Từ khóa: trợ giúp pháp lý; chất lượng; hiệu quả; tiêu chí; chỉ số.
Abstract: Legal aid activities play a crucial role in realizing sustainable development goals, particularly by ensuring that no one is left behind in accessing justice. Therefore, Vietnam always pays attention to the quality and effectiveness of legal aid activities. However, objectively and comprehensively assessing the quality and effectiveness of legal aid activities requires the development of appropriate criteria and indicators. This article analyzes several theoretical and practical issues related to the development of indicators for evaluating the quality and effectiveness of legal aid activities, and proposes some criteria and indicators that should be applied.
Keywords: Legal aid; quality; effectiveness; criteria; indicators.
Đặt vấn đề
Điều 2 Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 quy định: “Trợ giúp pháp lý là việc cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho người được trợ giúp pháp lý trong vụ việc trợ giúp pháp lý theo quy định của Luật này, góp phần bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong tiếp cận công lý và bình đẳng trước pháp luật”. Trợ giúp pháp lý (TGPL) được bảo đảm kinh phí hoạt động từ nguồn ngân sách nhà nước, cùng với các khoản đóng góp, tài trợ của tổ chức, cá nhân trong nước, ngoài nước và các nguồn hợp pháp khác. Kinh phí từ ngân sách nhà nước được bố trí trong dự toán hằng năm của cơ quan thực hiện chức năng quản lý nhà nước về TGPL theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước[1].
Đặc trưng nổi bật của hoạt động TGPL thể hiện ở sự kết hợp giữa nguồn lực công và nguồn lực xã hội nhằm bảo vệ quyền, lợi ích của nhóm yếu thế khi phát sinh vấn đề pháp lý. Cách thức huy động và sử dụng đan xen hai nguồn lực này tác động lớn đến tổ chức thực hiện, đánh giá chất lượng và hiệu quả hoạt động TGPL. Các đặc trưng này chi phối phương pháp đánh giá định lượng và định tính, đồng thời, giữ vai trò quyết định trong quá trình xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả của hoạt động TGPL.
1. Nội hàm khái niệm chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý
Chất lượng và hiệu quả hoạt động TGPL là hai khái niệm nền tảng, có ý nghĩa quan trọng về lý luận, tạo cơ sở để xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số phù hợp nhằm đánh giá một cách toàn diện hoạt động TGPL.
1.1. Chất lượng hoạt động trợ giúp pháp lý
“Chất lượng” là khái niệm chỉ trạng thái tốt, xấu của sản phẩm, hoạt động như chất lượng dịch vụ, chất lượng sản phẩm, chất lượng cuộc sống. Tuy nhiên, nội hàm khái niệm “chất lượng” không đơn thuần chỉ trạng thái sản phẩm, dịch vụ hay hoạt động. Hiểu một cách toàn diện thì “chất lượng là chiến lược kinh doanh cơ bản, nhờ đó sản phẩm và dịch vụ đáp ứng đầy đủ nhu cầu của cả người mua nội bộ và bên ngoài, đáp ứng cả những kỳ vọng được nói ra và không được nói ra”[2].
“Chất lượng hoạt động xã hội” có ý nghĩa đối với sự phát triển của thực thể thực hiện hoạt động xã hội và sự phát triển của xã hội. Trong mọi hoạt động, “chất lượng” luôn được theo dõi, đánh giá và kiểm soát trong suốt quá trình thực hiện. Tùy thuộc phạm vi, độ phức tạp của việc đánh giá, việc kiểm soát chất lượng có thể được thực hiện thông qua cơ chế nội bộ và/hoặc bên ngoài như đánh giá ngang hàng, hội đồng cố vấn hoặc nhóm tham khảo[3].
“Chất lượng hoạt động TGPL” là yếu tố đánh giá mang tính định tính, có bản chất tiền kiểm. Chất lượng hoạt động khác với chất lượng sản phẩm. Chất lượng sản phẩm có thể xác định bằng tiêu chí định lượng hoặc kết hợp với tiêu chí định tính[4]. Tuy nhiên, chất lượng hoạt động TGPL cơ bản xác định bởi tiêu chí định tính. Xác định chất lượng hoạt động TGPL giống đánh giá chất lượng hoạt động xây dựng pháp luật hoặc chất lượng thi hành pháp luật của các bộ, cơ quan chính quyền. Thực tế, hoạt động TGPL được đánh giá qua 02 khía cạnh: (i) xây dựng pháp luật; (ii) chỉ số thi hành pháp luật. Bên cạnh đó, hoạt động TGPL đánh giá qua 04 tiêu chí gồm: (i) lấy ý kiến xây dựng pháp luật; (ii) chất lượng của văn bản quy phạm pháp luật; (iii) khả năng tiếp cận thông tin pháp luật; (iv) chất lượng của một số hoạt động thi hành pháp luật.
Chỉ số chất lượng xây dựng và thi hành pháp luật (Bộ chỉ số MEI - Ministrerial Enforcement Index) được xây dựng và áp dụng nhằm đánh giá vai trò của các bộ, ngành trong việc bảo đảm môi trường kinh doanh cho các doanh nghiệp. Bộ chỉ số MEI xây dựng từ năm 2011 theo chủ trương tại Công văn số 2353/VPCP-PL ngày 18/4/2011 của Thủ tướng Chính phủ, dựa trên đánh giá cảm nhận, sự hài lòng của các doanh nghiệp thông qua hiệp hội của mình và 05 chỉ số thành phần mang tính chất định tính. Mặc dù thiên về đánh giá định tính, Bộ chỉ số MEI cũng dựa trên một số tiêu chí định lượng để đưa ra kết luận tin cậy như số lượng doanh nghiệp hài lòng, mức độ hài lòng tính theo thang bậc.
Chất lượng hoạt động TGPL cơ bản đánh giá bằng tiêu chí, chỉ số định tính kết hợp với tiêu chí định lượng. Tuy nhiên, trên thực thế, công tác đánh giá chất lượng hoạt động TGPL chưa phản ánh đầy đủ bản chất của “chất lượng” khi đánh giá chất lượng hoạt động TGPL[5]. Số liệu vụ việc được TGPL thống kê chưa phản ánh đúng “chất lượng” mà chỉ phản ánh số lượng công việc, chưa đo được mức độ hài lòng của xã hội và của người được TGPL.
Thực tiễn này không chỉ xuất hiện trong hoạt động TGPL mà phổ biến trong hoạt động đánh giá xây dựng và thi hành pháp luật nói chung. Nhiều đánh giá hoạt động xây dựng và thi hành pháp luật có tên “chất lượng hoạt động xây dựng pháp luật”, nhưng nội dung chủ yếu dừng ở thống kê số lượng văn bản, số lần sửa đổi hoặc ban hành. Kết quả chưa được thể hiện bằng các hình thức so sánh (so sánh với mục tiêu đề ra, so sánh bằng tỉ lệ, theo thời gian hay so sánh với cơ quan tương đồng khác…) và chưa hướng đến đánh giá kết quả cuối cùng[6].
“Chất lượng” thường được xác định bởi các tiêu chí định tính sau: (i) mức độ thỏa mãn của khách hàng, người thụ hưởng đối với sản phẩm, dịch vụ; (ii) mức độ cảm nhận; (iii) mức độ kỳ vọng. Khi đánh giá chất lượng hoạt động TGPL, cần xác định mức độ thỏa mãn của người được TGPL, số vụ việc không xác định được chất lượng. Thực tế, có thể tồn tại 1.000 vụ việc TGPL được thực hiện nhưng chỉ có một vài vụ việc đáp ứng yêu cầu, kỳ vọng của người được TGPL. Từ góc độ này, việc đánh giá chất lượng hoạt động TGPL cần xây dựng và áp dụng các tiêu chí phù hợp, phản ánh đúng hiệu quả thực chất thay vì chỉ dừng ở chỉ số mang tính hình thức hoặc số lượng.
1.2. Hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý
“Đánh giá hiệu quả” là quá trình đánh giá mức độ mà chương trình, chính sách hoặc biện pháp can thiệp đạt được mục tiêu hoặc kết quả mong muốn, gồm việc đo lường kết quả và tác động của chương trình để xác định chương trình đó có tạo ra kết quả mong muốn và đáp ứng nhu cầu của đối tượng mục tiêu hay không[7]. “Đánh giá hiệu quả” có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, thông qua đó, có thể xác định chương trình hoặc hoạt động có phát huy tác dụng hay không, đồng thời, làm rõ các nguyên nhân dẫn đến tình trạng kém hiệu quả. Kết quả đánh giá góp phần xác định rõ trách nhiệm của chủ thể liên quan trong quá trình tổ chức thực hiện chương trình, hoạt động. Bên cạnh đó, “đánh giá hiệu quả” còn cung cấp bằng chứng thực tiễn về tác động của chương trình, hoạt động, làm cơ sở khoa học cho việc ra quyết định quản lý, gồm việc tiếp tục triển khai, điều chỉnh hoặc chấm dứt chương trình, hoạt động đã được thực hiện.
“Hiệu quả” được xác định bởi các yếu tố, gồm yếu tố tổng thể như chi phí - lợi ích, tính cạnh tranh, những hệ quả không mong đợi và kết quả thu được[8]. Theo TCVN ISO 9000-2015-11 (Hệ thống quản lý chất lượng - Cơ sở và từ vựng), “hiệu quả” là mức độ thực hiện các hoạt động theo kế hoạch và đạt được kết quả theo kế hoạch. Hiệu quả của các hoạt động chức năng như nghiên cứu khoa học; TGPL; xây dựng pháp luật, thi hành pháp luật; giáo dục, phổ biến pháp luật chủ yếu đánh giá bởi tiêu chí định tính kết hợp tiêu chí định lượng. Tùy theo lĩnh vực hoạt động hay hoạt động cụ thể, tiêu chí đánh giá hiệu quả có thể thay đổi.
Theo Fasster Capital, “hiệu quả” được đánh giá bằng những tiêu chí cơ bản sau: (i) mục tiêu được xác định rõ. Các mục tiêu hoạt động được đánh giá phải rõ ràng, cụ thể, đo đếm được, khả thi, có liên quan và đúng tiến độ; (ii) đầu ra của hoạt động có thể đo đếm được; (iii) có sự phản hồi của người có liên quan; (iv) có sự hồi vốn đầu tư; (v) dựa trên tình huống nghiên cứu và thực tiễn tốt; (vi) có sự hoàn thiện liên tục[9]. Các tiêu chí đánh giá cơ bản do Faster Capital đề xuất, mặc dù được xây dựng nhằm phục vụ việc đánh giá hoạt động đầu tư và hoạt động kinh tế nhưng vẫn có giá trị tham khảo nhất định khi vận dụng vào đánh giá hiệu quả hoạt động TGPL.
Tuy nhiên, việc xác định hiệu quả hoạt động TGPL không thể thực hiện ngay tức thời. Về bản chất, kết quả của hoạt động TGPL chỉ có thể được nhận diện thông qua quá trình hậu kiểm, khi các tác động thực tế đã bộc lộ. Ngay sau khi một vụ việc TGPL kết thúc, hiệu quả can thiệp thường chưa thể đánh giá đầy đủ, bởi các kết quả và tác động xã hội cần có độ trễ nhất định mới có thể quan sát và đo lường. Mặc dù, hiệu quả thuộc nhóm tiêu chí định tính, việc đánh giá hiệu quả hoạt động TGPL vẫn đòi hỏi hệ thống các chỉ số định lượng cụ thể, có khả năng phản ánh mức độ đạt được mục tiêu đặt ra. Trên thực tế, công tác đánh giá hiệu quả hoạt động TGPL ở Việt Nam chưa được xây dựng trên cơ sở các chỉ số cơ bản mang tính phổ quát theo thông lệ quốc tế. Các đánh giá chủ yếu dừng ở việc sử dụng các chỉ số thống kê đơn giản như số lượng vụ việc TGPL đã hoàn thành hoặc việc đối chiếu số nhiệm vụ thực hiện với số nhiệm vụ được giao theo từng giai đoạn nhất định (tháng, quý, năm). Trong khi đó, những đánh giá có giá trị thực chất về hiệu quả chỉ có thể đạt được khi dựa trên hệ thống chỉ số mang tính so sánh tổng thể, cho phép xem xét mối tương quan giữa mục tiêu, kết quả và tác động của hoạt động TGPL trong dài hạn.
2. Nguyên tắc, khung logic xây dựng tiêu chí đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý
2.1. Nguyên tắc đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý
Trong đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động TGPL, cần áp dụng các nguyên tắc sau:
Thứ nhất, khách quan trong đánh giá. Nguyên tắc này yêu cầu đánh giá không bị chi phối bởi các yếu tố thiên vị, chủ quan từ phía người đánh giá, đặc biệt, không bị chi phối bởi các mục đích tạo thành tích, quảng bá.
Thứ hai, bảo đảm tính độc lập trong đánh giá. Nguyên tắc này yêu cầu việc đánh giá phải dựa trên những tiêu chí được xây dựng phù hợp, được thực hiện bởi một tổ chức bên ngoài không bị chi phối quan hệ hành chính trên dưới với cơ quan, cá nhân đánh giá.
Thứ ba, đánh giá kết hợp giữa định lượng với định tính. Việc áp dụng đánh giá phức hợp tùy vào tiêu chí sử dụng và chỉ số thiết kế hướng tới thông tin cần thu thập, đánh giá. Kết hợp nhuần nhuyễn đánh giá định tính và định lượng bảo đảm độ chính xác cho kết luận được đưa ra, khắc phục tình trạng phủ định giữa các đánh giá định tính và định lượng khi được đưa ra không gắn với mục tiêu, hoạt động cần đánh giá.
Thứ tư, bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất. Nguyên tắc này yêu cầu phải đánh giá dựa trên tất cả tiêu chí, chỉ số được xây dựng. Việc bỏ qua bất cứ tiêu chí, chỉ số nào đều dẫn tới sai lệch trong kết quả đánh giá.
Thứ năm, tiêu chí, chỉ số đánh giá phải phù hợp tính chất hoạt động được đánh giá. Nguyên tắc này yêu cầu bảo đảm tiêu chí, chỉ số được sử dụng đánh giá phải phù hợp với bản chất, đặc trưng của hoạt động TGPL.
2.2. Khung logic đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý
Từ phân tích về yếu tố, yêu cầu đặt ra đối với đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động TGPL, nghiên cứu này mô phỏng khung logic xây dựng tiêu chí, chỉ số đánh giá hoạt động TGPL bảo đảm phù hợp với mục đích đặt ra như tiêu chí chất lượng hay hiệu quả; hiệu suất hay tác động xã hội của hoạt động TGPL (xem ảnh 1 trang 10).
Việc xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số khảo sát trong bất kỳ lĩnh vực xã hội nào đều cần được đặt trong một khung logic nhất quán. Khung logic phản ánh mối liên hệ giữa tiêu chí, chỉ số và các vấn đề cần khảo sát, đánh giá thông qua phương pháp điều tra xã hội học. Khung logic làm rõ sự gắn kết giữa tiêu chí, chỉ số và hệ thống câu hỏi khảo sát nhằm thu thập những thông tin cần thiết phục vụ cho việc đánh giá các vấn đề được lựa chọn.
Trong cấu trúc này, tiêu chí giữ vai trò định hướng, quyết định việc lựa chọn và thiết kế các chỉ số; ngược lại, các chỉ số cần được xây dựng phù hợp với mục đích mà tiêu chí hướng tới. Chẳng hạn, khi xem xét tính khả thi của pháp luật về vấn đề dân tộc, một tiêu chí quan trọng đặt ra là mức độ phù hợp của pháp luật với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Trên cơ sở đó, nhiều chỉ số khác nhau có thể được sử dụng để đánh giá mức độ phù hợp này, gồm các yếu tố như điều kiện kinh tế, nhận thức pháp luật, truyền thống, đạo đức xã hội, cũng như mức độ bảo đảm quyền con người. Thực tiễn cho thấy, pháp luật khó đi vào cuộc sống nếu không tương thích với các chuẩn mực đạo đức xã hội và khó phát huy hiệu lực nếu không phù hợp với nguyện vọng, lợi ích chính đáng của các chủ thể chịu sự tác động trực tiếp.
Nội dung quan trọng khác trong khung logic xây dựng phiếu khảo sát liên quan đến việc thiết kế hệ thống câu hỏi nhằm bảo đảm thu thập được thông tin phù hợp và có độ tin cậy đối với từng chỉ số đã xác định. Thực tế, không phải tất cả đối tượng tham gia khảo sát đều có khả năng tiếp cận đầy đủ nội dung câu hỏi hoặc sẵn sàng cung cấp thông tin theo yêu cầu nghiên cứu. Bên cạnh đó, việc thu thập dữ liệu định lượng thông qua khảo sát xã hội học cũng gặp nhiều hạn chế. Trong trường hợp này, việc sử dụng câu hỏi gián tiếp là cần thiết, các thông tin phục vụ đánh giá được hình thành trên cơ sở tổng hợp và phân tích kết quả thu được từ hệ thống câu hỏi.
3. Các tiêu chí hiện hành đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý
Việt Nam dành sự quan tâm đặc biệt cho hoạt động TGPL ngay từ giai đoạn đầu của quá trình chuyển đổi. Nhằm nâng cao vai trò và giá trị phát triển, các cơ quan có thẩm quyền thường xuyên chú trọng đánh giá chất lượng và hiệu quả thực hiện hoạt động TGPL. Điều này thể hiện ở nỗ lực xây dựng và hoàn thiện hệ thống tiêu chí, chỉ số phục vụ việc đánh giá chất lượng và hiệu quả hoạt động TGPL.
Bộ tiêu chí được ban hành theo Thông tư số 12/2018/TT-BTP ngày 28/8/2018 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp hướng dẫn một số hoạt động nghiệp vụ TGPL và quản lý chất lượng vụ việc TGPL, được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 03/2021/TT-BTP ngày 25/5/2021 (Thông tư số 12/2018/TT-BTP) quy định tiêu chí đánh giá chất lượng vụ việc TGPL gồm:
“1. Tiêu chí về trách nhiệm nghề nghiệp của người thực hiện TGPL (30 điểm)
a) Tuân thủ pháp luật, trung thực, tôn trọng sự thật khách quan (10 điểm);
b) Giải thích, hướng dẫn, cung cấp thông tin kịp thời về vụ việc cho người được TGPL (10 điểm);
c) Bảo đảm thời gian, tiến độ thực hiện vụ việc (10 điểm).
2. Tổ chức, cá nhân thực hiện vụ việc TGPL theo quy định của pháp luật TGPL, nội dung hợp đồng; có trách nhiệm bảo đảm chất lượng vụ việc TGPL theo quy định của pháp luật và hợp đồng”.
Tuy nhiên, tiêu chí tại Thông tư số 12/2018/TT-BTP khó có thể áp dụng đối với việc đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động TGPL, bởi:
Thứ nhất, các tiêu chí trong Thông tư số 12/2018/TT-BTP áp dụng với vụ việc TGPL cụ thể nhưng chưa gắn với chỉ số phản ánh tiêu chí. Cụ thể, nếu đánh giá về “trách nhiệm nghề nghiệp của người thực hiện TGPL” thì chỉ số “Tuân thủ pháp luật, trung thực, tôn trọng sự thật khách quan” khó xác định và khó đưa ra kết luận chính sách, giúp đánh giá được chất lượng vụ việc. Đồng thời, cách tính điểm theo các chỉ số cho thấy sự thiếu phù hợp.
Thứ hai, các tiêu chí và chỉ số đánh giá các vụ việc TGPL quá trừu tượng nên giá trị tham khảo không cao. Các tiêu chí, chỉ số được quy định tại khoản 2 Điều 16 Thông tư số 12/2018/TT-BTP không áp dụng được trong thực tiễn nên bị bãi bỏ bởi Thông tư số 03/2021/TT-BTP ngày 25/5/2021.
4. Đề xuất các tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý
Một trong những yếu tố tạo ra tính phù hợp và chuẩn xác trong đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động TGPL là tách đánh giá chất lượng và hiệu quả thành hai tiêu chí riêng, bởi trong cùng một bộ tiêu chí thì những chỉ số giống nhau sẽ không đạt được độ chính xác cao. Vì thế, các tiêu chí, chỉ số cần được xác định theo các khía cạnh riêng biệt.
4.1. Các tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng hoạt động trợ giúp pháp lý
Chất lượng hoạt động TGPL được đánh giá theo các tiêu chí: (i) tiêu chí số 01: chuyên môn của người thực hiện TGPL; (ii) tiêu chí số 02: mức độ hài lòng của người được TGPL; (iii) tiêu chí số 03: tiếp nhận và xử lý đúng thời hạn yêu cầu TGPL; (iv) tiêu chí số 04: chất lượng hồ sơ tư vấn TGPL; (v) tiêu chí số 05: chất lượng hồ sơ TGPL tham gia tố tụng:
- Tiêu chí số 01 và chỉ số. Chuyên môn của người thực hiện TGPL có tác động lớn đến chất lượng TGPL. Các vấn đề pháp lý nảy sinh phức tạp, dễ dẫn đến tranh chấp và xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể. Chỉ người có chuyên môn luật, đặc biệt là luật chuyên ngành về lĩnh vực liên quan đến các vấn đề cần TGPL mới có khả năng phát hiện những quyền và lợi ích hợp pháp nào, của ai bị xâm phạm và xâm phạm đến mức độ nào một cách nhanh chóng và toàn diện (xem ảnh 2 trang 11).
- Tiêu chí số 02 và chỉ số. Mức độ hài lòng của người được TGPL ngay từ thời điểm được tư vấn có thể thể hiện chất lượng của hoạt động TGPL. Sự hài lòng của người được TGPL như chỉ số giúp đánh giá chất lượng của hoạt động này (xem ảnh 3 trang 11).
- Tiêu chí số 03 và chỉ số. Tiếp nhận và xử lý đúng thời hạn thể hiện trách nhiệm, sự tuân thủ các quy định về thời hạn. Điều này nâng cao chất lượng hoạt động TGPL vì hạn chế thiệt hại của đối tượng cần được TGPL (xem ảnh 4 trang 11).
- Tiêu chí số 04 và chỉ số. Chất lượng hồ sơ tư vấn TGPL là yếu tố giúp đánh giá chất lượng hoạt động TGPL. Nếu không chuẩn bị tốt hồ sơ tư vấn và nhận diện, phân tích vấn đề pháp lý mà người được TGPL muốn có thì khó đánh giá chất lượng tư vấn. Đây là yếu tố cốt lõi để đánh giá chất lượng hoạt động TGPL (xem ảnh 5 trang 12).
- Tiêu chí số 05 và chỉ số. Trong trường hợp vụ việc tư vấn cần trải qua tố tụng tư pháp, việc chuẩn bị hồ sơ đáp ứng các yêu cầu gồm phân tích, lập luận sâu sắc, đúng với pháp luật mang lại kết quả tốt cho hoạt động TGPL tại phiên tòa. Trường hợp Tòa án không mang lại công lý cho người được TGPL vì những lý do ngoài sự kiểm soát của người TGPL thì hồ sơ tố tụng được chuẩn bị tốt thể hiện rõ chất lượng hoạt động TGPL (xem ảnh 6 trang 12).
- Để có căn cứ đánh giá định lượng chất lượng hoạt động TGPL theo 05 tiêu chí, chỉ số trên, nghiên cứu đề xuất thang điểm dự kiến (xem ảnh 7 trang 13).
4.2. Các tiêu chí, chỉ số đánh giá hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý
Hiệu quả hoạt động TGPL được đánh giá theo các tiêu chí: (i) tiêu chí số 01: mức độ hài lòng của người được TGPL về kết quả TGPL; (ii) tiêu chí số 02: chỉ số vụ việc được xử lý thành công trên vụ việc tiếp nhận; (iii) tiêu chí số 03: tỷ lệ thành công của luật sư, trợ giúp viên pháp lý thực hiện TGPL; (iv) tiêu chí số 04: chi phí bỏ ra trên giá trị thu được từ TGPL; (v) tiêu chí số 05: tỷ lệ thành công của người khác thực hiện TGPL.
- Tiêu chí số 01 và chỉ số. Mức độ hài lòng của người được TGPL về kết quả TGPL. Tiêu chí có tính khái quát, thể hiện hiệu quả hoạt động TGPL. Mức độ hài lòng về kết quả càng lớn càng thể hiện hiệu quả cao của hoạt động TGPL (mức độ hài lòng có thể được định lượng theo các chỉ số tại ảnh 8 trang 13).
- Tiêu chí số 02 và chỉ số. Các vụ việc thành công là bằng chứng thuyết phục và có căn cứ nhất để đánh giá hiệu quả của hoạt động TGPL. Đây là chỉ số thể hiện khái quát nhất hiệu quả hoạt động TGPL, cũng như các hoạt động xã hội khác, như hoạt động bào chữa, hoạt động xét xử của Tòa án, trọng tài hay hoạt động hòa giải (xem ảnh 9 trang 14).
- Tiêu chí số 03 và chỉ số. Tỷ lệ thành công của trợ giúp viên pháp lý và luật sư TGPL theo hợp đồng. Trợ giúp viên pháp lý và luật sư TGPL theo hợp đồng là hai chủ thể thực hiện TGPL phổ biến. Trợ giúp viên pháp lý được Nhà nước tuyển dụng dựa trên phẩm chất đạo đức tốt; có trình độ cử nhân luật trở lên; được đào tạo nghề luật sư hoặc được miễn đào tạo nghề luật sư; trải qua thời gian tập sự hành nghề luật sư hoặc tập sự TGPL. Luật sư TGPL theo hợp đồng là người chuyên nghiệp. Vì vậy, khi đánh giá hiệu quả hoạt động TGPL của người chuyên nghiệp, tỉ lệ thành công phải cao hơn những người thực hiện TGPL khác (xem ảnh 10 trang 14).
- Tiêu chí số 04 và chỉ số. Chi phí bỏ ra trên giá trị thu được từ hoạt động TGPL. Chỉ số chi phí/lợi ích được dùng nhiều trong hoạt động đánh giá hiệu quả các hoạt động nhằm tìm giải pháp chống lãng phí nguồn lực. Trong hoạt động TGPL, nếu muốn xác định toàn diện hiệu quả cần lượng hóa chi phí tài chính bỏ ra trên lợi ích thu được (xem ảnh 11 trang 14).
- Tiêu chí số 05 và chỉ số. Ngoài những người TGPL chuyên nghiệp như luật sư, trợ giúp viên pháp lý, hoạt động TGPL có thể được thực hiện bởi người khác theo quy định của pháp luật hoặc với tư cách cộng tác viên theo đề nghị của các tổ chức TGPL. Năng lực chuyên môn, tính chuyên nghiệp của những người thực hiện TGPL này thường không bằng trợ giúp viên pháp lý hay luật sư TGPL theo hợp đồng. Vì vậy, thang điểm hay những đánh giá định tính, định lượng đều cần cân nhắc yếu tố này (xem ảnh 12 trang 15).
- Để có căn cứ đánh giá định lượng hiệu quả hoạt động TGPL theo 05 tiêu chí, chỉ số trên, nghiên cứu đề xuất thang điểm dự kiến (xem ảnh 13 trang 15).
Kết luận
Chất lượng và hiệu quả hoạt động TGPL luôn thu hút sự quan tâm của xã hội và các cơ quan nhà nước. Trong trường hợp không bảo đảm chất lượng và hiệu quả, hoạt động TGPL không những không phát huy được vai trò hỗ trợ tiếp cận công lý, mà còn có nguy cơ trở thành gánh nặng đối với ngân sách nhà nước và xã hội. Ngược lại, khi được tổ chức và thực hiện hiệu quả, hoạt động TGPL góp phần quan trọng vào việc thúc đẩy công bằng xã hội, bảo đảm bình đẳng trước pháp luật và thực hiện mục tiêu “không để ai bị bỏ lại phía sau”. Để hoạt động TGPL đáp ứng kỳ vọng xã hội, không thể tách rời quá trình đánh giá thường xuyên và có hệ thống về chất lượng và hiệu quả thực hiện. Vì thế, để việc đánh giá phản ánh đúng thực chất hoạt động TGPL, cần xây dựng các bộ tiêu chí dựa trên những nguyên lý đánh giá cơ bản, có tính phổ quát, đồng thời được điều chỉnh phù hợp với đặc thù, mục tiêu và bản chất của hoạt động TGPL./.
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
GS.TS. Lê Hồng Hạnh
Chủ tịch Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam, Giảng viên cao cấp,
nguyên Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Luật Hà Nội,
nguyên Viện trưởng Viện Chiến lược và Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp
* Bài viết này là một phần của nội dung nghiên cứu trong Đề tài “Giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn thành phố Hà Nội”, Mã số đề tài: CT01/06-2024-3.
[1]. Các khoản 1, 2 Điều 5 Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017.
[2]. András Nábrádi (2008), The value of quality, Applied Studies in Agribusiness and Commerce 2(1-2), https://www.researchgate.net/publication/46535763_The_value_of_quality, truy cập ngày 10/12/2025.
[3]. OECD (2010), DAC Guidelines and Reference Series Quality Standards for Development Evaluation, https://www.oecd.org/en/publications/2010/02/quality-standards-for-development-evaluation_g1ghc6e7.html, truy cập ngày 10/12/2025.
[4]. ThS. Nguyễn Mạnh Cường (2020), Tiêu chí đánh giá chất lượng hoạt động của cơ quan nhà nước ở một số quốc gia trên thế giới và những gợi mở đối với Việt Nam, https://tcnn.vn/news/detail/47134/Tieuchi-danh-gia-chat-luong-hoat-dong-cua-co-quan-nha-nuoc-o-mot-so-quoc-gia-trenthe-gioi-va-nhung-goi-mo-doi-voi-Viet-Nam.html, truy cập ngày 10/12/2025.
[5]. Linh Cao, Nâng cao hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý, https://daibieunhandan.vn/nang-cao-hieu-qua-cong-tac-tro-giup-phap-ly-10383476.html, truy cập ngày 10/12/2025; Minh Anh, Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho trẻ em, https://nhandan.vn/nang-cao-hieu-qua-hoat-dong-tro-giup-phap-ly-cho-tre-em-post811414.html, truy cập ngày 10/12/2025.
[6]. ThS. Nguyễn Mạnh Cường (2020), Về tiêu chí đánh giá chất lượng hoạt động của bộ, cơ quan ngang bộ, Quản lý nhà nước, https://www.quanlynhanuoc.vn/2020/09/16/ve-tieu-chi-danh-gia-chat-luong-hoat-dong-cua-bo-co-quan-ngang/, truy cập ngày 10/12/2025.
[7]. Eval Community, Understanding Effectiveness Evaluation: Definition, Benefits, and Best Practices, https://www.evalcommunity.com/career-center/effectiveness-evaluation/#:~:text=Effectiveness%20evaluation%20is%20a%20process,need%20of%20the%20target%20population, truy cập ngày 10/12/2025.
[8]. UNEP (2022), Assessing policy effectiveness: a key tool for ensuring impact, sdgs.un.org, truy cập ngày 10/12/2025.
[9]. Faster Capital, Criteria For Evaluating Effectiveness, fastercapital.com, https://fastercapital.com/topics/criteria-for-evaluating-effectiveness.html/1, truy cập ngày 10/12/2025.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. András Nábrádi (2008), The value of quality, Applied Studies in Agribusiness and Commerce 2(1-2), https://www.researchgate.net/publication/46535763_The_value_of_ quality, truy cập ngày 10/12/2025.
2. Celeber Francisco Alves (2020), The Nature of Legal Aid Rights: Civil or Social/ Welfare Rights? Posible Implication of under the “Rathcet Effect Doctrine, Lex Humana, Petrópolis, v. 12, n. 2, p. 83 - 96, ISSN 2175 0947.
3. Đỗ Thị Thanh Tâm (2024), Đoàn Luật sư Thành phố Hà Nội - 40 năm xây dựng và lớn mạnh, https://luatsuhanoi.vn/doan-luat-su thanh-pho-ha-noi-40-nam-xay-dung-va-lon manh/, truy cập ngày 10/12/2025.
4. Eval Community, Understanding Effectiveness Evaluation: Definition, Benefits, and Best Practices, https://www.evalcommunity.com/career-center/effectiveness-valuation/#:~:text=Effectiveness%20evaluation%20is%20a%20process,needs%20of%20the%20 target%20population, truy cập ngày 10/12/2025.
5. Faster Capital, Criteria For Evaluating Effectiveness, https://fastercapital.com/topics/criteria-for-evaluating-effectiveness.html/1, truy cập ngày 10/12/2025.
6. Liên Đoàn Luật sư Việt Nam (2024), Liên đoàn Luật sư Việt Nam tổ chức Hội nghị Tổng kết năm 2023 và triển khai nhiệm vụ năm 2024, https://liendoanluatsu.org.vn/lien-doan-luat-su-viet-nam-to-chuc-hoi-nghi-tong-ket-nam-2023-va-trien-khai-nhiem-vu nam-2024/, truy cập ngày 10/12/2025.
7. Linh Cao (2025), Nâng cao hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý, https://daibieunhandan.vn/nang-cao-hieu-qua-cong-tac-tro-giup-phap-ly-10383476.html, truy cập ngày 10/12/2025.
8. Minh Anh, Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho trẻ em, https://nhandan.vn/nang-cao-hieu-qua-hoat-dong-tro-giup-phap-ly-cho-tre-em-post811414.html, truy cập ngày 10/12/2025.
9. OECD (2010), DAC Guidelines and Reference Series Quality Standards for Development Evaluation, https://www.oecd.org/en/publications/2010/02/quality-standards-for-development-evaluation_g1ghc6e7.html, truy cập ngày 10/12/2025.
10. ThS. Nguyễn Mạnh Cường (2020), Tiêu chí đánh giá chất lượng hoạt động của cơ quan nhà nước ở một số quốc gia trên thế giới và những gợi mở đối với Việt Nam, https://tcnn.vn/news/detail/47134/Tieuchi-danh-gia-chat-luong-hoat-dong-cua-co-quan-nha-nuoc-o-mot-so-quoc-gia-trenthe-gioi-va-nhung-goi-mo-doi-voi-Viet-Nam.html, truy cập ngày 10/12/2025.
11. ThS. Nguyễn Mạnh Cường (2020), Về tiêu chí đánh giá chất lượng hoạt động của bộ, cơ quan ngang bộ, https://www. quanlynhanuoc.vn/2020/09/16/ve-tieu-chi-danh-gia-chat-luong-hoat-dong-cua-bo-co-quan-ngang/, truy cập ngày 10/12/2025.
12. UNEP (2022), Assessing policy effectiveness: a key tool for ensuring impact, sdgs.un.org, truy cập ngày 10/12/2025.
(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số Kỳ 2 (443) tháng 12/2025)