Thứ ba 22/09/2026 22:17
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.

Chuyển đổi số bước sang giai đoạn tạo giá trị thực, trở thành động lực tăng trưởng mới.

Nhìn lại chặng đường năm 2025, có thể thấy, đây không chỉ là cột mốc mang tính thời điểm mà còn mang ý nghĩa chiến lược quan trọng. Nếu như giai đoạn trước, Chính phủ và các bộ, ngành tập trung nâng cao nhận thức, tạo đà và chuẩn hóa cách tiếp cận thì năm 2025 đánh dấu sự chuyển dịch mạnh mẽ sang giai đoạn tăng tốc, triển khai sâu, rộng, tạo ra những giá trị thực tế cho nền kinh tế và xã hội. Theo Cục trưởng Trần Duy Ninh, kết quả nổi bật nhất thể hiện sức mạnh của chuyển đổi số chính là sự đồng bộ của hai trụ cột then chốt: thể chế và hạ tầng.

Về thể chế, việc triển khai Luật Giao dịch điện tử năm 2023 và Luật Dữ liệu năm 2024 đã tạo bước ngoặt quan trọng khi dữ liệu không còn được coi là “thông tin lưu trữ” đơn thuần mà được công nhận là “tài nguyên quốc gia”. Đây là tư duy mới, mở đường cho sự phát triển các mô hình kinh doanh dựa trên dữ liệu và thúc đẩy đổi mới sáng tạo. Nhờ hành lang pháp lý thông thoáng, nhiều doanh nghiệp mạnh dạn xây dựng các sản phẩm dịch vụ có giá trị gia tăng cao, từ đó, góp phần định hình nền kinh tế số.

Về hạ tầng, chiến lược ưu tiên điện toán đám mây cho khu vực công đã mang lại bước đột phá về tốc độ xử lý và an toàn dữ liệu. Cùng với đó, việc triển khai sóng 5G tại các đô thị lớn và khu công nghiệp đã tạo ra bệ phóng cho các dịch vụ số, trí tuệ nhân tạo và internet vạn vật phát triển. Hạ tầng số được nâng cấp đồng bộ đang giúp Việt Nam tiến gần hơn mục tiêu kinh tế số đóng góp 30% GDP.

Tuy vậy, Cục trưởng cũng thẳng thắn chỉ ra những điểm nghẽn cần tháo gỡ như chia sẻ dữ liệu liên bộ, ngành chưa đồng đều hoặc thách thức ngày càng lớn về an ninh mạng trong bối cảnh AI phát triển mạnh. Điều này đòi hỏi Chính phủ phải tiếp tục kiên định với định hướng “lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm” và coi đầu tư cho chuyển đổi số, đặc biệt là dữ liệu và hạ tầng số, là đầu tư cho sự thịnh vượng lâu dài của đất nước.

Vị thế sẵn sàng và lợi thế chiến lược để bước vào kỷ nguyên hùng cường

Trong bối cảnh khu vực và thế giới đang cạnh tranh quyết liệt về công nghệ, Việt Nam đang ở giai đoạn có nhiều cơ hội vàng. Cục trưởng Trần Duy Ninh đánh giá, mức độ sẵn sàng của Việt Nam không thua kém so với nhiều quốc gia trong khu vực nhờ sự

cải thiện đáng kể trong các chỉ số quốc tế quan trọng.

Việt Nam đang nỗ lực hướng tới nhóm 50 quốc gia dẫn đầu về Chính phủ điện tử và nhóm 3 ở khu vực Đông Nam Á theo đánh giá của Liên hợp quốc. Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu liên tục thăng hạng cũng cho thấy khả năng “hấp thụ”, sáng tạo và phát triển công nghệ của người Việt Nam rất lớn. Việt Nam còn đặt mục tiêu trở thành trung tâm AI và an ninh mạng trong khu vực, định hướng thể hiện tầm nhìn và sự chủ động trước xu thế toàn cầu.

Theo Cục trưởng Trần Duy Ninh, lợi thế của Việt Nam trước hết là ổn định chính trị và quyết tâm cao của toàn hệ thống chính trị. Đây là điều kiện nền tảng để thực thi các chiến lược dài hạn. Bên cạnh đó, dân số trẻ, năng động và có khả năng tiếp nhận nhanh công nghệ, tạo lợi thế cạnh tranh quan trọng.

Song song với lợi thế, thách thức lớn nhất của Việt Nam là nguy cơ rơi vào bẫy thu nhập trung bình nếu không làm chủ được công nghệ lõi như chip bán dẫn và AI. Nếu chỉ dừng ở việc gia công hoặc tiêu thụ công nghệ nước ngoài, Việt Nam khó có thể bứt phá và đạt được mục tiêu trở thành quốc gia phát triển vào năm 2045. Vì vậy, nhiệm vụ vừa phổ cập công nghệ diện rộng, vừa làm chủ công nghệ nguồn là yêu cầu cấp thiết.

Kiến tạo hệ sinh thái đổi mới sáng tạo mạnh mẽ bằng tư duy khai phóng “Trái tim của nền kinh tế số chính là hệ sinh thái đổi mới sáng tạo” - Cục trưởng Trần Duy Ninh nhấn mạnh. Để các doanh nghiệp công nghệ và khởi nghiệp (startup) có thể phát triển bứt phá, Việt Nam cần tiếp tục đặt trọng tâm vào ba yếu tố quan trọng.

Thứ nhất, cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (Sandbox) - công cụ được xem như “cánh cửa mở” để các mô hình kinh doanh mới chạy thử trong môi trường pháp lý kiểm soát. Chẳng hạn các lĩnh vực như Fintech, tài sản số, các ứng dụng dựa trên AI… thường đi trước quy định pháp luật. Vì vậy, nếu chờ luật hoàn thiện mới cho phép triển khai sẽ đánh mất cơ hội cạnh tranh. Sandbox giúp doanh nghiệp dám nghĩ, dám làm, còn cơ quan quản lý có điều kiện đánh giá rủi ro và điều chỉnh chính sách kịp thời.

Thứ hai, nguồn lực. Ngoài ngân sách nhà nước dành cho khoa học công nghệ, Việt Nam cần xây dựng chính sách thuế ưu đãi và cơ chế thị thực linh hoạt để thu hút chuyên gia quốc tế, các quỹ đầu tư mạo hiểm và tập đoàn công nghệ lớn. Điều này sẽ tạo ra “cú hích” mạnh cho đổi mới sáng tạo.

Thứ ba, thị trường. Nhà nước với vai trò khách hàng lớn, cần ưu tiên sử dụng sản phẩm “Make in Vietnam”, giúp doanh nghiệp công nghệ nội có thị trường thử nghiệm và trưởng thành. Đồng thời, việc mở dữ liệu quốc gia là nguồn nguyên liệu quan trọng để doanh nghiệp và startup sáng tạo ra sản phẩm mới phục vụ xã hội.

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số
Chuyển đổi số bước sang giai đoạn tạo giá trị thực và trở thành động lực tăng trưởng mới

Thu hẹp khoảng cách số bằng nền tảng dùng chung và hạ tầng đồng bộ đến tận cơ sở

Một trong những vấn đề đáng chú ý trong nhiều năm là chênh lệch chuyển đổi số giữa các địa phương, đặc biệt, vùng sâu, vùng xa. Cục trưởng Trần Duy Ninh khẳng định, chuyển đổi số chỉ thực sự thành công khi người dân ở bản làng xa xôi nhất đều được hưởng lợi.

Giải pháp cốt lõi là “tập trung hạ tầng và nền tảng, phân tán ứng dụng”. Thay vì để mỗi địa phương tự đầu tư các phần mềm riêng lẻ, gây lãng phí và khó kết nối, trung ương xây dựng các nền tảng số dùng chung, địa phương chỉ cần sử dụng và điều chỉnh theo nhu cầu. Cách làm này không chỉ tiết kiệm ngân sách lớn mà còn tăng tính an toàn, bảo mật do dữ liệu được bảo vệ tập trung.

Cùng với đó, việc mở rộng hạ tầng viễn thông băng rộng, phổ cập sóng 5G đến từng thôn, bản là điều bắt buộc. Khi dữ liệu được liên thông, cán bộ cấp xã có thể tra cứu thông tin từ các cơ sở dữ liệu quốc gia để giải quyết thủ tục nhanh chóng cho người dân mà không yêu cầu nộp giấy tờ.

Các tổ công nghệ số cộng đồng tiếp tục đóng vai trò “đi từng ngõ, gõ từng nhà”, hướng dẫn người dân sử dụng dịch vụ công trực tuyến và kỹ năng số cơ bản, bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong tiến trình chuyển đổi số.

Khát vọng xây dựng quốc gia hùng cường vào năm 2045 bằng sức mạnh công nghệ số

Trong không khí mùa xuân mới, Cục trưởng Trần Duy Ninh gửi gắm niềm tin vào đội ngũ nhà khoa học, chuyên gia và kỹ sư công nghệ Việt Nam - lực lượng nòng cốt trong hành trình đưa đất nước bứt phá phát triển. Cục trưởng kỳ vọng đội ngũ này không chỉ làm chủ công nghệ lõi như AI hay chip bán dẫn mà còn giữ vững đạo đức công nghệ, góp phần xây dựng không gian số nhân văn, an toàn cho người dân, doanh nghiệp.

Đối với hệ thống cơ quan quản lý và đặc biệt là Cục Chuyển đổi số quốc gia, vai trò không chỉ dừng ở quản lý mà phải kiến tạo, dẫn dắt, tiên phong và truyền cảm hứng. Cục sẽ tập trung vào ba nhiệm vụ ưu tiên: Hoàn thiện thể chế số để mở đường cho đổi mới; Phổ cập hạ tầng số, phát triển dữ liệu số quốc gia, đưa dữ liệu thành tài sản của quốc gia; Đồng hành để đưa Việt Nam trở thành quốc gia số toàn diện vào năm 2035.

Nhìn xa hơn, mục tiêu đến năm 2045 không chỉ là đạt ngưỡng thu nhập cao mà còn xây dựng quốc gia hùng cường, độc lập, tự chủ, nơi công nghệ số vào mọi hoạt động và đem lại cuộc sống ấm no, thịnh vượng cho toàn dân.

Phương Liên

Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật ấn phẩm Xuân Bính Ngọ 2026

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

Du lịch xanh, du lịch bền vững đã trở thành xu hướng phổ biến tại Việt Nam, nhưng để tiến tới mục tiêu "du lịch Net Zero", ngành Du lịch cần có nhiều thay đổi theo chiều sâu: từ việc xây dựng những sản phẩm xanh sang xây dựng những doanh nghiệp lữ hành thực sự bền vững. Đây là cả một quá trình bởi phát triển "du lịch Net Zero" không chỉ liên quan đến môi trường mà còn đòi hỏi sự thay đổi đồng bộ về mô hình kinh doanh, sản phẩm, công nghệ, nhân lực, quan hệ với cộng đồng và cách thức ứng xử với các giá trị văn hóa.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

Du lịch Việt Nam đang đứng trước một giai đoạn phát triển mới, trong đó yêu cầu tăng trưởng không thể tách rời nhiệm vụ bảo tồn và phát huy những giá trị làm nên bản sắc dân tộc. Nếu thiên nhiên tạo nên diện mạo của đất nước thì văn hóa chính là chiều sâu, là ký ức, là “hồn cốt” để Việt Nam trở thành một điểm đến khác biệt trong mắt du khách trong nước và quốc tế. Bởi vậy, phát triển du lịch hôm nay không chỉ là câu chuyện về lượng khách, doanh thu hay số lượng cơ sở lưu trú, mà còn là câu chuyện về cách gìn giữ di sản, bảo vệ cảnh quan, duy trì lối sống cộng đồng và trao truyền những giá trị văn hóa Việt Nam cho các thế hệ mai sau. Trong câu chuyện đó, doanh nghiệp lữ hành đóng vai trò trung tâm, là “cầu nối” đưa văn hoá Việt Nam đến với du khách.
Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.

Theo dõi chúng tôi trên: