Thứ ba 22/09/2026 00:55
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Phát huy vị trí, vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Bài viết đề cập đến vị trí, vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam và đề xuất một số giải pháp góp phần nâng cao vị trí, vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong thời gian tới đáp ứng yêu cầu của giai đoạn mới.

1. Vị trí, vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Có thể nói rằng, Viện kiểm sát nhân dân là một thiết chế đặc biệt trong bộ máy nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, vì hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân là một dạng hoạt động thực hiện quyền lực nhà nước độc lập, được tổ chức và hoạt động theo những nguyên tắc đặc thù cho phép nó thực hiện chức năng kiểm sát hiệu quả. Hoạt động của Viện kiểm sát không trực tiếp can thiệp vào quá trình tổ chức và hoạt động trong quá trình thực hiện chức năng của các cơ quan, tổ chức trong bộ máy nhà nước, mà nó thực hiện hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật của một số cơ quan trong bộ máy nhà nước (như: Cơ quan điều tra, cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra; Tòa án; cơ quan thi hành án…) nhằm bảo đảm hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và hoạt động thi hành các bản án, quyết định của Tòa án đúng pháp luật, bảo đảm giữ vững nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa, phòng chống oan sai, không bỏ lọt tội phạm và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nhà nước, tổ chức, cá nhân theo đúng quy định của Hiến pháp và pháp luật.

Nhằm khẳng định vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân trong giai đoạn đẩy mạnh xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới, Hiến pháp năm 2013 tiếp tục ghi nhận, Viện kiểm sát nhân dân thực hiện chức năng thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp (khoản 1 Điều 107). Theo đó, Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất (khoản 3 Điều 107 Hiến pháp năm 2013).

Trải qua các kỳ đại hội của Đảng và được ghi nhận trong nhiều văn kiện của Đảng và Nhà nước ta, đến Đại hội lần thứ XIII, Đảng ta khẳng định: “Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân do Đảng lãnh đạo là nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới hệ thống chính trị. Nâng cao năng lực, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Nhà nước. Xác định rõ hơn vai trò, vị trí, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp trên cơ sở các nguyên tắc pháp quyền, bảo đảm quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công rành mạch, phối hợp chặt chẽ và tăng cường kiểm soát quyền lực nhà nước”.

Viện kiểm sát nhân dân có một vị trí quan trọng và vai trò không thể thiếu trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, trong đó, quyền lực nhà nước là thống nhất có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Cùng với Tòa án nhân dân và các hệ thống cơ quan khác, Viện kiểm sát nhân dân là một cơ quan thực hiện quyền tư pháp của Nhà nước, thể hiện qua một số điểm như: (i) Viện kiểm sát nhân dân hoạt động độc lập, không phụ thuộc vào các cơ quan khác trong thực hiện chức năng kiểm sát, truy tố, kiểm tra hành vi vi phạm pháp luật. Điều này bảo đảm tính minh bạch, chính trực và công bằng trong quá trình hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân. (ii) Viện kiểm sát nhân dân chịu trách nhiệm bảo vệ lợi ích chung của Nhà nước và lợi ích hợp pháp của công dân. Qua việc kiểm sát, truy tố và kiểm tra hành vi vi phạm pháp luật, Viện kiểm sát nhân dân giúp duy trì trật tự an toàn xã hội và bảo vệ quyền lợi của người dân. (iii) Viện kiểm sát nhân dân giám sát và thẩm định hoạt động của các cơ quan nhà nước, bảo đảm tính hợp pháp và đúng pháp luật trong quá trình thực hiện chức năng của các cơ quan trong bộ máy nhà nước.

Trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, bảo đảm tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của hệ thống tư pháp, Viện kiểm sát nhân dân có một số vai trò chủ yếu như: (i) Thực hiện chức năng truy tố và kiểm tra các hành vi vi phạm pháp luật, bảo đảm mọi hành vi vi phạm pháp luật phải được xử lý nghiêm minh, không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội. (ii) Bảo vệ quyền lợi và lợi ích hợp pháp, chính đáng của công dân; bảo đảm pháp luật được áp dụng công bằng đối với tất cả công dân, không phân biệt giai cấp, tôn giáo hay dân tộc; phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật, bảo đảm trật tự an toàn xã hội. (iii) Thực hiện công tác giám sát, đánh giá hoạt động của các cơ quan chức năng để bảo đảm tính công bằng, minh bạch và hiệu quả trong thi hành pháp luật. (iv) Tham gia vào quá trình xây dựng, hoàn thiện pháp luật; hỗ trợ công tác giáo dục và nâng cao nhận thức về pháp luật trong cộng đồng, giúp người dân hiểu rõ quyền và nghĩa vụ của mình. (v) Tăng cường hợp tác quốc tế và khu vực, trao đổi kinh nghiệm, học hỏi những tiến bộ trong pháp luật và cách thức giải quyết các vấn đề phức tạp, góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng.

Để đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trong thời gian qua, Ngành Kiểm sát nhân dân đã đổi mới toàn diện trên tất cả các lĩnh vực công tác nhằm tổ chức thực hiện tốt hơn hai chức năng: Thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp. Tập trung đổi mới sâu rộng về tổ chức, bộ máy, cán bộ và phương thức hoạt động để nâng cao hiệu quả công tác, thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của Ngành Kiểm sát nhân dân, góp phần thiết thực đấu tranh phòng, chống tội phạm, bảo vệ Nhà nước, chế độ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và công dân.

Trong lĩnh vực thực hành quyền công tố và kiểm sát việc giải quyết các vụ án hình sự, Viện kiểm sát nhân dân các cấp đã thực hiện nhiều biện pháp nhằm kiểm sát chặt chẽ việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố; tăng cường phối hợp với các cơ quan bảo vệ pháp luật phát hiện và xử lý nghiêm các loại tội phạm, đưa ra truy tố nhiều vụ án lớn, đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp; việc phê chuẩn bắt, tạm giữ, tạm giam, việc điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án được tiến hành chặt chẽ, tuân thủ đúng các quy định của pháp luật; nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên tòa, bảo đảm dân chủ hơn; hạn chế đến mức thấp nhất các trường hợp oan, sai. Hoạt động điều tra các vụ án hình sự thuộc thẩm quyền của Viện kiểm sát được chú trọng. Lĩnh vực kiểm sát việc giải quyết các vụ việc dân sự, vụ án hành chính và các việc khác được thực hiện chặt chẽ. Ngành Kiểm sát đã có nhiều biện pháp tăng cường kiểm sát thi hành các bản án, quyết định của Tòa án; phối hợp cùng cơ quan thi hành án khắc phục tình trạng các bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật nhưng chậm được thi hành; đồng thời, có nhiều đổi mới trong giải quyết các đơn, thư thuộc thẩm quyền; phối hợp giải quyết nhiều đơn, thư khiếu nại phức tạp, kéo dài trong các cơ quan tư pháp. Phối hợp nghiên cứu, xây dựng các đề án, dự án luật, pháp lệnh, văn bản quy phạm pháp luật theo đúng lộ trình cải cách tư pháp, bảo đảm chất lượng, góp phần hoàn thiện thể chế và hoàn thiện tổ chức bộ máy nhà nước nói chung, bộ máy cơ quan tư pháp nói riêng trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa…

2. Một số giải pháp nâng cao vị trí, vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Để tiếp tục phát huy vị trí, vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trước yêu cầu đổi mới đất nước, đẩy mạnh cải cách tư pháp, tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới theo tinh thần Nghị quyết số 27/NQ-TW ngày 09/11/2022 của Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khoá XIII (Nghị quyết số 27/NQ-TW), cần tiếp tục đẩy mạnh thực hiện đồng bộ một số giải pháp sau:

Một là, tập trung thực hiện các quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về xây dựng nền tư pháp Việt Nam chuyên nghiệp, hiện đại, công bằng, nghiêm minh, liêm chính, phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong hoạt động của các cơ quan tư pháp phải có trọng trách bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của tổ chức, cá nhân. Tiếp tục đổi mới tổ chức, nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả hoạt động và uy tín của Viện kiểm sát nhân dân trong tham gia tố tụng tư pháp.

Hai là, phát huy hơn nữa vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong kiểm soát quyền lực nhà nước. Theo đó, cần quy định rõ hơn về thẩm quyền, xác định rõ chức năng, nhiệm vụ và tăng cường tính độc lập của Viện kiểm sát nhân dân trong hoạt động tư pháp (trong thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp). Điều này đã được khẳng định trong Nghị quyết số 27/NQ-TW: “Hoàn thiện thể chế để Viện kiểm sát nhân dân thực hiện tốt chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp; hoàn thiện cơ chế tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, tăng cường kiểm soát bên trong việc thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động xét xử phù hợp với nguyên tắc thẩm phán, hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”. Nghiên cứu khôi phục quy định về chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Viện kiểm sát nhân dân đã từng được hiến định trong Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1980 và Hiến pháp năm 1992; nhưng đến Hiến pháp năm 1992, sửa đổi, bổ sung năm 2001 và Hiến pháp năm 2013 thì Viện kiểm sát nhân dân chỉ còn hai chức năng là thực hành quyền công tố và kiểm soát hoạt động tư pháp. Để nâng cao chất lượng kiểm soát quyền lực nhà nước, tránh lạm quyền, bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, cần xem xét xác lập lại chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Viện kiểm sát nhân dân.

Ba là, Viện kiểm sát nhân dân tiếp tục thực hiện tốt chức năng thực hành quyền công tố, xử lý kịp thời các vi phạm pháp luật, đặc biệt là các vi phạm pháp luật hình sự; kiểm sát tốt hoạt động tư pháp, bảo vệ công lý, pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể pháp luật, bảo đảm thực hiện pháp luật một cách thống nhất, trật tự và nghiêm minh; duy trì tính độc lập và tin cậy trong công tác kiểm sát, bảo đảm mọi quyết định của Viện kiểm sát nhân dân đều căn cứ vào pháp luật và được thực hiện một cách minh bạch, công bằng.

Bốn là, Viện kiểm sát nhân dân các cấp và các kiểm sát viên cần tăng cường tuân thủ các nguyên tắc cơ bản như: Nguyên tắc tập trung thống nhất lãnh đạo trong ngành, Viện kiểm sát nhân dân do Viện trưởng lãnh đạo. Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp dưới chịu sự lãnh đạo của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp trên. Viện trưởng các Viện kiểm sát cấp dưới chịu sự lãnh đạo thống nhất của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa; nguyên tắc công khai trong mọi hoạt động, trừ những trường hợp phải bảo vệ bí mật nghề nghiệp do pháp luật quy định; nguyên tắc giữ gìn đạo đức nghề nghiệp của người cán bộ bảo vệ pháp luật.

Năm là, Viện kiểm sát nhân dân các cấp cần tích cực thực hiện Chiến lược cải cách tư pháp giai đoạn 2021 - 2030, hoàn thành đúng tiến độ các nhiệm vụ của Ngành Kiểm sát trong lộ trình cải cách tư pháp theo Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng, các nghị quyết của Bộ Chính trị, các nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp của Ban Chỉ đạo Cải cách tư pháp Trung ương và các nghị quyết về nhiệm vụ hằng năm của Quốc hội. Đồng thời, các chủ trương, kế hoạch công tác của toàn Ngành Kiểm sát và mỗi Viện kiểm sát nhân dân phải bám sát, phục vụ có hiệu quả các nhiệm vụ chính trị của đất nước cũng như của từng địa phương, đơn vị; chủ động tham mưu cho cấp ủy về những vấn đề phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật, tạo môi trường thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển.

Nguyễn Xuân Tùng

Ủy ban Kiểm tra Thành ủy Hà Nội

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 392), tháng 11/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

Du lịch xanh, du lịch bền vững đã trở thành xu hướng phổ biến tại Việt Nam, nhưng để tiến tới mục tiêu "du lịch Net Zero", ngành Du lịch cần có nhiều thay đổi theo chiều sâu: từ việc xây dựng những sản phẩm xanh sang xây dựng những doanh nghiệp lữ hành thực sự bền vững. Đây là cả một quá trình bởi phát triển "du lịch Net Zero" không chỉ liên quan đến môi trường mà còn đòi hỏi sự thay đổi đồng bộ về mô hình kinh doanh, sản phẩm, công nghệ, nhân lực, quan hệ với cộng đồng và cách thức ứng xử với các giá trị văn hóa.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

Du lịch Việt Nam đang đứng trước một giai đoạn phát triển mới, trong đó yêu cầu tăng trưởng không thể tách rời nhiệm vụ bảo tồn và phát huy những giá trị làm nên bản sắc dân tộc. Nếu thiên nhiên tạo nên diện mạo của đất nước thì văn hóa chính là chiều sâu, là ký ức, là “hồn cốt” để Việt Nam trở thành một điểm đến khác biệt trong mắt du khách trong nước và quốc tế. Bởi vậy, phát triển du lịch hôm nay không chỉ là câu chuyện về lượng khách, doanh thu hay số lượng cơ sở lưu trú, mà còn là câu chuyện về cách gìn giữ di sản, bảo vệ cảnh quan, duy trì lối sống cộng đồng và trao truyền những giá trị văn hóa Việt Nam cho các thế hệ mai sau. Trong câu chuyện đó, doanh nghiệp lữ hành đóng vai trò trung tâm, là “cầu nối” đưa văn hoá Việt Nam đến với du khách.
Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.

Theo dõi chúng tôi trên: