Thứ hai 30/03/2026 13:35
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai Luật cũng bộc lộ những bất cập, hạn chế cần sửa đổi, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới
Ảnh minh họa

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 có nhiều điểm mới tiến bộ

Về cơ bản, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 có nhiều điểm mới tiến bộ, thể hiện tính công khai, minh bạch, nhà nước pháp quyền, phù hợp tinh thần Hiến pháp năm 2013, phù hợp với tình hình đất nước, thực tế xã hội Việt Nam và bảo đảm tính tương thích với các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Việc ban hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 không chỉ khắc phục những hạn chế, bất cập của Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2004, mà còn phù hợp với chủ trương cải cách thể chế, đơn giản hóa thủ tục hành chính ở Việt Nam; tạo hành lang pháp lý cần thiết để bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo, vừa bảo đảm lợi ích của quốc gia, dân tộc, vừa đáp ứng nhu cầu đổi mới và hội nhập quốc tế. Cụ thể:

Thứ nhất, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 được ban hành đã đánh dấu một bước tiến quan trọng trong tư duy và cách tiếp cận mới của Đảng, Nhà nước ta đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Các quy định của Luật rõ ràng, minh bạch, dễ tiếp cận, bảo đảm việc phân định cụ thể đối tượng và phạm vi điều chỉnh; bảo đảm hài hòa với hệ thống pháp luật hiện hành như: Bộ luật Dân sự, Luật Đất đai, Luật Xây dựng, Bộ luật Hình sự, Luật Cư trú,… Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 mang đậm bản sắc Việt Nam trong từng quy định, nhưng vẫn mang tính quốc tế khi mở rộng phạm vi áp dụng từ “công dân” sang “mọi người”. Đặc biệt, Luật còn công nhận tư cách pháp nhân của các tổ chức tôn giáo, góp phần cụ thể hóa nguyên tắc không phân biệt đối xử về tôn giáo, phù hợp với các chuẩn mực quốc tế.

Thứ hai, lần đầu tiên trong lịch sử lập pháp, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo khẳng định rõ ràng tư cách pháp nhân phi thương mại của các tổ chức tôn giáo. Điều này đồng nghĩa với việc các tổ chức tôn giáo được tham gia, thực hiện vào các hoạt động kinh tế phi thương mại hoặc thương mại (nếu pháp luật liên quan cho phép) và được bảo đảm các quyền lợi pháp lý tương ứng. Đây là một bước tiến quan trọng trong việc xác lập địa vị pháp lý của các tổ chức tôn giáo. Việc khẳng định tư cách pháp nhân phi thương mại cho phép các tổ chức tôn giáo tham gia một cách chính thức và hợp pháp vào các hoạt động xã hội, văn hóa, từ thiện, đồng thời tạo cơ hội khai thác các nguồn lực tôn giáo để phục vụ cộng đồng.

Thứ ba, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 nhấn mạnh việc đổi mới cơ chế quản lý nhà nước đối với tôn giáo, với định hướng giảm thiểu sự can thiệp vào nội bộ các tổ chức tôn giáo; Nhà nước vừa bảo đảm tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người, vừa bảo đảm sự bình đẳng của các tôn giáo trước pháp luật. Đặc biệt, so với Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2004, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã đơn giản hóa cơ chế quản lý nhà nước, khi nhiều hoạt động của các tổ chức tôn giáo chỉ cần “thông báo” thay vì phải “đăng ký” hoặc “xin phép”.

“Khoảng trống” pháp lý và khó khăn khi áp dụng

Bên cạnh kết quả đạt được, việc triển khai thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 còn tồn tại những hạn chế, khó khăn, như:

Một là, một số nội dung chưa được Luật quy định.

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 chưa có quy định về thời hạn hoạt động của người đại diện và thành viên ban quản lý cơ sở tín ngưỡng,… đã gây khó khăn cho người đại diện, ban quản lý cơ sở tín ngưỡng cũng như trong công tác quản lý nhà nước.

Đồng thời, Luật chưa có điều khoản quy định về đăng ký hoạt động tín ngưỡng tại các cơ sở tư gia, các cơ sở do doanh nghiệp đầu tư xây dựng có hoạt động tín ngưỡng, trong khi các điện, phủ tư gia ở tất cả các tỉnh, thành đều có và hoạt động rất đa dạng.

Đặc biệt, Luật chưa có điều khoản riêng quy định về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo; chưa phân định rõ hợp tác quốc tế của tổ chức, cá nhân tôn giáo và hợp tác quốc tế của các cơ quan nhà nước dẫn đến khó khăn trong áp dụng.

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 chưa có điều khoản điều chỉnh hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng cũng như giải thích về “hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng” trong khi hoạt động này phổ biến và trở thành xu thế, phương thức hoạt động chính của nhiều tôn giáo; thật - giả, hợp pháp - chưa hợp pháp khó nhận diện, phân biệt; vi phạm chưa được phát hiện kịp thời và xử lý hiệu quả, ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống tín ngưỡng, tôn giáo lành mạnh của cộng đồng và hiệu quả, hiệu lực quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo.

Bên cạnh đó, nhiều vấn đề chưa được quy định tại Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, gây khó khăn trong quá trình áp dụng, như: điều kiện để được đăng ký đối với nhóm sinh hoạt tôn giáo tập trung của người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam; thu hồi văn bản chấp thuận đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung (bao gồm nhóm của công dân Việt Nam và nhóm của người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam) trong trường hợp nhóm sinh hoạt tôn giáo vi phạm pháp luật hoặc tự giải tán; người đại diện trong điều kiện thành lập, chia, tách, sáp nhập, hợp nhất tổ chức tôn giáo trực thuộc, thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo; thu hồi văn bản chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo trong trường hợp tổ chức được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo vi phạm pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo; đình chỉ chức vụ của chức việc các tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc, tổ chức được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo khi vi phạm các quy định của pháp luật; việc tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc được tổ chức các hội thảo; tổ chức được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo được tham gia các hoạt động từ thiện, nhân đạo theo quy định của pháp luật có liên quan; thực hiện ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số trong quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo; xây dựng, quản lý, khai thác cơ sở dữ liệu về tín ngưỡng, tôn giáo cũng như phân cấp, ủy quyền các nội dung quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo.

Ngoài ra, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 chưa quy định rõ chủ thể được thực hiện các hoạt động giáo dục, đào tạo, y tế, bảo trợ xã hội, từ thiện, nhân đạo là tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc; chưa quy định cụ thể việc tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc thực hiện hoạt động tôn giáo, hoạt động từ thiện, nhân đạo; vấn đề dòng tu, hội đoàn tôn giáo; vấn đề các tổ chức dưới tổ chức tôn giáo trực thuộc nhưng không phải là điểm nhóm tôn giáo (thiên bàn, cơ sở đạo của Cao Đài; hội nhánh của Tin Lành; giáo họ của Công giáo...).

Hai là, một số nội dung quy định của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 chưa cụ thể hoặc đã quy định cụ thể nhưng khi áp dụng gây khó khăn cho một số tổ chức. Cụ thể:

Một số cách giải thích tại Điều 2 Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 như: hoạt động tín ngưỡng, cơ sở tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo, cơ sở tôn giáo, chức việc, … chưa rõ ràng, dẫn đến cách hiểu và áp dụng chưa thống nhất giữa các địa phương. Do đó, vấn đề này cần được rà soát, nghiên cứu tính phù hợp với bối cảnh chuyển đổi số hiện nay và tính thống nhất, đồng bộ với các cách giải thích được quy định trong pháp luật liên quan cũng như thể hiện rõ nội hàm để bao quát, mô tả được hết đặc điểm, tình hình mới trong thực tiễn phát sinh.

Theo quy định tại Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, việc xác định đăng ký hoạt động tín ngưỡng chỉ gắn với cơ sở tín ngưỡng là chưa phù hợp với thực tiễn đa dạng, phong phú về đời sống tín ngưỡng, hoạt động tín ngưỡng hiện nay trong phạm vi toàn quốc.

Bên cạnh đó, một số quy định trong Luật thiếu “chủ thể” được thực hiện các quyền như: Tại khoản 3, khoản 4 Điều 6, thiếu chủ thể là tổ chức được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo; tại Điều 35, chưa quy định tổ chức được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo thuyên chuyển chức việc; tại Điều 41, chưa quy định tổ chức được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo mở lớp bồi dưỡng về tôn giáo,…

Khoản 1 Điều 16 Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 quy định điều kiện “tổ chức tôn giáo đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung cho tín đồ tại những nơi chưa đủ điều kiện thành lập tổ chức tôn giáo trực thuộc”, theo đó chỉ phù hợp với tổ chức tôn giáo nội sinh, tổ chức tôn giáo có phạm vi hoạt động trong địa bàn một tỉnh, thành phố mà không phù hợp với tổ chức tôn giáo có quy mô toàn quốc, phạm vi toàn cầu và không thể thực hiện được như trường hợp Giáo hội Công giáo Việt Nam khi đề nghị Vatican đứng tên đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung cho nhóm tín đồ trên địa bàn một xã, phường theo quy định của pháp luật.

Theo Điều 34 Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, tổ chức tôn giáo trước khi thực hiện bổ nhiệm, bầu cử, suy cử chức việc phải gửi hồ sơ đăng ký đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Mặc dù khi áp dụng quy định này, đa số các tổ chức tôn giáo thực hiện thuận lợi, tuy nhiên, còn có một số Hội thánh Tin lành, Hội đồng tinh thần tôn giáo BahaI Việt Nam, một số tổ chức tôn giáo trực thuộc của Giáo hội Công giáo Việt Nam gặp khó khăn do quy định của tổ chức đó là bầu, cử dựa trên nguyên tắc dân chủ, lấy phiếu giới thiệu tín nhiệm công khai, trực tiếp tại đại hội và thường không dự kiến trước nhân sự để bầu.

Ngoài ra, còn có bất cập là nhiều điều khoản của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 liên quan đến nhân sự của các tổ chức có quy định phải có Phiếu lý lịch tư pháp (mặc dù hiện nay quy định về thành phần hồ sơ có Phiếu này đã được bãi bỏ tại Nghị định số 124/2025/NĐ-CP ngày 11/6/2025 của Chính phủ quy định về phân quyền, phân cấp; phân định thẩm quyền địa phương 02 cấp trong lĩnh vực công tác dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo).

Ba là, nhiều quy định của Luật đang quy định cụ thể, chi tiết trình tự, thủ tục thực hiện không còn phù hợp với quy định về thẩm quyền của Quốc hội.

Theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Quốc hội năm 2025, Luật chỉ quy định các vấn đề mang tính ổn định, có giá trị lâu dài, các nội dung chính sách có tính nguyên tắc, định hướng thuộc thẩm quyền của Quốc hội; quy định cụ thể các nội dung liên quan đến quyền con người, quyền, nghĩa vụ công dân, các vấn đề có ảnh hưởng lớn đến đời sống xã hội. Đối với các nội dung quản lý nhà nước theo từng lĩnh vực, các vấn đề mới, có tính kiến tạo phát triển, các vấn đề chưa có thực tiễn kiểm nghiệm phân quyền cho Chính phủ, các cơ quan trong bộ máy Nhà nước trong việc tiếp tục cụ thể hóa các quy định của Luật và thực hiện phân cấp bảo đảm phù hợp với năng lực của từng cơ quan, tổ chức… Trong khi đó, hiện, phần lớn trình tự, thủ tục thực hiện các hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo đều được quy định tại Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, do đó, cần được sửa đổi để phù hợp với quy định hiện hành.

Những trình tự, thủ tục nêu trên được quy định cụ thể tại các điều như: Đăng ký hoạt động tín ngưỡng (Điều 12); Tổ chức lễ hội tín ngưỡng định kỳ (Điều 13); Tổ chức lễ hội tín ngưỡng lần đầu, lễ hội tín ngưỡng được khôi phục hoặc lễ hội tín ngưỡng định kỳ nhưng có thay đổi (Điều 14); Trình tự, thủ tục, thẩm quyền chấp thuận đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung (Điều 17); Trình tự, thủ tục, thẩm quyền cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo (Điều 19); Trình tự, thủ tục, thẩm quyền công nhận tổ chức tôn giáo (Điều 22); Sửa đổi hiến chương (Điều 24); Trình tự, thủ tục, thẩm quyền thành lập, chia, tách, sáp nhập, hợp nhất tổ chức tôn giáo trực thuộc (Điều 29); Thông báo người được phong phẩm hoặc suy cử làm chức sắc (Điều 33); Đăng ký bổ nhiệm, bầu cử, suy cử làm chức việc (Điều 34); Thuyên chuyển chức sắc, chức việc, nhà tu hành (Điều 35); Cách chức, bãi nhiệm chức sắc, chức việc (Điều 36); Trình tự, thủ tục, thẩm quyền chấp thuận thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo (Điều 38); Đăng ký quy chế tổ chức và hoạt động, quy chế tuyển sinh (Điều 39); Mở lớp bồi dưỡng về tôn giáo (Điều 41); Hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc (Điều 44); Đại hội của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc, tổ chức được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo (Điều 45); Cuộc lễ, giảng đạo ngoài cơ sở tôn giáo, địa điểm hợp pháp (Điều 46); Sinh hoạt tôn giáo tập trung của người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam (Điều 47); Hoạt động tôn giáo, hoạt động quan hệ quốc tế về tôn giáo của tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam (Điều 48); Người nước ngoài học tại cơ sở đào tạo tôn giáo ở Việt Nam (Điều 49); Tham gia hoạt động tôn giáo, đào tạo tôn giáo ở nước ngoài (Điều 50); Gia nhập tổ chức tôn giáo nước ngoài (Điều 53).

Một số vấn đề chính cần rà soát, nghiên cứu sửa đổi, bổ sung

Qua đánh giá kết quả thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 cho thấy, cần nghiên cứu sửa đổi Luật để khắc phục những hạn chế, bất cập đã được ghi nhận trong quá trình tổ chức thực hiện Luật và các văn bản hướng dẫn thi hành, bảo đảm sự phù hợp và đồng bộ với tổ chức chính quyền địa phương 02 cấp và các quy định, chính sách mới; bảo đảm thực hiện ngày càng tốt hơn quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam trong tình hình mới và bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật, phục vụ hiệu quả công cuộc phát triển kinh tế - xã hội. Theo đó, một số vấn đề chính cần rà soát, nghiên cứu sửa đổi, bổ sung bao gồm:

Thứ nhất, đối với chính sách xác lập nguyên tắc, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân khi thực hiện hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng.

Cần có quy định cụ thể về nguyên tắc tổ chức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng; quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của tổ chức, cá nhân khi thực hiện hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng;…

Bổ sung các quy định về tổ chức các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng; bổ sung điều khoản quy định về cơ chế thông báo, đăng ký, đề nghị đối với hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng.

Cần có điều khoản quy định về trách nhiệm của các bên liên quan khi cung cấp các thông tin tôn giáo trên không gian mạng, như: định danh, xác thực tài khoản của các cá nhân, tổ chức tôn giáo đối với cơ quan chức năng; về quản lý hoạt động tôn giáo xuyên biên giới, bao gồm các nền tảng không đặt máy chủ tại Việt Nam;…

Đồng thời, cần nghiên cứu, cân nhắc về việc giao Chính phủ quy định chi tiết về các nội dung này khi xây dựng Nghị định hướng dẫn Luật. Đồng thời, cần rà soát, tích hợp, bảo đảm tính thống nhất giữa các luật để tạo hành lang pháp lý rõ ràng, cụ thể đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước đối với hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng.

Thứ hai, đối với chính sách về phân quyền, phân cấp trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo.

Đối với vấn đề về giải thích từ ngữ (Điều 2), cần nghiên cứu sửa đổi, bổ sung chi tiết hơn trong quy định về giải thích từ ngữ liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo như “hoạt động tín ngưỡng”, “cơ sở tín ngưỡng”, “tổ chức tôn giáo trực thuộc”, “cơ sở tôn giáo”; đồng thời bổ sung cách giải thích “hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng”.

Bên cạnh đó, nghiên cứu, bổ sung những quy định như: quy định về hợp tác quốc tế trong công tác tín ngưỡng, tôn giáo (nguyên tắc, nội dung hợp tác quốc tế trong công tác tín ngưỡng, tôn giáo); quy định về thời gian đảm nhiệm, giữ nhiệm vụ làm người đại diện, thành viên ban quản lý cơ sở tín ngưỡng; quy định về hoạt động tín ngưỡng của cơ sở tín ngưỡng phải được đăng ký một lần với Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có cơ sở tín ngưỡng trước khi cơ sở thực hiện hoạt động tín ngưỡng; quy định về đăng ký hoạt động tín ngưỡng tại các cơ sở có sinh hoạt tín ngưỡng (tư gia), cơ sở do doanh nghiệp đầu tư xây dựng có hoạt động tín ngưỡng để quản lý, hạn chế việc tụ tập đông người sinh hoạt và hoạt động mê tín, dị đoan; quy định về điều kiện, thẩm quyền chấp thuận đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung của người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam; quy định về quản lý sinh hoạt tôn giáo của người nước ngoài trong các khu công nghiệp, khu kinh tế,... nơi chính quyền địa phương khó tiếp cận, quản lý; bổ sung chủ thể tổ chức tôn giáo trực thuộc được đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung tại Điều 16; quy định về người đại diện tại điều kiện thành lập, chia, tách, sáp nhập tổ chức tôn giáo trực thuộc, thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo; quy định về việc thuyên chuyển chức việc của tổ chức được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo; quy định bổ nhiệm chức việc đồng thời thuyên chuyển; quy định về hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc;

Đồng thời, nghiên cứu sửa đổi Điều 32 theo hướng cân nhắc, loại bỏ điều kiện về “án tích” của nhân sự dự kiến làm người đại diện điểm nhóm; làm chức việc của tổ chức được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo; làm chức sắc, chức việc các tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc; sửa đổi Điều 34 về đăng ký người được bổ nhiệm, bầu cử, suy cử làm chức việc để tạo thuận lợi cho tất cả các tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc; bổ sung cụm từ “tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc” cho rõ chủ thể được thực hiện các hoạt động xuất bản, giáo dục, đào tạo, y tế, bảo trợ xã hội, từ thiện nhân đạo theo quy định của pháp luật có liên quan; bổ sung tổ chức được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo được tham gia các hoạt động từ thiện, xã hội.

Ngoài ra, bổ sung, quy định rõ nội dung quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo (Điều 60) về phạm vi của hoạt động quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo, từ đó xác định rõ trách nhiệm của cơ quan chuyên môn về tín ngưỡng, tôn giáo làm căn cứ để xây dựng tổ chức bộ máy; chức năng, nhiệm vụ; vị trí việc làm.

Về thẩm quyền, đối với 08 nội dung thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân cấp huyện theo quy định của Luật, đến nay không còn đơn vị hành chính cấp huyện, vì vậy, thẩm quyền giải quyết 08 nội dung công việc nêu trên cần điều chỉnh để phù hợp với việc tổ chức chính quyền địa phương 02 cấp; bổ sung 05 thẩm quyền cho Ủy ban nhân dân cấp xã; chuyển các thẩm quyền theo Luật đang giao cho Sở Dân tộc và Tôn giáo/ Sở Nội vụ sang Ủy ban nhân dân cấp tỉnh theo quy định của Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025.

Đối với các điều, khoản hướng dẫn chi tiết về điều kiện, trình tự, thủ tục, thẩm quyền chấp thuận, hồ sơ đề nghị đang có trong Luật hiện nay, đề nghị chuyển sang Nghị định hướng dẫn.

Thứ ba, đối với chính sách bổ sung biện pháp quản lý nhà nước trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo, cần bổ sung các quy định thẩm quyền như sau: (i) Bổ sung quy định về thẩm quyền thu hồi văn bản chấp thuận đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung của công dân Việt Nam khi vi phạm pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo hoặc khi có sai phạm trong quá trình thực hiện; (ii) Bổ sung quy định về thẩm quyền thu hồi văn bản chấp thuận cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo khi vi phạm pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo hoặc khi có sai sót trong quá trình cấp giấy; (iii) Bổ sung quy định về việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền có quyền đình chỉ hoặc yêu cầu tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc đình chỉ chức vụ khi chức việc vi phạm các quy định của pháp luật hoặc một số quy định trong hiến chương, quy chế của tổ chức; (iv) Bổ sung quy định thu hồi văn bản chấp thuận đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung của người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam.

Thứ tư, đối với chính sách về đơn giản hóa thủ tục hành chính và chuyển đổi số trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo, cần tiếp tục đơn giản hóa thủ tục hành chính theo hướng trên cơ sở kế thừa các thủ tục hành chính theo quy định của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo hiện hành (không làm phát sinh thủ tục hành chính mới). Đồng thời, rà soát, bỏ các quy định có liên quan đến cắt giảm thành phần hồ sơ như bỏ quy định về Phiếu lý lịch tư pháp; bỏ các quy định về thành phần hồ sơ, việc thực hiện các thủ tục trong Luật theo hướng giao Chính phủ quy định chi tiết và phù hợp với tổ chức chính quyền địa phương 02 cấp.

Uyên Nhi

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Điểm mới đáng chú ý trong chính sách xây dựng Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Điểm mới đáng chú ý trong chính sách xây dựng Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Chính sách Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) được Bộ Dân tộc và Tôn giáo xây dựng nhằm khắc phục những hạn chế, bất cập trong quá trình thi hành Luật thời gian qua, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi hơn cho cá nhân, tổ chức thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.
Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo theo quan điểm của Đảng

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo theo quan điểm của Đảng

Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là một trong những quyền cơ bản của con người, được pháp luật Việt Nam ghi nhận, bảo đảm thực hiện. Nhận thức rõ điều đó, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn xác định việc tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Nhân dân là chủ trương nhất quán, đồng thời đặt ra yêu cầu tăng cường quản lý nhà nước nhằm phát huy các giá trị tốt đẹp của tôn giáo và bảo đảm ổn định xã hội.
Cần thiết sửa đổi Luật Tín ngưỡng, tôn giáo trong bối cảnh tinh gọn bộ máy, thực hiện chuyển đổi số

Cần thiết sửa đổi Luật Tín ngưỡng, tôn giáo trong bối cảnh tinh gọn bộ máy, thực hiện chuyển đổi số

Thực hiện quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Bộ Dân tộc và Tôn giáo đã trình Chính phủ về hồ sơ chính sách của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi). Theo đó, việc sửa đổi toàn diện Luật Tín ngưỡng, tôn giáo trong thời điểm hiện nay là hết sức cần thiết, đặc biệt trong bối cảnh sắp xếp, tinh gọn bộ máy, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, đáp ứng sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, chuyển đổi số.
Công văn đặt bài viết cho ấn phẩm chuyên sâu truyền thông về dự án Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Công văn đặt bài viết cho ấn phẩm chuyên sâu truyền thông về dự án Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Tạp chí Dân chủ và Pháp luật trân trọng kính mời các chuyên gia, độc giả tham gia viết bài cho ấn phẩm chuyên đề chuyên sâu về truyền thông chính sách và góp ý vào dự án Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)