Thứ năm 22/01/2026 10:21
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Phát huy vị trí, vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Bài viết đề cập đến vị trí, vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam và đề xuất một số giải pháp góp phần nâng cao vị trí, vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong thời gian tới đáp ứng yêu cầu của giai đoạn mới.

1. Vị trí, vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Có thể nói rằng, Viện kiểm sát nhân dân là một thiết chế đặc biệt trong bộ máy nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, vì hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân là một dạng hoạt động thực hiện quyền lực nhà nước độc lập, được tổ chức và hoạt động theo những nguyên tắc đặc thù cho phép nó thực hiện chức năng kiểm sát hiệu quả. Hoạt động của Viện kiểm sát không trực tiếp can thiệp vào quá trình tổ chức và hoạt động trong quá trình thực hiện chức năng của các cơ quan, tổ chức trong bộ máy nhà nước, mà nó thực hiện hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật của một số cơ quan trong bộ máy nhà nước (như: Cơ quan điều tra, cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra; Tòa án; cơ quan thi hành án…) nhằm bảo đảm hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và hoạt động thi hành các bản án, quyết định của Tòa án đúng pháp luật, bảo đảm giữ vững nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa, phòng chống oan sai, không bỏ lọt tội phạm và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nhà nước, tổ chức, cá nhân theo đúng quy định của Hiến pháp và pháp luật.

Nhằm khẳng định vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân trong giai đoạn đẩy mạnh xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới, Hiến pháp năm 2013 tiếp tục ghi nhận, Viện kiểm sát nhân dân thực hiện chức năng thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp (khoản 1 Điều 107). Theo đó, Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất (khoản 3 Điều 107 Hiến pháp năm 2013).

Trải qua các kỳ đại hội của Đảng và được ghi nhận trong nhiều văn kiện của Đảng và Nhà nước ta, đến Đại hội lần thứ XIII, Đảng ta khẳng định: “Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân do Đảng lãnh đạo là nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới hệ thống chính trị. Nâng cao năng lực, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Nhà nước. Xác định rõ hơn vai trò, vị trí, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp trên cơ sở các nguyên tắc pháp quyền, bảo đảm quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công rành mạch, phối hợp chặt chẽ và tăng cường kiểm soát quyền lực nhà nước”.

Viện kiểm sát nhân dân có một vị trí quan trọng và vai trò không thể thiếu trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, trong đó, quyền lực nhà nước là thống nhất có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Cùng với Tòa án nhân dân và các hệ thống cơ quan khác, Viện kiểm sát nhân dân là một cơ quan thực hiện quyền tư pháp của Nhà nước, thể hiện qua một số điểm như: (i) Viện kiểm sát nhân dân hoạt động độc lập, không phụ thuộc vào các cơ quan khác trong thực hiện chức năng kiểm sát, truy tố, kiểm tra hành vi vi phạm pháp luật. Điều này bảo đảm tính minh bạch, chính trực và công bằng trong quá trình hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân. (ii) Viện kiểm sát nhân dân chịu trách nhiệm bảo vệ lợi ích chung của Nhà nước và lợi ích hợp pháp của công dân. Qua việc kiểm sát, truy tố và kiểm tra hành vi vi phạm pháp luật, Viện kiểm sát nhân dân giúp duy trì trật tự an toàn xã hội và bảo vệ quyền lợi của người dân. (iii) Viện kiểm sát nhân dân giám sát và thẩm định hoạt động của các cơ quan nhà nước, bảo đảm tính hợp pháp và đúng pháp luật trong quá trình thực hiện chức năng của các cơ quan trong bộ máy nhà nước.

Trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, bảo đảm tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của hệ thống tư pháp, Viện kiểm sát nhân dân có một số vai trò chủ yếu như: (i) Thực hiện chức năng truy tố và kiểm tra các hành vi vi phạm pháp luật, bảo đảm mọi hành vi vi phạm pháp luật phải được xử lý nghiêm minh, không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội. (ii) Bảo vệ quyền lợi và lợi ích hợp pháp, chính đáng của công dân; bảo đảm pháp luật được áp dụng công bằng đối với tất cả công dân, không phân biệt giai cấp, tôn giáo hay dân tộc; phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật, bảo đảm trật tự an toàn xã hội. (iii) Thực hiện công tác giám sát, đánh giá hoạt động của các cơ quan chức năng để bảo đảm tính công bằng, minh bạch và hiệu quả trong thi hành pháp luật. (iv) Tham gia vào quá trình xây dựng, hoàn thiện pháp luật; hỗ trợ công tác giáo dục và nâng cao nhận thức về pháp luật trong cộng đồng, giúp người dân hiểu rõ quyền và nghĩa vụ của mình. (v) Tăng cường hợp tác quốc tế và khu vực, trao đổi kinh nghiệm, học hỏi những tiến bộ trong pháp luật và cách thức giải quyết các vấn đề phức tạp, góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng.

Để đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trong thời gian qua, Ngành Kiểm sát nhân dân đã đổi mới toàn diện trên tất cả các lĩnh vực công tác nhằm tổ chức thực hiện tốt hơn hai chức năng: Thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp. Tập trung đổi mới sâu rộng về tổ chức, bộ máy, cán bộ và phương thức hoạt động để nâng cao hiệu quả công tác, thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của Ngành Kiểm sát nhân dân, góp phần thiết thực đấu tranh phòng, chống tội phạm, bảo vệ Nhà nước, chế độ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và công dân.

Trong lĩnh vực thực hành quyền công tố và kiểm sát việc giải quyết các vụ án hình sự, Viện kiểm sát nhân dân các cấp đã thực hiện nhiều biện pháp nhằm kiểm sát chặt chẽ việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố; tăng cường phối hợp với các cơ quan bảo vệ pháp luật phát hiện và xử lý nghiêm các loại tội phạm, đưa ra truy tố nhiều vụ án lớn, đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp; việc phê chuẩn bắt, tạm giữ, tạm giam, việc điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án được tiến hành chặt chẽ, tuân thủ đúng các quy định của pháp luật; nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên tòa, bảo đảm dân chủ hơn; hạn chế đến mức thấp nhất các trường hợp oan, sai. Hoạt động điều tra các vụ án hình sự thuộc thẩm quyền của Viện kiểm sát được chú trọng. Lĩnh vực kiểm sát việc giải quyết các vụ việc dân sự, vụ án hành chính và các việc khác được thực hiện chặt chẽ. Ngành Kiểm sát đã có nhiều biện pháp tăng cường kiểm sát thi hành các bản án, quyết định của Tòa án; phối hợp cùng cơ quan thi hành án khắc phục tình trạng các bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật nhưng chậm được thi hành; đồng thời, có nhiều đổi mới trong giải quyết các đơn, thư thuộc thẩm quyền; phối hợp giải quyết nhiều đơn, thư khiếu nại phức tạp, kéo dài trong các cơ quan tư pháp. Phối hợp nghiên cứu, xây dựng các đề án, dự án luật, pháp lệnh, văn bản quy phạm pháp luật theo đúng lộ trình cải cách tư pháp, bảo đảm chất lượng, góp phần hoàn thiện thể chế và hoàn thiện tổ chức bộ máy nhà nước nói chung, bộ máy cơ quan tư pháp nói riêng trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa…

2. Một số giải pháp nâng cao vị trí, vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Để tiếp tục phát huy vị trí, vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trước yêu cầu đổi mới đất nước, đẩy mạnh cải cách tư pháp, tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới theo tinh thần Nghị quyết số 27/NQ-TW ngày 09/11/2022 của Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khoá XIII (Nghị quyết số 27/NQ-TW), cần tiếp tục đẩy mạnh thực hiện đồng bộ một số giải pháp sau:

Một là, tập trung thực hiện các quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về xây dựng nền tư pháp Việt Nam chuyên nghiệp, hiện đại, công bằng, nghiêm minh, liêm chính, phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong hoạt động của các cơ quan tư pháp phải có trọng trách bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của tổ chức, cá nhân. Tiếp tục đổi mới tổ chức, nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả hoạt động và uy tín của Viện kiểm sát nhân dân trong tham gia tố tụng tư pháp.

Hai là, phát huy hơn nữa vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong kiểm soát quyền lực nhà nước. Theo đó, cần quy định rõ hơn về thẩm quyền, xác định rõ chức năng, nhiệm vụ và tăng cường tính độc lập của Viện kiểm sát nhân dân trong hoạt động tư pháp (trong thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp). Điều này đã được khẳng định trong Nghị quyết số 27/NQ-TW: “Hoàn thiện thể chế để Viện kiểm sát nhân dân thực hiện tốt chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp; hoàn thiện cơ chế tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, tăng cường kiểm soát bên trong việc thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động xét xử phù hợp với nguyên tắc thẩm phán, hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”. Nghiên cứu khôi phục quy định về chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Viện kiểm sát nhân dân đã từng được hiến định trong Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1980 và Hiến pháp năm 1992; nhưng đến Hiến pháp năm 1992, sửa đổi, bổ sung năm 2001 và Hiến pháp năm 2013 thì Viện kiểm sát nhân dân chỉ còn hai chức năng là thực hành quyền công tố và kiểm soát hoạt động tư pháp. Để nâng cao chất lượng kiểm soát quyền lực nhà nước, tránh lạm quyền, bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, cần xem xét xác lập lại chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Viện kiểm sát nhân dân.

Ba là, Viện kiểm sát nhân dân tiếp tục thực hiện tốt chức năng thực hành quyền công tố, xử lý kịp thời các vi phạm pháp luật, đặc biệt là các vi phạm pháp luật hình sự; kiểm sát tốt hoạt động tư pháp, bảo vệ công lý, pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể pháp luật, bảo đảm thực hiện pháp luật một cách thống nhất, trật tự và nghiêm minh; duy trì tính độc lập và tin cậy trong công tác kiểm sát, bảo đảm mọi quyết định của Viện kiểm sát nhân dân đều căn cứ vào pháp luật và được thực hiện một cách minh bạch, công bằng.

Bốn là, Viện kiểm sát nhân dân các cấp và các kiểm sát viên cần tăng cường tuân thủ các nguyên tắc cơ bản như: Nguyên tắc tập trung thống nhất lãnh đạo trong ngành, Viện kiểm sát nhân dân do Viện trưởng lãnh đạo. Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp dưới chịu sự lãnh đạo của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp trên. Viện trưởng các Viện kiểm sát cấp dưới chịu sự lãnh đạo thống nhất của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa; nguyên tắc công khai trong mọi hoạt động, trừ những trường hợp phải bảo vệ bí mật nghề nghiệp do pháp luật quy định; nguyên tắc giữ gìn đạo đức nghề nghiệp của người cán bộ bảo vệ pháp luật.

Năm là, Viện kiểm sát nhân dân các cấp cần tích cực thực hiện Chiến lược cải cách tư pháp giai đoạn 2021 - 2030, hoàn thành đúng tiến độ các nhiệm vụ của Ngành Kiểm sát trong lộ trình cải cách tư pháp theo Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng, các nghị quyết của Bộ Chính trị, các nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp của Ban Chỉ đạo Cải cách tư pháp Trung ương và các nghị quyết về nhiệm vụ hằng năm của Quốc hội. Đồng thời, các chủ trương, kế hoạch công tác của toàn Ngành Kiểm sát và mỗi Viện kiểm sát nhân dân phải bám sát, phục vụ có hiệu quả các nhiệm vụ chính trị của đất nước cũng như của từng địa phương, đơn vị; chủ động tham mưu cho cấp ủy về những vấn đề phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật, tạo môi trường thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển.

Nguyễn Xuân Tùng

Ủy ban Kiểm tra Thành ủy Hà Nội

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 392), tháng 11/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Việc lập và nộp hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH), đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là thủ tục bắt buộc, bảo đảm tính chặt chẽ, minh bạch và khách quan trong quá trình lựa chọn những người tiêu biểu tham gia cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Căn cứ Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND, Hội đồng bầu cử quốc gia đã ban hành mẫu biểu, hướng dẫn và quy trình tiếp nhận hồ sơ, tạo điều kiện để người được giới thiệu ứng cử và người tự ứng cử thực hiện quyền chính trị - pháp lý đúng quy định.
Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.

Theo dõi chúng tôi trên: