Thứ tư 09/09/2026 01:32
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện quy định pháp luật về quyền kiến nghị của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự

Bài viết tập trung phân tích quy định pháp luật hiện hành về quyền kiến nghị của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự, đồng thời chỉ rõ những bất cập, vướng mắc trong các quy định pháp luật liên quan và đưa ra một số kiến nghị về vấn đề này.

1. Đặt vấn đề

Dưới góc độ ngôn ngữ học, thuật ngữ “kiến nghị” được hiểu là “nêu ý kiến và đề nghị về một việc chung để cơ quan có thẩm quyền xét và giải quyết”[1]. Trong khoa học luật tố tụng, “kiến nghị” là việc cơ quan, tổ chức, cá nhân đề nghị với các cơ quan tiến hành tố tụng khắc phục những vi phạm và thực hiện đúng những quy định của pháp luật tố tụng... Dưới góc độ khoa học kiểm sát, “kiến nghị” là quyền năng, là biện pháp pháp lý quan trọng của Viện kiểm sát nhân dân khi thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp, góp phần bảo đảm cho pháp luật được thi hành nghiêm chỉnh, thống nhất[2].

Kiến nghị là một trong những nhiệm vụ, quyền hạn khi thực hiện chức năng của Viện kiểm sát nhân dân được ghi nhận trong Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1960, Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1981 và Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002. Tuy nhiên, phải đến Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 thì chế định kiến nghị mới được quy định cụ thể, rõ ràng và chặt chẽ hơn.

Theo quy định của Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014, khi thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp, Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể như sau: “Trường hợp hành vi, quyết định của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động tư pháp có vi phạm pháp luật ít nghiêm trọng không thuộc trường hợp kháng nghị quy định tại khoản 1 Điều này thì Viện kiểm sát nhân dân kiến nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân đó khắc phục vi phạm và xử lý nghiêm minh người vi phạm pháp luật, nếu phát hiện sơ hở, thiếu sót trong hoạt động quản lý thì kiến nghị cơ quan, tổ chức hữu quan khắc phục và áp dụng các biện pháp phòng ngừa vi phạm pháp luật và tội phạm. Cơ quan, tổ chức cá nhân có liên quan có trách nhiệm xem xét, giải quyết, trả lời kiến nghị của Viện kiểm sát nhân dân theo quy định của pháp luật”[3].

Như vậy, Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 đã quy định cụ thể 02 trường hợp mà Viện kiểm sát nhân dân ban hành kiến nghị, đó là: (i) Khi phát hiện hành vi, quyết định của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động tư pháp có vi phạm pháp luật ít nghiêm trọng (nếu vi phạm pháp luật nghiêm trọng thì ban hành kháng nghị); (ii) Khi phát hiện sơ hở, thiếu sót trong hoạt động quản lý.

2. Quy định pháp luật hiện hành về quyền kiến nghị của Viện Kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự

2.1. Đối tượng của quyền kiến nghị

Theo quy định của Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014, trong quá trình thực hiện chức năng kiểm sát việc giải quyết các vụ án dân sự, Viện kiểm sát nhân dân có quyền kiến nghị đối với quyết định, hành vi tố tụng của Tòa án, những người tiến hành tố tụng của Tòa án và của cơ quan tổ chức, cá nhân trong hoạt động tố tụng dân sự có vi phạm pháp luật và kiến nghị cơ quan, tổ chức hữu quan khắc phục sơ hở, thiếu sót trong hoạt động quản lý và áp dụng các biện pháp phòng ngừa vi phạm pháp luật và tội phạm[4].

Theo khoản 2 Điều 5 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 và quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Viện kiểm sát có quyền kiến nghị đối với các bản án, quyết định, văn bản, hành vi của các chủ thể tham gia hoạt động tố tụng dân sự gồm: Các hành vi tố tụng của Tòa án và hành vi của các chủ thể tham gia tố tụng dân sự; các bản án của Tòa án: Văn bản trả lại đơn khởi kiện giải quyết vụ án dân sự (Điều 194); thông báo thụ lý vụ án dân sự (Điều 196); quyết định chuyển vụ án dân sự cho Tòa án khác (Điều 41); quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời (khoản 2 Điều 139); quyết định trả lại đơn khởi kiện (Điều 194); quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm (Điều 220), đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm (Điều 290), đưa vụ án ra xét theo thủ tục rút gọn (Điều 319); quyết định hoãn phiên tòa sơ thẩm (Điều 233), hoãn phiên tòa phúc thẩm (Điều 296); quyết định sửa chữa, bổ sung bản án (nếu có) (Điều 268); quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ việc dân sự (Điều 214), tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm (Điều 288); quyết định tiếp tục giải quyết vụ án dân sự (Điều 216); quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự (Điều 217), đình chỉ xét xử phúc thẩm (Điều 289). Riêng kiến nghị theo thủ đặc biệt thì đối tượng của quyền kiến nghị là quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao (Điều 358).

2.2. Hình thức, nội dung của quyền kiến nghị

Pháp luật hiện hành chưa quy định cụ thể về hình thức kiến nghị, song với quy định tại khoản 2 Điều 5 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 về đối tượng của quyền kiến nghị có thể là hành vi và các văn bản của cơ quan (Tòa án), tổ chức, cá nhân, có thể xác định hình thức thực hiện kiến nghị của Viện kiểm sát là đa dạng, linh hoạt để vừa bảo đảm tính pháp lý, vừa phù hợp với mỗi đối tượng cụ thể. Theo đó, hình thức kiến nghị có thể thực hiện bằng văn bản hoặc lời nói, ví dụ như: Tại phiên tòa, kiểm sát viên phát hiện thẩm phán chủ tọa phiên tòa vi phạm về điều khiển việc hỏi (hỏi không đúng thứ tự) thì kiểm sát viên yêu cầu (bằng lời nói) thẩm phán phải khắc phục ngay vi phạm.

Trường hợp kiến nghị bằng văn bản thường áp dụng đối với các vi phạm trong việc ban hành quyết định tố tụng của Tòa án, trong trường hợp này, Viện kiểm sát có thể thực hiện kiến nghị theo những phương thức sau: Kiến nghị trực tiếp đối với một vi phạm cụ thể; hoặc, tập hợp nhiều vi phạm để ban hành kiến nghị yêu cầu Tòa án, các chủ thể tham gia tố tụng khắc phục vi phạm. Khác với văn bản kháng nghị được Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định rất cụ thể, văn bản kiến nghị lại chưa được luật quy định rõ nội dung. Tuy nhiên, trên thực tế, việc soạn thảo văn bản kiến nghị sẽ bao gồm: Mẫu kiến nghị đối với các dạng vi phạm cụ thể và mẫu kiến nghị tổng hợp chung đối với nhiều vi phạm của Tòa án[5].

Trong văn bản kiến nghị cần nêu rõ: Căn cứ ban hành kiến nghị; nội dung vi phạm cần kiến nghị; vi phạm quy định điều luật và văn bản pháp luật cụ thể; đánh giá tính chất, hậu quả của vi phạm; yêu cầu Tòa án, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng của Tòa án khắc phục vi phạm và trả lời kiến nghị của Viện kiểm sát[6].

2.3. Căn cứ thực hiện quyền kiến nghị

Khi phát hiện hành vi, quyết định của Tòa án, thẩm phán, thẩm tra viên, thư ký, các chủ thể tham gia tố tụng dân sự khác có vi phạm pháp luật ít nghiêm trọng, không thuộc các trường hợp kháng nghị thì Viện kiểm sát thực hiện quyền kiến nghị. Ngoài ra, trong trường hợp các chủ thể tham gia giải quyết vụ việc dân sự không thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình cũng là căn cứ để Viện kiểm sát thực hiện quyền kiến nghị.

Riêng kiến nghị theo thủ tục đặc biệt, áp dụng khoản 1 Điều 358 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Viện kiểm sát nhân dân có quyền kiến nghị xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao khi có những căn cứ sau: (i) Có vi phạm pháp luật nghiêm trọng; (ii) Phát hiện tình tiết quan trọng mới có thể làm thay đổi cơ bản nội dung, quyết định mà Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, đương sự đã không thể biết được khi ra quyết định đó; (iii) Phát hiện tình tiết mới có thể làm thay đổi cơ bản nội dung quyết định tuyên bố phá sản mà Tòa án nhân dân, người tham gia thủ tục phá sản không thể biết được khi Tòa án nhân dân ra quyết định.

2.4. Thẩm quyền thực hiện quyền kiến nghị

Theo quy định của Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 và Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, chủ thể có quyền kiến nghị bao gồm Viện trưởng Viện kiểm sát và kiểm sát viên, tuy nhiên, pháp luật hiện hành lại chưa quy định cụ thể về vấn đề này nên tùy theo đặc điểm, tính chất và yêu cầu mà mỗi hành vi và quyết định tố tụng, căn cứ vào chủ thể có trách nhiệm thực hiện kiến nghị và nội dung kiến nghị để xác định trường hợp nào do Viện trưởng Viện kiểm sát ký văn bản kiến nghị, trường hợp nào kiểm sát viên có thẩm quyền kiến nghị. Về nguyên tắc, Viện trưởng có quyền đại diện Viện kiểm sát và với tư cách kiểm sát viên thực hiện mọi quyền kiến nghị mà pháp luật quy định cho Viện kiểm sát và kiểm sát viên, còn kiểm sát viên thực hiện những quyền kiến nghị mà pháp luật hiện hành trực tiếp quy định cho họ và một số trường hợp khác được quy định trong các văn bản hướng dẫn thi hành Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nhằm khắc phục những vi phạm trong hoạt động xét xử tại phiên tòa, phiên họp hoặc vi phạm của thẩm phán, thư ký Tòa án hoặc thẩm tra viên (nếu có)[7].

Theo Điều 20 Thông tư liên tịch số 02/2016/TTLT-VKSNDTC-TANDTC ngày 31/8/2016 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao quy định việc phối hợp giữa Viện kiểm sát nhân dân và Tòa án nhân dân trong việc thi hành một số quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự (Thông tư liên tịch số 02/2016/TTLT-VKSNDTC-TANDTC), Viện trưởng Viện kiểm sát quyết định thực hiện các quyền yêu cầu, quyền kiến nghị quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Thông tư liên tịch số 02/2016/TTLT-VKSNDTC-TANDTC, cụ thể: (i) Viện trưởng Viện kiểm sát có quyền kiến nghị với Chánh án Tòa án đang giải quyết vụ việc về quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời, Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kiến nghị với Chánh án Tòa án đã ra quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục rút gọn trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định[8]. (ii) Kiểm sát viên có quyền kiến nghị với thẩm phán về quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời tại phiên tòa; kiểm sát viên cũng có quyền kiến nghị với Tòa án đã trả lại đơn khởi kiện[9]. Riêng kiến nghị theo thủ tục đặc biệt, thẩm quyền ban hành kiến nghị chỉ thuộc Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

2.5. Hậu quả của việc thực hiện quyền kiến nghị

Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 và Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 có quy định về trách nhiệm xem xét, giải quyết, trả lời kiến nghị của các cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan trong việc thực hiện quyền kiến nghị của Viện kiểm sát. Theo đó, việc xem xét, giải quyết phải trên cơ sở đảm bảo nguyên tắc là phải khắc phục vi phạm pháp luật, xử lý nghiêm minh người vi phạm pháp luật hoặc áp dụng biện pháp phòng ngừa vi phạm pháp luật[10].

Trên cơ sở đó, Viện kiểm sát theo dõi và kiểm tra việc thực hiện kiến nghị của Viện kiểm sát và yêu cầu các cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành các kiến nghị của Viện kiểm sát nhân dân. Đây là vấn đề quan trọng nhằm bảo đảm hoạt động kiến nghị của Viện kiểm sát có hiệu lực trên thực tế, nếu các chủ thể đó vẫn không khắc phục vi phạm thì tùy từng trường hợp cụ thể, Viện kiểm sát tiếp tục thực hiện quyền kiến nghị lên cấp trên như quyền kiến nghị đối với quyết định trả lại đơn khởi kiện, nếu không đồng ý với quyết định giải quyết kiến nghị của Tòa án nhân dân cùng cấp thì kiểm sát viên có quyền kiến nghị với Tòa án cấp trên một cấp hoặc tiếp tục kiến nghị tối với Tòa án nhân dân cấp cao hoặc Tòa án nhân tối cao[11].

3. Một số vướng mắc, bất cập trong quy định pháp luật về quyền kiến nghị của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự

Thứ nhất, Điều 196 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định, trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày thụ lý vụ án, thẩm phán phải thông báo bằng văn bản cho Viện kiểm sát cùng cấp về việc Tòa án đã thụ lý vụ án. Có thể thấy, điều luật quy định việc Tòa án gửi thông báo thụ lý vụ việc cho Viện kiểm sát nhưng lại không quy định Tòa án phải gửi các tài liệu, chứng cứ kèm theo cho Viện kiểm sát. Vì vậy, trên thực tế, ngay từ khi Tòa án gửi thông báo và quyết định thụ lý vụ án cho Viện kiểm sát, Tòa án thường chỉ gửi thông báo thụ lý mà không gửi kèm theo tài liệu, chứng cứ liên quan đến thời hiệu khởi kiện, điều kiện khởi kiện, tư cách pháp lý của người khởi kiện, xác định thẩm quyền giải quyết vụ án, xác định quan hệ tranh chấp trong thông báo thụ lý nên đã gây khó khăn cho Viện kiểm sát trong kiểm sát việc thụ lý vụ án, chẳng hạn như, Tòa án tiến hành thụ lý vụ án không đúng các nội dung nói trên thì trong trường hợp này, Viện kiểm sát khó có thể phát hiện ra để kịp thời kiến nghị Tòa án khắc phục vi phạm.

Thứ hai, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 chỉ quy định về thời hạn giải quyết, trả lời kiến nghị tại các điều 41, 141, 194 và 319; còn lại các trường hợp khác chưa được quy định. Khoản 2 Điều 5 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 chỉ quy định các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan có trách nhiệm xem xét, giải quyết, trả lời kiến nghị của Viện kiểm sát theo quy định pháp luật. Theo quy định tại khoản 3 Điều 35 Thông tư liên tịch số 02/2016/TTLT-VKSNDTC-TANDTC thì trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được kiến nghị về việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của Viện kiểm sát, Tòa án phải xem xét và trả lời bằng văn bản cho Viện kiểm sát đã kiến nghị biết. Trường hợp vụ việc phức tạp, cần có thêm thời gian thì Tòa án có văn bản thông báo lý do cho Viện kiểm sát biết và trả lời Viện kiểm sát trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được kiến nghị. Tuy nhiên, hiện nay, vẫn chưa có văn bản nào quy định chế tài xử lý đối với những vi phạm đã bị kiến nghị nhưng Tòa án chậm trả lời hoặc không trả lời bằng văn bản cho Viện kiểm sát biết, dẫn đến tình trạng vi phạm diễn ra thường xuyên, lặp đi, lặp lại.

Thứ ba, Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và các văn bản hướng dẫn thi hành chưa quy định tiêu chí xác định mức độ vi phạm để thực hiện quyền kiến nghị. Bên cạnh đó, thời hạn giải quyết kiến nghị vi phạm pháp luật và kiến nghị phòng ngừa của Viện kiểm sát chưa được quy định đầy đủ, toàn diện và chưa có sự thống nhất. Điều này làm cho việc xác định căn cứ để kháng nghị hay kiến nghị chưa thực sự rõ ràng; một số nhận định còn mang tính chủ quan của người đề xuất kiến nghị.

Thứ tư, trên thực tế, một bộ phận kiểm sát viên còn chủ quan, chưa phát huy hết tinh thần trách nhiệm, kiến nghị chưa có sự đầu tư, phân tích kỹ lưỡng, sâu sắc nên chưa đạt được hiệu quả, mục đích, thiếu sức thuyết phục các cơ quan, tổ chức trong việc chấp nhận và khắc phục. Một số trường hợp, kiểm sát viên còn có tư tưởng nể nang, ngại va chạm nên khi phát hiện vi phạm đã không kiên quyết tham mưu lãnh đạo để ban hành kiến nghị khắc phục mà chỉ dừng lại ở việc trao đổi, góp ý sửa chữa.

4. Một số kiến nghị

Thứ nhất, như đã phân tích ở phần trên, việc Tòa án chỉ gửi thông báo thụ lý cho Viện kiểm sát mà không gửi kèm chứng cứ, tài liệu có liên quan đến nội dung vụ án có thể dẫn đến việc Viện kiểm sát cùng cấp không phát hiện kịp thời những sai phạm của Tòa án. Vì vậy, theo tác giả, cần bổ sung quy định tại khoản 1 Điều 196 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 theo hướng: “Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày thụ lý vụ án, thẩm phán phải thông báo bằng văn bản cho nguyên đơn, bị đơn, cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết vụ án và gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp thông báo thụ lý cùng với các tài liệu, chứng cứ có liên quan về việc thụ lý vụ án của Tòa án”.

Thứ hai, theo tác giả, để thống nhất về thời hạn Tòa án giải quyết, trả lời kiến nghị của Viện kiểm sát, cần quy định rõ trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 theo hướng: “Tòa án phải trả lời kiến nghị cho Viện kiểm sát trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được kiến nghị của Viện kiểm sát, Tòa án phải trả lời và nêu ý kiến của mình về việc chấp nhận bản kiến nghị hay không chấp nhận bản kiến nghị”. Bên cạnh đó, cần nghiên cứu để bổ sung các điều, khoản liên quan đến chế tài xử lý đối với những vi phạm đã bị kiến nghị nhưng Tòa án chậm trả lời hoặc không trả lời bằng văn bản cho Viện kiểm sát biết.

Thứ ba, Viện kiểm sát cần chú trọng, tăng cường kiểm sát về thời hạn tố tụng trong quá trình giải quyết các vụ án dân sự bằng cách kiểm sát vụ án ngay từ khi Tòa thông báo thụ lý. Khi nhận văn bản thông báo thụ lý vụ án, kiểm sát viên cần lưu ý nội dung, những vấn đề cụ thể mà người khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết. Nói cách khác, phải xác định ngay từ đầu quan hệ tranh chấp đơn giản hay phức tạp để chủ động theo dõi quá trình thực hiện các thủ tục tố tụng. Đối với những vụ án đơn giản, chứng cứ rõ ràng, tính chất và mức độ tranh chấp không phức tạp, Tòa án không đưa ra xét xử thì cần chú trọng kiểm sát thời hạn Tòa án ra quyết định, thời hạn gửi quyết định cho đương sự và Viện kiểm sát cùng cấp. Đối với những vụ án Tòa án đưa ra xét xử (phần lớn là những vụ tranh chấp liên quan đến nhà, đất…), đây là những vụ có quan hệ tranh chấp phức tạp, liên quan đến nhiều lĩnh vực, được điều chỉnh bởi nhiều văn bản pháp luật khác nhau, có nhiều đương sự tham gia tố tụng, kiểm sát viên phải chủ động theo dõi thời hạn tố tụng, không để vụ án bị kéo dài; nếu phát hiện vi phạm về quá thời hạn thì kiến nghị kịp thời để Tòa án khắc phục ngay.

Thứ tư, nhằm kịp thời phát hiện vi phạm để ban hành kiến nghị, ngay sau khi nhận được bản án, quyết định và các văn bản tố tụng khác của Tòa án, kiểm sát viên được phân công phải chủ động kiểm sát về hình thức và nội dung của các văn bản, đồng thời đối chiếu với mẫu biểu của Tòa án nhân dân tối cao, với quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2014. Trong trường hợp xác định được dạng vi phạm, kiểm sát viên chủ động, kịp thời báo cáo, tham mưu lãnh đạo thực hiện quyền kiến nghị. Đối với những vi phạm nghiêm trọng, cần phải khắc phục ngay, sau đó sẽ ban hành kiến nghị trực tiếp đối với vụ việc cụ thể. Đối với những vi phạm về thời hạn, kiểm sát viên cập nhật vào sổ theo dõi riêng để tổng hợp vi phạm kiến nghị vào 06 tháng đầu năm hoặc cả năm theo quy định.

Thứ năm, nâng cao kỹ năng kiểm sát việc thực hiện các yêu cầu trong bản kiến nghị. Sau khi ban hành kiến nghị, lãnh đạo đơn vị chỉ đạo kiểm sát viên trao đổi với Tòa án, cơ quan bị kiến nghị có văn bản trả lời tiếp thu theo yêu cầu trong kiến nghị. Đồng thời, kiểm sát lại các tài liệu trong hồ sơ về việc khắc phục vi phạm của Tòa án nếu là dạng vi phạm cần khắc phục, từ đó, nâng cao hiệu quả, chất lượng của bản kiến nghị Viện kiểm sát đã ban hành./.

TS. Nguyễn Ngọc Anh Đào

Khoa Luật Kinh tế, Trường Đại học Ngân hàng Thành phố Hồ Chí Minh

[1]. Từ điển Tiếng Việt (2000), Nxb. Thanh niên, tr. 448.

[2]. Tài liệu chương trình bồi dưỡng kỹ năng kiểm sát của Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội (2017), tr. 4.

[3]. Khoản 2 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014.

[4]. Khoản 2 Điều 5 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014.

[5]. Lê Thanh Dương (2018), “Về quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị của Viện Kiểm sát trong tố tụng dân sự”, Tạp chí Kiểm sát, số 12/2018, tr. 25.

[6]. Mẫu số 10 Quyết định số 204/QĐ-VKSTC ngày 01/6/2017.

[7]. Tài liệu chương trình bồi dưỡng kỹ năng kiểm sát của Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội (2017), tr. 15.

[8] Khoản 1 Điều 319 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[9]. Khoản 1 Điều 194 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[10]. Tài liệu chương trình bồi dưỡng kỹ năng kiểm sát của Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội (2017), tr. 20.

