Từ khóa: Viện kiểm sát nhân dân; tinh, gọn bộ máy; cải cách tư pháp; chuyển đổi số; Cà Mau.
THE THREE-LEVEL PEOPLE'S PROCURACY MODEL BASED ON PRACTICE IN CA MAU PROVINCE: ISSUES RAISED AND SOLUTIONS FOR IMPROVEMENT
Abstract: In accordance with the Party's policy on streamlining and optimizing the organizational structure of the political system, the People's Procuracy sector has implemented a three-level organizational model aimed at reducing intermediate tiers, enhancing decentralization and the delegation of authority, and improving operational efficiency. This study analyzes the results achieved-covering organizational structure, management, administration, digital transformation, and the performance of functions regarding the exercise of the right to prosecute and the supervision of judicial activities-with a particular focus on practical experiences in Ca Mau province after more than a year of implementation. It also identifies challenges related to institutional frameworks, human resources, facilities, and information technology infrastructure. Based on this analysis, the study proposes solutions to improve institutional frameworks and enhance the operational efficiency of the People's Procuracy model.
Keywords: People's Procuracy; organizational streamlining; judicial reform; digital transformation; Ca Mau
Đặt vấn đề
Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam và đẩy mạnh cải cách tư pháp, việc chuyển đổi từ mô hình VKSND bốn cấp sang VKSND ba cấp là bước đổi mới quan trọng nhằm tinh, gọn tổ chức bộ máy, nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp. Quá trình vận hành mô hình mới bước đầu ghi nhận những kết quả tích cực, đồng thời, đặt ra yêu cầu tiếp tục hoàn thiện về phân cấp, phân quyền, quản lý, điều hành, nguồn nhân lực, cơ sở vật chất và chuyển đổi số. Để đánh giá hiệu quả vận hành mô hình này trên phạm vi cả nước, nghiên cứu lựa chọn tỉnh Cà Mau làm địa bàn nghiên cứu. Với đặc thù về tổ chức bộ máy, địa bàn quản lý và điều kiện hoạt động sau sắp xếp, thực tiễn tại tỉnh Cà Mau cho thấy tương đối rõ những kết quả đạt được cũng như một số vấn đề pháp lý đặt ra trong quá trình triển khai mô hình VKSND ba cấp. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả vận hành mô hình VKSND ba cấp ở Việt Nam.
1. Một số vấn đề về lý luận, pháp lý và kinh nghiệm quốc tế về tổ chức Viện kiểm sát nhân dân ba cấp
Tổ chức hệ thống VKSND theo mô hình ba cấp là kết quả của quá trình đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước và cải cách tư pháp ở Việt Nam trên nền tảng các quan điểm, chủ trương của Đảng về tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của VKSND[1]. Mặt khác, phản ánh yêu cầu hoàn thiện mô hình tổ chức VKSND phù hợp với nguyên tắc tổ chức quyền lực nhà nước, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp[2] theo hướng tinh gọn hoạt động hiệu lực, hiệu quả[3].
VKSND là cơ quan thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp[4], được tổ chức thành hệ thống thống nhất, do Viện trưởng VKSND tối cao lãnh đạo[5]. Khác với cơ quan hành chính nhà nước, việc tổ chức VKSND không hoàn toàn phụ thuộc vào đơn vị hành chính lãnh thổ, mà phải bảo đảm thực hiện thống nhất chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp trong phạm vi cả nước. Vì vậy, việc xác định mô hình tổ chức của VKSND trước hết phải xuất phát từ yêu cầu thực hiện chức năng, nhiệm vụ của ngành Kiểm sát nhân dân, bảo đảm phù hợp với tổ chức của Tòa án nhân dân[6]. Việc chuyển sang mô hình ba cấp không làm thay đổi vị trí pháp lý hay chức năng hiến định của VKSND, mà chủ yếu điều chỉnh phương thức tổ chức, phân định lại thẩm quyền giữa các cấp kiểm sát theo hướng giảm tầng nấc trung gian, tăng cường tính chủ động của đơn vị trực tiếp thực hiện chức năng, nhiệm vụ[7], nhưng vẫn bảo đảm sự lãnh đạo, chỉ đạo thống nhất trong toàn ngành. Như vậy, có thể khái quát ba nguyên tắc cơ bản trong tổ chức hệ thống cơ quan công tố hoặc Viện kiểm sát như sau:
Thứ nhất, bảo đảm tính thống nhất trong tổ chức và chỉ đạo nghiệp vụ nhằm duy trì sự thống nhất trong thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp.
Thứ hai, phân định rõ chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền giữa các cấp để tránh chồng chéo, trùng lặp hoặc bỏ sót trách nhiệm.
Thứ ba, bảo đảm việc tổ chức cơ quan công tố phù hợp với phạm vi hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng, tạo điều kiện thuận lợi cho thực hiện chức năng và bảo đảm quyền tiếp cận công lý của người dân.
Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, việc tổ chức hệ thống Viện kiểm sát hoặc Viện công tố không hoàn toàn phụ thuộc vào mô hình tổ chức hành chính nhà nước. Một số quốc gia như Trung Quốc và Hungary tổ chức hệ thống Viện kiểm sát gắn với đơn vị hành chính. Trong khi Nga, Hàn Quốc và Nhật Bản tổ chức hệ thống Viện công tố theo khu vực hoặc địa hạt tư pháp, không hoàn toàn tương ứng với các đơn vị hành chính lãnh thổ. Đối với mô hình không gắn với cấp hành chính, cơ quan kiểm sát hoặc công tố thường được tổ chức theo hướng tập trung đầu mối nhưng vẫn duy trì các phân viện, chi nhánh hoặc văn phòng đại diện tại các địa bàn phù hợp nhằm bảo đảm hiệu quả thực hiện chức năng, nhiệm vụ, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân tiếp cận các dịch vụ pháp lý và tư pháp[8]. Theo đó, việc lựa chọn mô hình tổ chức Viện kiểm sát hoặc Viện công tố không phụ thuộc hoàn toàn vào số lượng cấp tổ chức, mà phải bảo đảm phù hợp với điều kiện tổ chức bộ máy nhà nước, cơ chế phân công thẩm quyền và yêu cầu thực hiện chức năng công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp của từng quốc gia.
Do đó, việc đánh giá mô hình VKSND ba cấp cần được đặt trong tổng thể yêu cầu đổi mới tổ chức và nâng cao chất lượng hoạt động của ngành Kiểm sát nhân dân, không chỉ dựa trên tiêu chí tinh, gọn bộ máy, mà còn ở khả năng bảo đảm thực hiện thống nhất chức năng thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp và đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp. Mặc dù mới được triển khai, nhưng mô hình VKSND ba cấp được kế thừa từ các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của VKSND theo các nguyên lý, quy định của Hiến pháp, pháp luật về tổ chức cơ quan công tố trong Nhà nước pháp quyền, yêu cầu cải cách tư pháp và kinh nghiệm quốc tế. Trên cơ sở đó, việc vận hành mô hình tổ chức đòi hỏi phải bảo đảm nguyên tắc tập trung thống nhất, tăng cường phân cấp, phân quyền gắn với trách nhiệm, phân định rõ thẩm quyền giữa các cấp kiểm sát và bảo đảm các điều kiện về nhân lực, cơ sở vật chất, chuyển đổi số và cơ chế quản lý.
Như vậy, việc chuyển đổi sang mô hình VKSND ba cấp không chỉ làm thay đổi cơ cấu tổ chức, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới phương thức quản trị và tổ chức thực hiện chức năng của ngành Kiểm sát nhân dân. Đây là những nội dung cần được xem xét trên cơ sở các quy định pháp luật hiện hành và thực tiễn vận hành mô hình mới.
2. Quy định pháp luật và thực tiễn vận hành mô hình Viện kiểm sát nhân dân ba cấp
Trên cơ sở các quy định pháp luật về tổ chức và hoạt động của VKSND ba cấp, nghiên cứu phân tích việc phân định mô hình tổ chức, thẩm quyền giữa các cấp kiểm sát; đồng thời, đánh giá thực tiễn triển khai, chỉ ra những khó khăn, vướng mắc và nguyên nhân phát sinh trong quá trình vận hành mô hình mới trên phạm vi cả nước và tại tỉnh Cà Mau.
2.1. Quy định pháp luật về tổ chức và thẩm quyền của Viện kiểm sát nhân dân ba cấp
Hệ thống pháp luật hiện hành đã tạo cơ sở pháp lý tương đối đồng bộ cho việc chuyển đổi sang mô hình VKSND ba cấp, gồm VKSND tối cao, VKSND cấp tỉnh và VKSND khu vực. Hiến pháp năm 2013 và Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) tiếp tục khẳng định VKSND là cơ quan thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp, được tổ chức theo nguyên tắc tập trung, thống nhất lãnh đạo; đồng thời, tạo cơ sở cho việc phân định lại chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền giữa các cấp kiểm sát.
Để thể chế hóa mô hình tổ chức mới, Nghị quyết số 84/2025/UBTVQH15 ngày 27/6/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định việc thành lập VKSND cấp tỉnh, VKSND khu vực và phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ của VKSND khu vực. Theo đó, VKSND khu vực được tổ chức theo địa hạt tư pháp[9], không đơn thuần gắn với đơn vị hành chính cấp huyện, qua đó, góp phần tinh gọn đầu mối, tập trung và sử dụng hiệu quả hơn nguồn lực của ngành Kiểm sát nhân dân.
Về thẩm quyền nghiệp vụ, Thông tư số 02/2025/TT-VKSTC[10] và Thông tư số 03/2025/TT-VKSTC[11] đã cụ thể hóa thẩm quyền thực hành quyền công tố, kiểm sát giải quyết vụ án hình sự và cơ chế tiếp nhận, chuyển giao nhiệm vụ giữa các cấp. Theo hướng này, VKSND tối cao thực hiện quản lý, chỉ đạo và bảo đảm sự thống nhất trong toàn ngành; VKSND cấp tỉnh tăng cường vai trò quản lý, chỉ đạo, hướng dẫn và kiểm tra nghiệp vụ; VKSND khu vực được giao thẩm quyền trực tiếp tố tụng, trở thành cấp chủ lực trong thực hiện chức năng công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp ở cơ sở.
Nhìn chung, các quy định mới đã tạo khung pháp luật cho việc phân cấp, phân quyền rõ hơn giữa các cấp kiểm sát, đồng thời, đặt ra yêu cầu tiếp tục hoàn thiện cơ chế phối hợp, kiểm tra, hướng dẫn nghiệp vụ và xử lý các vụ việc liên quan đến nhiều địa bàn trong quá trình vận hành mô hình mới.
2.2. Thực tiễn vận hành mô hình Viện kiểm sát nhân dân ba cấp
Sau hơn một năm vận hành, mô hình VKSND ba cấp bước đầu ghi nhận những chuyển biến tích cực trong tổ chức và hoạt động, thể hiện trên phạm vi toàn quốc và qua thực tiễn tại tỉnh Cà Mau.
2.2.1. Trên phạm vi toàn quốc
Sau 01 năm triển khai, mô hình VKSND ba cấp bước đầu được vận hành ổn định trên phạm vi toàn quốc. Việc chuyển đổi tổ chức bộ máy được thực hiện đúng tiến độ, không làm gián đoạn hoạt động của ngành và không để xảy ra khoảng trống pháp lý trong giai đoạn chuyển tiếp. Việc giảm một cấp trung gian góp phần rút ngắn quy trình chỉ đạo, điều hành, tăng cường phân cấp, phân quyền cho VKSND khu vực và nâng cao vai trò quản lý, hướng dẫn nghiệp vụ của VKSND cấp tỉnh.
Bên cạnh đó, việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, tổ chức hội nghị trực tuyến và xử lý văn bản điện tử góp phần nâng cao hiệu quả quản trị, điều hành trong điều kiện địa bàn quản lý được mở rộng. Mô hình mới cũng điều chỉnh chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền giữa các cấp kiểm sát theo hướng tăng tính chủ động và trách nhiệm trong thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp. Theo đó, VKSND cấp tỉnh tăng cường vai trò quản lý, hướng dẫn, kiểm tra nghiệp vụ; VKSND khu vực được giao phạm vi nhiệm vụ và thẩm quyền rộng hơn so với VKSND cấp huyện trước đây. Những thay đổi này góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống VKSND, đồng thời, đặt ra yêu cầu cao hơn về năng lực chuyên môn, quản trị và ứng dụng công nghệ thông tin của đội ngũ Kiểm sát viên[12].
2.2.2. Tại tỉnh Cà Mau
Tại VKSND tỉnh Cà Mau, hoạt động của VKSND hai cấp từng bước ổn định, bảo đảm thông suốt, không để xảy ra khoảng trống trong thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp. Kết quả đạt được được thể hiện trên các phương diện sau:
Thứ nhất, tinh gọn tổ chức bộ máy và nâng cao hiệu quả quản trị nhân sự. Sau khi sắp xếp, hệ thống VKSND tỉnh Cà Mau giảm từ 14 đơn vị cấp phòng và 16 VKSND cấp huyện, tổ chức lại thành 07 đơn vị cấp phòng VKSND tỉnh và 09 VKSND khu vực[13]. VKSND tỉnh thực hiện tinh giản biên chế đối với 18 trường hợp theo Nghị định số 178/2024/NĐ-CP[14], bảo đảm công khai, đúng quy định và tạo được sự đồng thuận trong nội bộ. Đến nay, chưa phát sinh trường hợp công chức nghỉ việc hoặc xin chuyển công tác do tác động của việc sắp xếp[15]. Công tác bố trí, sử dụng và đánh giá cán bộ tiếp tục được đổi mới theo hướng gắn với vị trí việc làm và nguyên tắc “6 rõ: rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ tiến độ, rõ sản phẩm và rõ thẩm quyền”, qua đó, nâng cao trách nhiệm trong thực hiện nhiệm vụ.
Thứ hai, đổi mới phương thức quản trị, điều hành. VKSND tỉnh đã rà soát, điều chỉnh các quy trình, quy chế công tác phù hợp với mô hình tổ chức mới; tăng cường phân cấp, phân quyền gắn với kiểm tra, giám sát. Đồng thời, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, duy trì giao ban và hướng dẫn nghiệp vụ bằng hình thức trực tuyến, góp phần nâng cao hiệu quả chỉ đạo, điều hành trong điều kiện địa bàn quản lý được mở rộng[16].
Thứ ba, đẩy mạnh cải cách hành chính và chuyển đổi số. Hệ thống quản lý văn bản điện tử, chữ ký số, thư điện tử công vụ và các phần mềm quản lý nghiệp vụ được sử dụng thường xuyên; việc trao đổi hồ sơ điện tử, tổ chức hội nghị trực tuyến và số hóa hồ sơ, tài liệu được triển khai theo lộ trình, tạo nền tảng cho xây dựng cơ sở dữ liệu điện tử thống nhất trong toàn ngành[17].
Thứ tư, bảo đảm ổn định hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ và phục vụ Nhân dân. Trong điều kiện đồng thời thực hiện nhiệm vụ về tổ chức bộ máy, nhân sự và cơ sở vật chất, hoạt động chuyên môn vẫn được duy trì liên tục. Từ ngày 01/3/2025 đến ngày 31/5/2026, VKSND hai cấp tỉnh Cà Mau đã tiếp 261 lượt công dân, tiếp nhận 1.790 đơn thư và giải quyết 1.780 đơn, không phát sinh đơn thư tồn đọng kéo dài hoặc các vụ việc phức tạp liên quan đến hoạt động tư pháp[18].
Kết quả trên cho thấy, mô hình VKSND ba cấp không chỉ bảo đảm yêu cầu tinh, gọn tổ chức bộ máy, mà còn góp phần nâng cao chất lượng phục vụ Nhân dân, tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực tư pháp và củng cố niềm tin của người dân đối với hoạt động của ngành Kiểm sát nhân dân.
2.3. Những vướng mắc về pháp luật và cơ chế vận hành mô hình Viện kiểm sát nhân dân ba cấp
Bên cạnh những kết quả đạt được, quá trình vận hành mô hình VKSND ba cấp còn bộc lộ một số vướng mắc, chủ yếu do quy định pháp luật tố tụng hiện hành chưa đồng bộ với mô hình tổ chức mới.
Thứ nhất, quy định về thẩm quyền tố tụng chưa tương thích với mô hình VKSND khu vực. Mô hình VKSND khu vực được tổ chức theo lãnh thổ[19], trong khi một số quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung các năm 2021, 2024, 2025 (Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015) vẫn xác định thẩm quyền theo địa giới hành chính cấp huyện. Sự chưa đồng bộ này gây khó khăn trong xác định thẩm quyền kiểm sát và cơ chế phối hợp giữa Cơ quan điều tra, VKSND và Tòa án khi địa bàn quản lý của VKSND khu vực không hoàn toàn tương ứng với phạm vi quản lý hành chính. Đối với các vụ án xảy ra tại khu vực giáp ranh hoặc có nhiều địa điểm thực hiện hành vi phạm tội, việc xác định cơ quan có thẩm quyền giải quyết còn phải thực hiện thông qua cơ chế phối hợp nội bộ, làm ảnh hưởng đến tiến độ giải quyết vụ án[20].
Thứ hai, một số quy định về áp dụng biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế chưa được điều chỉnh tương thích với cơ chế phân công, phân cấp trong mô hình mới. Chẳng hạn, khoản 5 Điều 123 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định người bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú khi tạm thời đi khỏi nơi cư trú phải được cơ quan đã ra lệnh cho phép. Tuy nhiên, theo Thông tư liên tịch số 01/2026/TTLTVKSNDTC-BCA-BQP[21], ở giai đoạn truy tố, VKSND tiếp tục sử dụng lệnh do Cơ quan điều tra ban hành. Trong thực tiễn, khi Cơ quan điều tra kết thúc điều tra và chuyển hồ sơ sang VKSND khu vực, việc xác định chủ thể có thẩm quyền giải quyết đề nghị của bị can hoặc hướng dẫn chính quyền cấp xã thực hiện quản lý còn có cách hiểu khác nhau. Tương tự, đối với biện pháp kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản theo Điều 128 và Điều 129 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, việc xác định phạm vi tài sản tương ứng để áp dụng biện pháp cưỡng chế trong giai đoạn đầu của vụ án cũng gặp khó khăn khi thông tin về thiệt hại, tài sản hoặc nghĩa vụ bồi thường chưa được xác định đầy đủ.
Thứ ba, hệ thống văn bản hướng dẫn tổ chức và hoạt động của mô hình VKSND ba cấp cần tiếp tục được rà soát, hoàn thiện. Mặc dù Thông tư số 02/2025/TT-VKSTC và Thông tư số 03/2025/TT-VKSTC đã tạo cơ sở pháp lý cho việc triển khai mô hình mới, nhưng do thời gian áp dụng ngắn, một số nội dung cần tiếp tục được tổng kết, đánh giá và điều chỉnh phù hợp với thực tiễn. Việc sửa đổi, bổ sung các văn bản hướng dẫn và các quy định có liên quan của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 sẽ góp phần bảo đảm sự thống nhất, đồng bộ trong tổ chức và hoạt động của hệ thống VKSND ba cấp.
Nhìn chung, những vướng mắc trên chủ yếu xuất phát từ sự chưa đồng bộ giữa quy định về tổ chức bộ máy VKSND theo mô hình ba cấp với pháp luật tố tụng và các văn bản hướng dẫn thi hành.
2.4. Những khó khăn về tổ chức thực hiện và điều kiện bảo đảm trong quá trình vận hành mô hình Viện kiểm sát nhân dân ba cấp tại tỉnh Cà Mau
Bên cạnh những vướng mắc về thể chế, thực tiễn vận hành mô hình VKSND ba cấp tại tỉnh Cà Mau còn cho thấy một số khó khăn trong tổ chức thực hiện và các điều kiện bảo đảm. Đặc điểm địa bàn rộng, địa hình sông nước và khoảng cách giữa các VKSND khu vực tương đối lớn đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc bố trí nhân lực, bảo đảm cơ sở vật chất, đẩy mạnh chuyển đổi số và phân bổ nguồn lực tài chính.
Thứ nhất, cơ chế quản lý, phân cấp, phân quyền và phối hợp trong tổ chức thực hiện cần tiếp tục hoàn thiện. Quá trình vận hành mô hình mới đòi hỏi phải rà soát, điều chỉnh các quy định nội bộ, quy chế phối hợp và quy trình nghiệp vụ để phù hợp với cơ cấu tổ chức và phạm vi thẩm quyền mới. Một số nhiệm vụ triển khai còn phụ thuộc vào việc sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành các văn bản hướng dẫn của cơ quan có thẩm quyền. Bên cạnh đó, việc phân cấp, phân quyền giữa VKSND cấp tỉnh và VKSND khu vực ở một số lĩnh vực chưa thực sự đồng bộ, đặt ra yêu cầu tiếp tục xác định rõ trách nhiệm, thẩm quyền của từng cấp, gắn với cơ chế kiểm tra, giám sát và hướng dẫn nghiệp vụ.
Thứ hai, áp lực về nguồn nhân lực gia tăng trong điều kiện tinh gọn bộ máy. Sau sắp xếp, phạm vi quản lý của nhiều đơn vị được mở rộng, trong khi biên chế giảm, dẫn đến một số công chức phải kiêm nhiệm nhiều nhiệm vụ. Bên cạnh đó, khoảng cách di chuyển từ chỗ ở đến cơ quan công tác xa sau khi sắp xếp tổ chức bộ máy, có trường hợp phải di chuyển từ 20 - 70 km mỗi ngày, đặt ra những khó khăn nhất định đối với điều kiện sinh hoạt và công tác của một bộ phận công chức, người lao động.
Thứ ba, cơ sở vật chất và các điều kiện bảo đảm hoạt động chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu. Một số VKSND khu vực vẫn sử dụng trụ sở tạm thời hoặc cơ sở được tiếp nhận sau sắp xếp đơn vị hành chính; diện tích làm việc, kho lưu trữ và một số điều kiện phục vụ công tác chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu hoạt động ổn định, lâu dài[22].
Thứ tư, chuyển đổi số và hiện đại hóa hoạt động kiểm sát còn gặp một số khó khăn về hạ tầng và nguồn lực. Mặc dù ngành Kiểm sát nhân dân xác định chuyển đổi số là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, nhưng hạ tầng công nghệ thông tin tại một số đơn vị chưa được đầu tư đồng bộ. Đồng thời, hệ thống mạng, máy chủ, máy tính và thiết bị chuyên dùng còn thiếu so với yêu cầu triển khai các nền tảng số dùng chung của ngành. Đặc biệt, trang thiết bị phục vụ nền tảng quản lý án hình sự chưa được trang bị đầy đủ, ảnh hưởng đến tiến độ triển khai một số ứng dụng nghiệp vụ trên môi trường số. Công tác số hóa hồ sơ, tài liệu lưu trữ chưa đáp ứng yêu cầu do khối lượng hồ sơ lớn, trong khi nguồn nhân lực, trang thiết bị và kinh phí đầu tư còn hạn chế.
Thứ năm, nguồn lực tài chính chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu vận hành mô hình mới. Việc triển khai mô hình VKSND ba cấp làm phát sinh thêm yêu cầu về quản lý, điều hành, chuyển đổi số, đầu tư cơ sở vật chất và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực. Trong khi đó, kinh phí chi thường xuyên còn hạn chế, đồng thời, yêu cầu tiết kiệm ngân sách nhà nước ngày càng cao. Bên cạnh đó, chi phí đi lại, sinh hoạt, nhiên liệu và các chi phí phục vụ công tác gia tăng tạo thêm áp lực đối với điều kiện làm việc và đời sống của công chức, người lao động.
Những khó khăn trên cho thấy, hiệu quả vận hành mô hình VKSND ba cấp không chỉ phụ thuộc vào việc hoàn thiện các quy định của pháp luật tố tụng và văn bản hướng dẫn thi hành, mà còn đòi hỏi bảo đảm đồng bộ các điều kiện về tổ chức bộ máy, nguồn nhân lực, cơ sở vật chất, hạ tầng công nghệ thông tin và nguồn lực tài chính.
3. Giải pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu quả vận hành mô hình Viện kiểm sát nhân dân ba cấp
Từ những kết quả đạt được, những vướng mắc về thể chế và khó khăn phát sinh trong quá trình vận hành mô hình VKSND ba cấp trên phạm vi cả nước và tại tỉnh Cà Mau, việc tiếp tục hoàn thiện mô hình cần được thực hiện đồng bộ trên cả phương diện hoàn thiện pháp luật và bảo đảm các điều kiện tổ chức thực hiện. Theo đó, các giải pháp cần tập trung vào hai nhóm chủ yếu sau:
3.1. Hoàn thiện pháp luật và cơ chế vận hành mô hình Viện kiểm sát nhân dân ba cấp
Từ những bất cập đã phân tích cho thấy, các vướng mắc trong quá trình vận hành mô hình VKSND ba cấp chủ yếu xuất phát từ sự chưa đồng bộ giữa mô hình tổ chức mới với một số quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và hệ thống văn bản hướng dẫn thi hành. Vì vậy, việc hoàn thiện pháp luật cần tập trung giải quyết trực tiếp các nhóm vướng mắc đã được nhận diện, bảo đảm sự thống nhất giữa tổ chức bộ máy và cơ chế tố tụng, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ cho việc thực hiện chức năng thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp.
Thứ nhất, hoàn thiện các quy định về thẩm quyền của VKSND khu vực phù hợp với mô hình tổ chức mới. Cần rà soát, sửa đổi, bổ sung các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 theo hướng thống nhất với mô hình VKSND ba cấp, nhất là các quy định về xác định thẩm quyền theo lãnh thổ. Đồng thời, cần hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng trong trường hợp phạm vi quản lý của VKSND khu vực không tương ứng với đơn vị hành chính; quy định rõ phương thức xử lý đối với các vụ án liên quan đến nhiều địa bàn hoặc phát sinh vướng mắc trong xác định thẩm quyền giữa các VKSND khu vực.
Thứ hai, hoàn thiện quy định về thẩm quyền áp dụng và thực hiện các biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế trong từng giai đoạn tố tụng. Đối với những vấn đề đã phát sinh trong thực tiễn, cần rà soát, sửa đổi, bổ sung các quy định có liên quan theo hướng xác định rõ chủ thể có thẩm quyền trong từng giai đoạn tố tụng, bảo đảm thống nhất giữa Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và các văn bản hướng dẫn thi hành. Đối với các quy định về kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản và các biện pháp cưỡng chế khác, cần tiếp tục rà soát để bảo đảm tính thống nhất, rõ ràng và khả thi trong áp dụng, nhất là trong điều kiện phạm vi thẩm quyền của VKSND khu vực được mở rộng.
Thứ ba, tiếp tục rà soát, hoàn thiện các văn bản hướng dẫn về tổ chức và hoạt động của VKSND ba cấp. Trên cơ sở tổng kết thực tiễn vận hành mô hình mới, cần rà soát, sửa đổi, bổ sung các văn bản hướng dẫn của ngành Kiểm sát nhân dân, trong đó có Thông tư số 02/2025/TT-VKSTC và Thông tư số 03/2025/TT-VKSTC, theo hướng làm rõ hơn việc phân định thẩm quyền, cơ chế phối hợp, chuyển giao hồ sơ, giải quyết vụ việc liên địa bàn và xử lý các tình huống phát sinh trong quá trình vận hành mô hình VKSND ba cấp. Đối với những vấn đề chưa có quy định hoặc quy định chưa rõ, cần kịp thời ban hành hướng dẫn nghiệp vụ phù hợp, bảo đảm thống nhất trong tổ chức thực hiện trong toàn ngành.
3.2. Nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện và bảo đảm điều kiện vận hành mô hình Viện kiểm sát nhân dân ba cấp
Bên cạnh việc hoàn thiện thể chế, hiệu quả vận hành mô hình VKSND ba cấp phụ thuộc trực tiếp vào chất lượng tổ chức thực hiện và các điều kiện bảo đảm hoạt động của hệ thống VKSND. Do đó, cần triển khai đồng bộ các giải pháp về tổ chức bộ máy, nguồn nhân lực, cơ sở vật chất, chuyển đổi số và nguồn lực tài chính, bảo đảm mô hình tổ chức mới vận hành ổn định, hiệu quả và đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp trong giai đoạn mới.
Thứ nhất, tiếp tục hoàn thiện cơ chế quản lý, phân cấp, phân quyền và nâng cao hiệu quả chỉ đạo, điều hành trong toàn ngành. Trên cơ sở tổng kết thực tiễn vận hành mô hình mới, cần rà soát, điều chỉnh các quy chế quản lý, quy trình nghiệp vụ và cơ chế phối hợp giữa VKSND cấp tỉnh với VKSND khu vực theo hướng phân định rõ trách nhiệm, thẩm quyền của từng cấp; tăng cường tính chủ động của đơn vị trực tiếp thực hiện nhiệm vụ đi đôi với cơ chế kiểm tra, giám sát và hướng dẫn nghiệp vụ. Đồng thời, cần nâng cao năng lực tổ chức thực hiện của đội ngũ công chức lãnh đạo, quản lý; tăng cường hướng dẫn, kiểm tra và kịp thời tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc phát sinh tại VKSND khu vực, bảo đảm việc phân cấp, phân quyền được thực hiện thống nhất và hiệu quả.
Thứ hai, nâng cao chất lượng đội ngũ Kiểm sát viên, công chức và người lao động đáp ứng yêu cầu của mô hình VKSND ba cấp. Cần rà soát, kiện toàn đội ngũ công chức theo vị trí việc làm, bố trí nhân lực phù hợp với phạm vi địa bàn và khối lượng công việc của từng đơn vị; đồng thời, tăng cường đào tạo, bồi dưỡng chuyên sâu về kỹ năng thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp, kỹ năng quản trị, ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số cho đội ngũ công chức ngành kiểm sát nhân dân.
Thứ ba, tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, bảo đảm điều kiện hoạt động của các VKSND khu vực. Cần ưu tiên bố trí nguồn lực để đầu tư, cải tạo, nâng cấp trụ sở làm việc, kho lưu trữ, phòng làm việc chuyên môn, phòng họp trực tuyến và các công trình phụ trợ phù hợp với yêu cầu của mô hình tổ chức mới; từng bước khắc phục tình trạng sử dụng trụ sở tạm thời hoặc cơ sở vật chất chưa đáp ứng yêu cầu hoạt động ổn định, lâu dài. Việc đầu tư cần được thực hiện theo thứ tự ưu tiên, phù hợp với quy mô, phạm vi địa bàn và khối lượng công việc của từng VKSND khu vực, bảo đảm sử dụng hiệu quả nguồn lực đầu tư.
Thứ tư, đẩy mạnh chuyển đổi số và hiện đại hóa hoạt động của ngành Kiểm sát nhân dân. Cần tiếp tục đầu tư đồng bộ hạ tầng công nghệ thông tin, hệ thống mạng, máy chủ, thiết bị chuyên dùng và các nền tảng quản lý nghiệp vụ; ưu tiên hoàn thiện nền tảng quản lý án và các phần mềm nghiệp vụ dùng chung trong toàn ngành. Đồng thời, cần đẩy nhanh tiến độ số hóa hồ sơ, tài liệu lưu trữ, xây dựng cơ sở dữ liệu điện tử thống nhất, tăng cường kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa các đơn vị trong ngành và từng bước mở rộng khả năng kết nối với các cơ quan tiến hành tố tụng theo quy định. Qua đó, hình thành môi trường làm việc số, hỗ trợ hiệu quả công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành và thực hiện chức năng thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp.
Thứ năm, bảo đảm nguồn lực tài chính và rà soát cơ chế, chính sách hỗ trợ phù hợp với điều kiện vận hành mô hình mới. Cần ưu tiên bố trí kinh phí đáp ứng các yêu cầu phát sinh từ mô hình tổ chức mới, nhất là kinh phí phục vụ hoạt động chuyên môn, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực, đầu tư cơ sở vật chất và duy trì, vận hành các hệ thống phục vụ quản lý, điều hành. Đồng thời, cần nghiên cứu hoàn thiện cơ chế phân bổ kinh phí phù hợp với đặc điểm địa bàn, quy mô tổ chức và khối lượng công việc của từng đơn vị. Đối với công chức, người lao động làm việc tại các VKSND khu vực có phạm vi quản lý rộng, khoảng cách di chuyển lớn hoặc thường xuyên thực hiện nhiệm vụ lưu động, cần rà soát, đề xuất cơ chế hỗ trợ phù hợp với điều kiện thực tế và khả năng cân đối nguồn lực, góp phần ổn định điều kiện công tác và nâng cao hiệu quả thực hiện nhiệm vụ.
Kết luận
Sau hơn một năm triển khai, mô hình VKSND ba cấp bước đầu phát huy hiệu quả trong tinh gọn tổ chức bộ máy, đổi mới phương thức quản trị, tăng cường phân cấp, phân quyền và bảo đảm thực hiện chức năng thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp. Thực tiễn tại tỉnh Cà Mau cho thấy, mô hình mới cơ bản vận hành ổn định, không làm gián đoạn hoạt động của ngành, đồng thời, tạo chuyển biến tích cực trong tổ chức, điều hành và chuyển đổi số. Tuy nhiên, quá trình vận hành còn một số hạn chế về tính đồng bộ của pháp luật, nguồn nhân lực, cơ sở vật chất và điều kiện bảo đảm hoạt động. Vì vậy, cần xây dựng, hoàn thiện thể chế, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đẩy mạnh chuyển đổi số và bảo đảm nguồn lực, qua đó, nâng cao chất lượng, hiệu quả vận hành mô hình VKSND ba cấp, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp trong giai đoạn mới./.
ThS. Ngô Minh Quyền
Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau
Ảnh: internet
[1]. Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII “Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả”; Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới; Kết luận số 50-KL/TW ngày 28/2/2023 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW; Kết luận số 121-KL/TW ngày 24/01/2025 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII về tổng kết Nghị quyết số 18-NQ/TW; Kết luận số 126-KL/TW ngày 14/02/2025 của Bộ Chính trị, Ban Bí thư về một số nội dung, nhiệm vụ tiếp tục sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị năm 2025; Kết luận số 127-KL/TW ngày 28/02/2025 của Bộ Chính trị, Ban Bí thư về triển khai nghiên cứu, đề xuất tiếp tục sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị; Kết luận số 136-KL/TW ngày 28/3/2025 của Bộ Chính trị, Ban Bí thư về Đề án tiếp tục sắp xếp, tinh gọn bộ máy Viện Kiểm sát nhân dân theo định hướng không tổ chức cấp huyện.
[2]. Khoản 3 Điều 2 Hiến pháp năm 2013 được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 203/2025/QH15 ngày 16/6/2025 (Hiến pháp năm 2013).
[3]. Ban Tuyên giáo Trung ương Đảng (2022), Tài liệu học tập các văn kiện Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, tr.8.
[4]. Khoản 4 Điều 107 Hiến pháp năm 2013; Điều 2 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).
[5]. Điều 7 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).
[6]. Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020.
[7]. Đỗ Thanh Trường (2025), Quyết tâm xây dựng bộ máy Viện kiểm sát nhân dân 3 cấp: “Tinh - gọn - mạnh - hiệu năng - hiệu lực - hiệu quả”, https://vksndtc.gov.vn/tintuc/Pages/lists.aspx?Evt=23&ItemID=13175&Page=27, truy cập ngày 17/7/2026.
[8]. Nguyễn Huy Tiến (2026) (chủ biên), “Chương II. Khái quát về Viện kiểm sát/Viện công tố ở một số quốc gia trên thế giới và kinh nghiệm đối với Việt Nam”, Tổ chức và hoạt động của VKSND trong giai đoạn phát triển mới, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, tr.103.
[9]. Tiến Long (2025), Phân vùng ‘địa hạt tư pháp’điều tra, truy tố, xét xử như thế nào khi tổ chức chính quyền hai cấp?, https://tuoitre.vn/phan-vung-dia-hat-tu-phap-dieu-tra-truy-to-xet-xu-nhu-the-nao-khi-to-chuc-chinh-quyen-hai-cap-20250519183112841.htm, truy cập 22/8/2026.
[10]. Thông tư số 02/2025/TT-VKSTC ngày 30/6/2025 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao quy định thẩm quyền của Viện kiểm sát nhân dân các cấp trong thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giải quyết vụ việc, vụ án hình sự.
[11]. Thông tư số 03/2025/TT-VKSTC ngày 30/6/2025 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao quy định về tiếp nhận nhiệm vụ, thực hiện thẩm quyền của Viện kiểm sát nhân dân các cấp.
[12]. Báo cáo số 56/BC-VKSTC của VKSND tối cao sơ kết 01 năm thực hiện mô hình Viện kiểm sát nhân dân 03 cấp.
[13]. Báo cáo số 109-BC/ĐU ngày 27/5/2026 của Đảng ủy VKSND tỉnh Cà Mau sơ kết 01 năm thực hiện mô hình Viện kiểm sát nhân dân 03 cấp (Báo cáo số 109-BC/ĐU).
[14]. Nghị định số 178/2024/NĐ-CP ngày 31/12/2024 của Chính phủ về chính sách, chế độ đối với cán bộ, công chức, viên chức, người lao động và lực lượng vũ trang trong thực hiện sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị; Báo cáo số 109-BC/ĐU.
[15]. Báo cáo số 109-BC/ĐU.
[16]. Báo cáo số 109-BC/ĐU.
[17]. Báo cáo số 109-BC/ĐU.
[18]. Báo cáo số 109-BC/ĐU.
[19]. Nghị quyết số 84/2025/UBTVQH15 ngày 27/6/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc thành lập Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát nhân dân khu vực; quy định phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ của Viện kiểm sát nhân dân khu vực.
[20]. Phụ lục vướng mắc, bất cập của Bộ luật Tố tụng hình sự, kèm theo Báo cáo số 75/BC-VKSTC ngày 08/7/2026 của VKSND tối cao về tổng kết thực tiễn thi hành Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung các năm 2021, 2024 và 2025).
[21]. Thông tư liên tịch số 01/2026/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP ngày 28/01/2026 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quy định về phối hợp giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong việc thực hiện một số quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[22]. Báo cáo số 109-BC/ĐU.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Đảng ủy VKSND tỉnh Cà Mau (2026), Báo cáo số 109-BC/ĐU ngày 27/5/2026 sơ kết 01 năm thực hiện mô hình Viện kiểm sát nhân dân 03 cấp.
2. Nguyễn Huy Tiến (chủ biên) (2026), Tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong giai đoạn phát triển mới, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật.
3. Nguyễn Văn Huyên (2025), Hoàn thiện hệ thống tư pháp Việt Nam trong bối cảnh đổi mới tổ chức chính quyền địa phương hiện nay, Tạp chí Nghề luật, số 06/2025, tháng 6/2025.
4. VKSND tối cao (2026), Báo cáo số 56/BC-VKSTC sơ kết 01 năm thực hiện mô hình Viện kiểm sát nhân dân 03 cấp.
5. Trương Cộng Hòa, Lê Văn Phúc (2024), Nhận diện những điểm nghẽn trong cải cách thể chế tổ chức bộ máy hành chính nhà nước theo hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, Tạp chí Lãnh đạo và Chính sách, số 7, tháng 11/2024.
6. Võ Khánh Vinh (2026), Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tư duy và hoàn thiện thể chế pháp luật tư pháp trong kỷ nguyên phát triển mới (kỳ I), Tạp chí Kiểm sát, số 08/2026, tháng 4/2026.
(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số Kỳ 2 (458) tháng 8/2026))