, https://www.fedcourt.gov.au/law-and-practice/guides/expert-evidence, truy cập ngày 04/5/2026.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Australian Criminal Intelligence Commission, Biometric and forensic services, https://www.acic.gov.au/biometric-and-forensic-services#:~:text=Biometric%20and%20forensic%20services%20,cross%20state%20and%20territory%20boundaries, truy cập ngày 04/5/2026.
2. Centre for Forensic Science, Forensic services, https://www.uts.edu.au/research/centres/centre-forensic-science/forensic-services, truy cập ngày 04/5/2026.
3. Federal Court of Australia, Expert Evidence & Expert Witnesses, https://www.fedcourt.gov.au/law-and-practice/guides/expert-evidence, truy cập ngày 04/5/2026.
4. Forensicare, Community Transition and Treatment Program (CTTP), https://www.forensicare.vic.gov.au/our-services/community-operations/statewide-services/, truy cập ngày 04/5/2026.
5. Government of South Australia, Forensic Science SA, https://www.agd.sa.gov.au/law-and-justice/forensic-science-sa, truy cập ngày 04/5/2026.
6. Justice Health and Forensic Mental Health Network (2025), Year in Review, https://www.nsw.gov.au/sites/default/files/noindex/2025-12/jhfmhn-year-in-review-2025.pdf, truy cập ngày 04/5/2026.
7. NSW Audit Office, https://www.audit.nsw.gov.au/sites/default/files/documents/Policy%202.2.8%20Forensic%20Accounting%20Services%20 -%20current%20version.PDF, truy cập ngày 04/5/2026.
8. Royal College of Pathologists of Australasia (2025), RCPA Trainee Handbook - Forensic Pathology, https://www.rcpa.edu.au/getattachment/9059b775-5e5b-4181-90e1-b68c8ee16a11/Forensic-Pathology-Trainee-Handbook-2025, truy cập ngày 04/5/2026.
9. Tasmania Police, Forensic Science Service Tasmania (FSST), https://www.police.tas.gov.au/useful-links/forensic-science-service-tasmania-fsst/#:~:text=Forensic%20Science%20Service%20Tasmania%20,forensic%20chemistry%20 services%20in%20Tasmania, truy cập ngày 04/5/2026.
10. The Guardian (2024), Queensland to spend $56m on forensic examination service for sexual assault victims, https://www.theguardian.com/australia-news/article/2024/jun/11/queensland-forensic-examination-service-sexual-assault-victims#:~:text=Share, truy cập ngày 04/5/2026.
11. The Royal Australian and New Zealand College of Psychiatrists, Certificate of Advanced Training in Forensic Psychiatry, https://www.ranzcp.org/training-exams-and-assessments/advanced-training/forensic-psychiatry, truy cập ngày 04/5/2026.
12. Victorian Law Reform Commission, Forensic reports and delay, https://www.lawreform.vic.gov.au/publication/committals/10-forensic-reports-and-delay/#:~:text=10,649, truy cập ngày 04/5/2026.
(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 2 (455) - tháng 6/2026)