[11]. Khoản 7 Điều 194 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 2 (Số 403), tháng 4/2024)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh của nền kinh tế nền tảng trong bối cảnh chuyển đổi số đang làm thay đổi cấu trúc quan hệ lao động và đặt ra những thách thức mới đối với việc bảo vệ quyền của người lao động. Nghiên cứu phân tích địa vị pháp lý và các quyền cơ bản của lao động nền tảng tại Việt Nam trong các lĩnh vực lao động như vận tải, giao hàng và dịch vụ trực tuyến. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tổng hợp thực tiễn, nghiên cứu nhận diện khoảng trống của pháp luật trong bảo đảm quyền của nhóm lao động này. Kết quả nghiên cứu cho thấy, pháp luật Việt Nam chưa theo kịp đặc thù của mô hình lao động nền tảng như xác định quan hệ lao động, an sinh xã hội và kiểm soát thuật toán. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng.
Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Tóm tắt: Tiêu chí đánh giá chất lượng công chức làm công tác thi hành án dân sự là tập hợp các dấu hiệu/nhóm dấu hiệu phản ánh năng lực, hành vi công vụ, phẩm chất đạo đức và kết quả thực thi nhiệm vụ của công chức thi hành án dân sự, sử dụng để đo lường, so sánh và cải thiện hiệu suất làm việc của đội ngũ công chức trong hệ thống thi hành án dân sự. Nghiên cứu cho thấy, hiện, tiêu chí đánh giá chất lượng còn thiếu, nhất là tiêu chí phản ánh bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp, tư duy cải cách... Vì vậy, nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận của việc xây dựng tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trên nền tảng quản trị công vụ hiện đại, gắn với vị trí việc làm, khung năng lực và kết quả thực hiện nhiệm vụ. Trên cơ sở phân tích thực trạng quy định pháp luật hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những kết quả đạt được, đồng thời, nhận diện hạn chế, bất cập trong thực trạng đánh giá hiện nay. Từ đó, nghiên cứu đề xuất hệ tiêu chí đánh giá theo hướng kết hợp giữa tiêu chí chung của công chức với tiêu chí đặc thù của từng chức danh như Chấp hành viên, Thẩm tra viên, Thư ký thi hành án nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ công chức ngành thi hành án dân sự đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030.
Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Trong bối cảnh yêu cầu phát triển đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nâng cao chất lượng quản trị quốc gia đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam ở cấp độ cấu trúc, thay vì sửa đổi từng văn bản riêng lẻ. Trên cơ sở định hướng của Kết luận số 09-KL/TW và đối chiếu với Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025*, nghiên cứu phân tích, làm rõ các vấn đề liên quan đến cấu trúc nguồn luật, hình thức văn bản quy phạm pháp luật, nguyên tắc xử lý xung đột pháp luật, nguồn bổ trợ, văn bản hợp nhất và cơ chế đánh giá sau ban hành, từ đó, chỉ ra một số nội dung chưa được thể chế hóa đầy đủ và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng tinh, gọn, thống nhất, minh bạch, dễ tiếp cận, có khả năng kiến tạo phát triển.
Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Quyền được đào tạo của người lao động là một trong những quyền cơ bản, có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm việc làm bền vững và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong quan hệ lao động, nguyên tắc tự do hợp đồng không được áp dụng tuyệt đối, mà chịu sự điều chỉnh và giới hạn nhất định nhằm bảo vệ người lao động là bên yếu thế. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, nghiên cứu làm rõ các giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động nhằm bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động, từ đó, đánh giá thực tiễn áp dụng và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Từ khóa: tự do hợp đồng; quan hệ lao động; quyền được đào tạo.
Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Tóm tắt: Xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm trật tự quản lý nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch, đồng thời, góp phần xây dựng môi trường kinh doanh du lịch an toàn, lành mạnh và bền vững. Thời gian qua, pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch từng bước được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm trên thực tế. Tuy nhiên, các quy định hiện hành còn một số hạn chế như thiếu thống nhất, chưa rõ ràng, còn chồng chéo và chưa bao quát đầy đủ một số hành vi vi phạm đặc thù. Trên cơ sở phân tích một số bất cập của pháp luật hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả xử phạt trong thực tiễn.
Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.
Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.
Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Tóm tắt: Việt Nam là thành viên thứ 100 của Diễn đàn chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận (IF on BEPS) và cam kết thực hiện các tiêu chuẩn tối thiểu trong khuôn khổ sáng kiến chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Đến nay, Việt Nam bước đầu triển khai 02 trong số 04 quy tắc tối thiểu thông qua xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở các quy định thuộc Trụ cột Hai OECD. Tuy nhiên, đối chiếu với điều kiện thực tiễn trong nước và kinh nghiệm lập pháp quốc tế, khung pháp luật hiện hành còn tồn tại một số hạn chế cần nghiên cứu, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích các quy định về chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu của OECD, so sánh kinh nghiệm triển khai tại Vương quốc Anh và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo cơ chế chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu tại Việt Nam.
Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.

Theo dõi chúng tôi trên: