Thứ ba 27/10/2026 00:13
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.

Từ khóa: thi hành án dân sự; doanh nghiệp; pháp luật thi hành án; bảo vệ doanh nghiệp; kinh tế tư nhân; hoàn thiện pháp luật.

Abstract: Fast and effective enforcement of civil judgments contributes to protecting the legitimate rights of relevant parties and building a fair business environment. To protect the rights of enterprises and promote healthy business activities, this article studies, analyzes and evaluates current legal regulations on the order and procedures for enforcement of civil judgments against enterprises, pointing out limitations and shortcomings that may hinder business activities. On that basis, it proposes solutions to improve the law on enforcement of civil judgments in the direction of both ensuring the performance of enforcement obligations and creating conditions for enterprises to recover and develop production and business, contributing to promoting the sustainable development of the private economic sector in the current context.

Keywords: Enforcement of civil judgments; enterprises; judgment enforcement law; protection of enterprises; private economy; improvement of the law.

Đặt vấn đề

Trong bối cảnh sau dịch bệnh Covid-19 và những biến động chính trị toàn cầu làm gia tăng chi phí kinh doanh, thu hẹp thị trường, nhiều doanh nghiệp tại Việt Nam rơi vào tình trạng khó khăn, mất khả năng thanh toán, phải rút khỏi thị trường. Theo thống kê, trong Quý I năm 2025, có khoảng 78.900 doanh nghiệp chấm dứt hoạt động[1] và số lượng doanh nghiệp trở thành đối tượng phải thi hành án dân sự (THADS) gia tăng, chủ yếu liên quan đến nghĩa vụ trả nợ cho các tổ chức tín dụng.

Đồng thời, yêu cầu thu hồi tài sản trong công tác phòng, chống tham nhũng cũng làm gia tăng khối lượng THADS đối với doanh nghiệp. Nhiều vụ việc THADS có giá trị lớn, như vụ Công ty cổ phần Tập đoàn Tân Hoàng Minh (hơn 8.600 tỷ đồng), Công ty cổ phần Tập đoàn Vạn Thịnh Phát (trên 53.000 tỷ đồng), Công ty cổ phần Địa ốc Alibaba, Công ty cổ phần Công nghệ Việt Á hay Công ty cổ phần Tập đoàn FLC. Điều này cho thấy tính phức tạp của việc xử lý thi hành án đối với doanh nghiệp[2].

Theo quy định của Luật Thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung các năm 2014, 2018, 2020, 2022, 2024 (Luật Thi hành án dân sự năm 2008), doanh nghiệp với tư cách là người phải thi hành án sẽ chịu sự điều chỉnh chung về trình tự, thủ tục giống các chủ thể phải thi hành án khác. Quy định này bảo đảm nguyên tắc bình đẳng và thuận tiện cho cơ quan thi hành án dân sự. Tuy nhiên, cách tiếp cận này chủ yếu tập trung vào việc bảo đảm hiệu lực bản án, quyết định[3], mà chưa quan tâm đầy đủ đến tác động của biện pháp thi hành án đối với hoạt động sản xuất kinh doanh và khả năng phục hồi của doanh nghiệp.

Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 03/6/2017 Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về phát triển kinh tế tư nhân trở thành động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân (Nghị quyết số 68-NQ/TW) đã khẳng định vai trò trung tâm của khu vực kinh tế tư nhân trong phát triển kinh tế quốc gia. Kinh tế tư nhân được xác định là động lực quan trọng, có vai trò tiên phong trong tăng trưởng, tạo việc làm, nâng cao năng lực cạnh tranh và giữ vị trí nòng cốt trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở đó, Nhà nước cam kết tiếp tục khuyến khích và tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát triển bền vững[4].

Tuy nhiên, thực tiễn THADS đối với doanh nghiệp, đặc biệt, việc áp dụng các biện pháp bảo đảm, cưỡng chế, kê biên tài sản sản xuất, có thể ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động kinh doanh, việc làm và an sinh xã hội, thậm chí gây mất ổn định xã hội[5]. Do đó, việc nghiên cứu, hoàn thiện quy định pháp luật về THADS gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp là yêu cầu cấp thiết để vừa bảo đảm hiệu lực thi hành bản án, vừa tạo điều kiện phục hồi và phát triển doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển bền vững.

1. Một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Thứ nhất, bất cập trong quy định về quyền lựa chọn của doanh nghiệp trong áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế trong thi hành án dân sự.

Trong THADS, biện pháp bảo đảm được áp dụng để ngăn chặn việc tẩu tán hoặc hủy hoại tài sản; biện pháp cưỡng chế được thực hiện khi người phải thi hành án có điều kiện nhưng không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ[6]. Đối với doanh nghiệp, hai loại biện pháp này thường triển khai trên quy mô lớn, liên quan đến nhiều loại tài sản khác nhau. Thực tiễn từ các vụ án lớn như Công ty cổ phần Tập đoàn Vạn Thịnh Phát hay Công ty cổ phần Địa ốc Alibaba cho thấy, cơ quan thi hành án dân sự phải kê biên hàng trăm bất động sản, phương tiện vận tải, máy móc và dữ liệu điện tử, gây ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động sản xuất kinh doanh[7].

Về mặt pháp lý, khoản 4 và khoản 5 Điều 24 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự (Nghị định số 62/2015/NĐ-CP) đưa ra nguyên tắc nhằm giảm thiểu ảnh hưởng bất lợi: (i) cho phép người phải thi hành án đề nghị kê biên tài sản cụ thể nếu tài sản đó đủ để thực hiện nghĩa vụ; (ii) chỉ kê biên tài sản khác của doanh nghiệp khi các nguồn tài sản lưu động như tài khoản, vàng, bạc, đá quý, giấy tờ có giá đã được xử lý nhưng vẫn không đủ để thi hành án. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng cho thấy, các quy định này còn hạn chế, bất cập chưa tạo cơ chế bảo vệ hữu hiệu, dẫn đến tình trạng doanh nghiệp ở thế bị động, nhiều khi bị kê biên cả tài sản thiết yếu cho hoạt động sản xuất. Cụ thể:

- Pháp luật chưa quy định cơ chế cho phép doanh nghiệp lựa chọn biện pháp hoặc loại tài sản kê biên nhằm thực hiện nghĩa vụ thi hành án. Hiện, việc lựa chọn biện pháp hoặc loại tài sản hoàn toàn thuộc thẩm quyền của chấp hành viên. Đồng thời, pháp luật mới quy định ưu tiên xử lý tài sản lưu động, chưa quy định doanh nghiệp được quyền lựa chọn trước phương án khả thi để thi hành án làm cho doanh nghiệp hoàn toàn bị động và không phù hợp với thực tế hoạt động của doanh nghiệp. Trong khi đó, nếu có cơ chế pháp lý để doanh nghiệp phải thi hành án được tham gia lựa chọn (trong giới hạn bảo đảm nghĩa vụ thi hành án) thì sẽ giảm thiểu rủi ro cho sản xuất và bảo đảm lợi ích của người được thi hành án.

- Pháp luật chưa có tiêu chí để xác định “tư liệu sản xuất thiết yếu” cần được giữ lại nhằm duy trì hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Luật Thi hành án dân sự năm 2008 và các văn bản hướng dẫn thi hành chưa quy định về định nghĩa hoặc tiêu chí pháp lý để phân biệt loại tài sản này, dẫn đến tình trạng áp dụng không thống nhất giữa các cơ quan thi hành án. Thực tế cho thấy, cùng một loại tài sản, có cơ quan thi hành án coi là thiết yếu, hạn chế kê biên, nhưng có cơ quan thi hành án khác lại xử lý như tài sản thông thường. Hệ quả, doanh nghiệp có thể bị kê biên cả những tài sản then chốt, dẫn đến đình trệ hoạt động sản xuất. Đồng thời, doanh nghiệp cũng không có căn cứ pháp lý vững chắc để khiếu nại khi bị kê biên nhầm vào nhóm tài sản thiết yếu.

- Pháp luật chưa quy định cơ chế kiểm soát và nghĩa vụ giải trình đối với chấp hành viên khi từ chối đề xuất hoặc khi quyết định kê biên tài sản gắn với hoạt động sản xuất. Hiện, pháp luật chưa quy định chấp hành viên phải giải thích lý do tại sao từ chối đề xuất của doanh nghiệp và cũng không bắt buộc phải báo cáo cấp trên khi kê biên tài sản gắn liền với sản xuất. Việc thiếu quy định này làm cho quyền đề nghị lựa chọn tài sản kê biên của doanh nghiệp chỉ tồn tại trên phương diện hình thức. Đồng thời, hoạt động lựa chọn biện pháp và tài sản kê biên thiếu minh bạch, khó kiểm soát và tiềm ẩn nguy cơ lạm quyền.

Có thể khẳng định, Nghị định số 62/2015/NĐ-CP đã thể hiện tinh thần bảo vệ hoạt động của doanh nghiệp thông qua quy định nguyên tắc ưu tiên xử lý tài sản lưu động và cơ chế đề nghị trong trường hợp tự nguyện. Tuy nhiên, do mới quy định ở mức nguyên tắc, chưa có cơ chế, thủ tục và chuẩn mực nội dung cụ thể nên các quy định này chưa tạo được sự cân bằng hợp lý giữa yêu cầu bảo đảm hiệu lực của bản án với việc duy trì ổn định hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp phải thi hành án.

Thứ hai, bất cập trong quy định về cung cấp thông tin cho báo chí trong thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp.

Trong THADS, công khai thông tin là nguyên tắc quan trọng nhằm bảo đảm tính minh bạch và tạo điều kiện cho các bên liên quan giám sát quá trình tổ chức thi hành án. Luật Thi hành án dân sự năm 2008 quy định nhiều hình thức công khai như niêm yết quyết định, thông báo về việc kê biên và xử lý tài sản hay công bố danh sách người chưa có điều kiện thi hành án[8], góp phần bảo đảm tính pháp chế và nâng cao trách nhiệm của cơ quan thi hành án.

Bên cạnh đó, hoạt động cung cấp thông tin còn chịu sự điều chỉnh của Luật Báo chí năm 2016. Khoản 1 Điều 38 Luật Báo chí năm 2016 quy định: “trong phạm vi quyền hạn, nhiệm vụ của mình, các cơ quan, tổ chức, người có trách nhiệm có quyền và nghĩa vụ cung cấp thông tin cho báo chí và chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung thông tin đã cung cấp. Việc cung cấp thông tin cho báo chí có thể bằng văn bản, trên trang thông tin điện tử tổng hợp, họp báo, trả lời phỏng vấn và các hình thức khác”. Trên thực tế, đối với những vụ việc trọng điểm có quy mô lớn, cơ quan THADS thường ban hành thông cáo báo chí để thông tin về tiến trình và kết quả tổ chức thi hành án. Ví dụ, trong vụ án Vạn Thịnh Phát, Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh (nay là Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh) đã nhiều lần công bố thông cáo, gần nhất là Thông cáo số 8206/TB-CTHADS ngày 25/6/2025 về kết quả tổ chức thi hành vụ án Trương Mỹ Lan và đồng phạm (giai đoạn 1 và giai đoạn 2)[9].

Thực tiễn cho thấy, hoạt động cung cấp thông tin của cơ quan THADS cho báo chí chưa kịp thời, thiếu tính chủ động; việc xử lý thông tin báo chí chưa chính xác, còn chậm, lúng túng, thiếu dứt điểm dẫn đến tình trạng có sự việc bị đề cập lại nhiều lần[10]. Mặt khác, khi áp dụng đối với doanh nghiệp, cơ chế công khai thông tin còn tồn tại một số hạn chế như: (i) phạm vi công khai thông tin chưa được phân định rõ, dẫn đến tình trạng một số thông tin nhạy cảm của doanh nghiệp như thông tin liên quan đến bí mật kinh doanh bị phổ biến rộng rãi mà không có giới hạn cần thiết; (ii) trong bối cảnh truyền thông phát triển mạnh mẽ, thông tin về doanh nghiệp thi hành án thường nhanh chóng lan truyền trên báo chí, mạng xã hội, dễ bị cắt xén hoặc diễn giải theo hướng bất lợi. Điều này làm cho doanh nghiệp phải thi hành án dễ bị gắn với hình ảnh mất khả năng thanh toán, vi phạm pháp luật hoặc giảm uy tín trong quan hệ thương mại.

Đặc biệt, trong khi cơ quan thi hành án có quyền chủ động cung cấp thông tin cho báo chí theo Luật Báo chí năm 2016 và đã thực hiện điều này trong nhiều vụ việc, thì doanh nghiệp (đối tượng chịu tác động trực tiếp) lại không có quyền pháp lý để yêu cầu công bố thông tin chính thức nhằm bảo vệ mình trước dư luận, làm cho doanh nghiệp rơi vào thế bị động, đặc biệt, trong các vụ án lớn khi thông tin trên mạng xã hội lan truyền nhanh hơn nhiều so với thông tin chính thức từ cơ quan nhà nước.

Như vậy, bất cập trong cơ chế công khai thông tin hiện nay không chỉ ở phạm vi công khai quá rộng và thiếu phân loại, mà còn ở việc doanh nghiệp chưa có công cụ pháp lý để phản hồi hoặc yêu cầu cung cấp thông tin chính thức, nhằm hạn chế tác động tiêu cực đến uy tín và hoạt động kinh doanh.

Thứ ba, bất cập trong quy định về việc tạm giao quản lý, khai thác, sử dụng tài sản kê biên của doanh nghiệp.

Trong THADS, tài sản của doanh nghiệp bị kê biên thường đa dạng và có quy mô lớn, trong đó, nhiều loại tài sản là tư liệu sản xuất trực tiếp. Chẳng hạn, việc kê biên tài sản của Công ty cổ phần Thép Việt Pháp, gồm hệ thống máy móc, thiết bị (cẩu trục nhiều tải trọng, cân ô tô điện tử, dây chuyền đúc phôi thép, hệ thống oxy, hệ thống xử lý nước thải, quạt công nghiệp, mô tơ, hệ thống khí thải…) cùng toàn bộ hạ tầng nhà xưởng và văn phòng (nhà xưởng chính, kho, nhà văn phòng, đường nội bộ, bể nước, nhà ăn, nhà để xe, cây xanh…)[11], trong đó, nhiều tài sản đang phục vụ trực tiếp cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Vấn đề đặt ra, sau khi bị kê biên, doanh nghiệp có được tiếp tục sử dụng các tài sản này để duy trì sản xuất hay không.

Bảo quản tài sản thi hành án là việc giao cho một chủ thể trông coi, giữ gìn tài sản thi hành án, nhằm bảo đảm chất lượng và giá trị sử dụng của tài sản[12]. Về mặt pháp lý, Điều 58 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 quy định về bảo quản tài sản thi hành án, doanh nghiệp là người phải thi hành án cũng là một trong những chủ thể được cơ quan THADS giao bảo quản tài sản. Tuy nhiên, quy định về bảo quản tài sản thi hành án chỉ quy định những vấn đề mang tính hình thức như: căn cứ xác lập việc bảo quản, chi phí phát sinh, nghĩa vụ pháp lý và hậu quả pháp lý khi vi phạm nghĩa vụ bảo quản. Đối với nội dung, doanh nghiệp được giao bảo quản có tiếp tục khai thác, sử dụng tài sản trong thời gian bảo quản hay không thì pháp luật chưa quy định chi tiết. Hiện, việc tạm giao quản lý, khai thác, sử dụng đối với tài sản sau khi kê biên chỉ áp dụng đối với tài sản là diện tích đất và phương tiện giao thông sau khi kê biên[13]. Các quy định trên chưa làm rõ các điều kiện, phạm vi tạm giao tài sản, cũng như giới hạn trong việc khai thác, sử dụng tài sản sau khi kê biên nên thực tiễn thi hành án tồn tại một số bất cập sau:

- Quy định về điều kiện và phạm vi tạm giao tài sản còn thiếu cụ thể. Hiện, pháp luật chưa quy định rõ loại tài sản nào được phép tạm giao, căn cứ nào để quyết định, thời hạn tạm giao là bao lâu và cơ chế giám sát việc sử dụng tài sản như thế nào. Vì vậy, cách làm giữa các chấp hành viên và các cơ quan thi hành án không thống nhất, dẫn đến tình trạng tùy nghi áp dụng.

- Quy định “giữ nguyên hiện trạng tài sản kê biên” được áp dụng quá cứng nhắc. Khi giao bảo quản tài sản, chấp hành viên xác lập nghĩa vụ của người được giao bảo quản tài sản không được làm thay đổi hiện trạng tài sản đến khi có quyết định của cơ quan có thẩm quyền[14]. Quy định này nhằm bảo đảm sự ổn định về mặt pháp lý của tài sản trong quá trình thi hành án. Trên thực tế, quá trình xử lý tài sản thường kéo dài, nhiều máy móc hoặc công trình hạ tầng, nhất là phương tiện giao thông nếu không được bảo trì, sửa chữa sẽ nhanh chóng hư hỏng. Tuy nhiên, hoạt động sửa chữa, bảo dưỡng thường làm thay đổi hiện trạng so với thời điểm kê biên. Nếu cấm tuyệt đối việc thay đổi hiện trạng, doanh nghiệp gặp khó trong việc duy trì hoạt động, trong khi giá trị tài sản có nguy cơ bị giảm sút.

- Thiếu cơ chế kiểm soát việc khai thác tài sản kê biên dẫn đến nguy cơ làm giảm giá trị tài sản. Nếu doanh nghiệp không được phép sửa chữa, tài sản có thể xuống cấp, mất giá khi đưa ra bán đấu giá. Ngược lại, nếu cho phép khai thác nhưng không có quy định giám sát chặt chẽ, doanh nghiệp có thể sử dụng sai mục đích, làm hao mòn, thất thoát hoặc ảnh hưởng đến giá trị của tài sản.

Như vậy, bất cập chính hiện nay là pháp luật chưa quy định cụ thể và cân bằng để vừa bảo đảm quyền quản lý, khai thác hợp lý của doanh nghiệp đối với tài sản sản xuất, vừa duy trì cơ chế kiểm soát để bảo toàn giá trị tài sản trước khi xử lý.

2. Kiến nghị hoàn thiện

Để bảo đảm hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, thúc đẩy kinh tế phát triển và thực hiện nghĩa vụ thi hành án dân sự, cần phải hoàn thiện pháp luật về THADS gắn với hoạt động của doanh nghiệp. Cụ thể:

Thứ nhất, quy định quyền lựa chọn của doanh nghiệp trong áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế trong thi hành án dân sự.

Doanh nghiệp là chủ thể giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế. Năm 2024, khu vực này đã đóng góp khoảng 60% GDP, chiếm 98% kim ngạch xuất khẩu và tạo việc làm cho 85% lực lượng lao động cả nước[15]. Khi trở thành đối tượng THADS, doanh nghiệp vẫn cần có cơ chế bảo đảm duy trì hoạt động sản xuất để tránh gây tác động dây chuyền đến thị trường và xã hội. Để khắc phục những hạn chế đó, cần sửa đổi, bổ sung Luật Thi hành án dân sự năm 2008 theo hướng:

- Bổ sung quy định trao cho doanh nghiệp quyền lựa chọn biện pháp hoặc loại tài sản kê biên trong phạm vi giới hạn nhất định. Thực tiễn cho thấy, khi tồn tại nhiều biện pháp hoặc nhiều loại tài sản đều có khả năng bảo đảm nghĩa vụ thi hành án, doanh nghiệp thường mong muốn lựa chọn phương án ít ảnh hưởng nhất đến hoạt động sản xuất. Vì vậy, pháp luật cần quy định theo hướng: “Trong trường hợp tồn tại từ hai biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế hoặc từ hai loại tài sản trở lên đều có thể bảo đảm nghĩa vụ thi hành án, doanh nghiệp là người phải thi hành án có quyền đề xuất bằng văn bản lựa chọn biện pháp hoặc loại tài sản cụ thể. Chấp hành viên xem xét đề xuất trên cơ sở bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người được thi hành án, không vi phạm điều cấm của pháp luật và không làm trì hoãn việc thi hành án”. Quy định này tạo cơ sở pháp lý để doanh nghiệp chủ động bảo vệ hoạt động sản xuất, đồng thời, bảo đảm lợi ích công bằng cho người được thi hành án.

- Quy định tiêu chí cụ thể để xác định “tài sản là tư liệu sản xuất thiết yếu” nhằm hạn chế kê biên. Việc thiếu quy định cụ thể như hiện nay có thể dẫn đến tình trạng bị áp dụng tùy tiện trên thực tế, doanh nghiệp có thể bị kê biên cả những tài sản cốt lõi cho sản xuất. Do đó, pháp luật cần quy định rõ ràng theo hướng: tài sản là tư liệu sản xuất thiết yếu của doanh nghiệp gồm: tài sản gắn trực tiếp với dây chuyền sản xuất chính; tài sản mà việc kê biên có khả năng gây đình trệ đáng kể hoạt động sản xuất, kinh doanh. Đồng thời, quy định nguyên tắc xử lý loại tài sản này như sau: “Việc kê biên các tài sản này chỉ được tiến hành khi đã xử lý toàn bộ các tài sản khác mà vẫn không đủ để thi hành án”. Quy định này tạo sự thống nhất trong áp dụng pháp luật, đồng thời là căn cứ vững chắc để doanh nghiệp khiếu nại hoặc bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình.

- Bổ sung quy định về việc kiểm soát và nghĩa vụ giải trình của chấp hành viên. Hiện, chấp hành viên không buộc phải giải thích khi từ chối đề xuất của doanh nghiệp hoặc khi kê biên tài sản sản xuất, dẫn đến quyền đề nghị của doanh nghiệp chỉ tồn tại trên hình thức. Vì vậy, cần quy định rõ: “trong trường hợp không chấp nhận đề xuất của doanh nghiệp hoặc quyết định kê biên tài sản gắn với hoạt động sản xuất kinh doanh, chấp hành viên phải lập văn bản nêu rõ lý do, căn cứ pháp lý và báo cáo Thủ trưởng cơ quan THADS. Văn bản này phải được gửi cho doanh nghiệp và người được thi hành án để bảo đảm quyền giám sát và khiếu nại”. Quy định này sẽ nâng cao tính minh bạch, hạn chế sự tùy tiện trong hoạt động của chấp hành viên và giúp quyền đề nghị lựa chọn tài sản kê biên của doanh nghiệp phát huy giá trị thực tiễn.

Với các đề xuất hoàn thiện trên, pháp luật THADS có được cơ chế cân bằng hợp lý: vừa bảo đảm hiệu lực thi hành án, vừa duy trì Dân chủ và Pháp luật hoạt động sản xuất bình thường của doanh nghiệp phải thi hành án. Đây không chỉ là sự bảo vệ quyền lợi riêng của doanh nghiệp mà còn góp phần giữ ổn định thị trường, bảo đảm việc làm cho người lao động và lợi ích chung của nền kinh tế - xã hội.

Thứ hai, cần quy định về việc cung cấp thông tin cho báo chí trong thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp.

Hiện, pháp luật mới chỉ tập trung nhấn mạnh yêu cầu minh bạch mà chưa thiết lập cơ chế bảo vệ doanh nghiệp trước tác động tiêu cực từ truyền thông và dư luận. Để khắc phục bất cập này, nghiên cứu kiến nghị bổ sung quy định pháp luật theo hai hướng: (i) thu hẹp phạm vi công khai những thông tin nhạy cảm; (ii) trao quyền cho doanh nghiệp được yêu cầu cơ quan thi hành án công bố thông tin chính thức trong những trường hợp cần thiết. Cụ thể:

- Về phạm vi công khai thông tin, cần quy định: “cơ quan thi hành án dân sự có trách nhiệm công khai các thông tin liên quan trực tiếp đến nghĩa vụ thi hành án và quyền lợi của người được thi hành án. Các thông tin có khả năng ảnh hưởng đến uy tín hoặc bí mật kinh doanh hợp pháp của doanh nghiệp chỉ được công khai trong phạm vi cần thiết và phải kèm theo giải thích rõ ràng”.

- Về quyền phản hồi của doanh nghiệp, cần quy định: “trong trường hợp xuất hiện thông tin sai lệch hoặc thông tin có khả năng gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín và hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp có quyền đề nghị cơ quan thi hành án phát hành thông tin chính thức để làm rõ. Cơ quan thi hành án có trách nhiệm xem xét và công bố thông tin chính thức bằng văn bản, thông cáo báo chí hoặc hình thức phù hợp khác trong thời hạn luật định”.

Việc bổ sung hai quy định trên sẽ giúp duy trì nguyên tắc công khai, minh bạch trong hoạt động thi hành án và tạo cơ chế bảo vệ hợp lý cho doanh nghiệp. Qua đó, doanh nghiệp có thể hạn chế rủi ro từ thông tin sai lệch, bảo đảm điều kiện duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh, trong khi nghĩa vụ thi hành án vẫn được thực hiện đầy đủ và đúng pháp luật.

Thứ ba, cần quy định cụ thể về việc tạm giao quản lý, khai thác, sử dụng tài sản kê biên của doanh nghiệp.

Quy định pháp luật về việc tạm giao quản lý, khai thác tài sản kê biên của doanh nghiệp chưa tạo điều kiện cho doanh nghiệp phải thi hành án hoạt động, chưa bảo đảm tính minh bạch, thống nhất và khả thi. Vì vậy, pháp luật cần quy định để bảo đảm vừa duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, vừa bảo toàn giá trị tài sản để phục vụ cho việc thi hành án. Để đạt được mục tiêu này, pháp luật THADS cần quy định cụ thể theo ba nhóm nội dung:

Một là, quy định rõ điều kiện và phạm vi doanh nghiệp được tạm giao quản lý, khai thác tài sản kê biên như sau: “Tài sản kê biên có thể được tạm giao cho doanh nghiệp quản lý, khai thác nếu tài sản đó trực tiếp phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh và việc khai thác không làm thay đổi mục đích sử dụng, giá trị cơ bản của tài sản. Quyết định tạm giao phải xác định rõ loại tài sản, phạm vi quản lý, thời hạn tạm giao và trách nhiệm của doanh nghiệp”.

Hai là, quy định linh hoạt về việc quản lý, khai thác và hiện trạng tài sản kê biên, cụ thể: “Doanh nghiệp được tạm giao tài sản có quyền thực hiện các hoạt động sửa chữa, bảo trì cần thiết để duy trì khả năng vận hành của tài sản, với điều kiện phải thông báo và được sự chấp thuận của cơ quan thi hành án dân sự. Các hoạt động này không được làm thay đổi mục đích sử dụng, công suất hoặc giá trị cơ bản của tài sản”.

Ba là, quy định cơ chế giám sát và xử lý vi phạm trong quá trình tạm giao tài sản kê biên, cụ thể: “Doanh nghiệp được tạm giao quản lý có nghĩa vụ bảo quản tài sản, không được chuyển nhượng, thế chấp, cho thuê hoặc sử dụng tài sản để bảo đảm nghĩa vụ khác. Cơ quan THADS có trách nhiệm kiểm tra định kỳ hoặc đột xuất; nếu phát hiện doanh nghiệp vi phạm, chấp hành viên có quyền thu hồi quyết định tạm giao và áp dụng các biện pháp xử lý theo quy định của pháp luật”.

Kết luận

Doanh nghiệp có đóng góp lớn cho phát triển kinh tế và an sinh xã hội, nhưng khi trở thành đối tượng THADS, họ thường phải đối diện với những tác động trực tiếp đến hoạt động sản xuất kinh doanh. Hiện, pháp luật về THADS còn một số hạn chế như: chưa ghi nhận quyền lựa chọn biện pháp bảo đảm, cưỡng chế của doanh nghiệp; cơ chế công khai thông tin thiếu cân bằng, dễ gây ảnh hưởng tiêu cực đến uy tín doanh nghiệp; quy định về tạm giao tài sản kê biên thiếu chi tiết, nhất là về điều kiện, phạm vi và cơ chế giám sát. Để khắc phục những hạn chế này, pháp luật THADS cần được bổ sung cơ chế rõ ràng nhằm bảo đảm doanh nghiệp vừa thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa có điều kiện duy trì và phục hồi hoạt động. Các giải pháp mở rộng quyền lựa chọn biện pháp thi hành án, thiết lập cơ chế công khai thông tin có kiểm soát và quy định chi tiết việc tạm giao tài sản kê biên là những nội dung cần thiết để hiện thực hóa yêu cầu này. Việc hoàn thiện pháp luật theo hướng trên không chỉ nâng cao hiệu quả và tính minh bạch của hoạt động THADS, mà còn phù hợp với Nghị quyết số 68-NQ/TW, góp phần tạo môi trường pháp lý ổn định, củng cố niềm tin xã hội vào pháp luật và bảo đảm cho khu vực kinh tế tư nhân phát triển bền vững trong giai đoạn mới./.

ThS. Nguyễn Chí Hiếu

Giảng viên chính Khoa Luật, Trường Đại học Cần Thơ

Ảnh: Internet

[1]. Hoàng Yến, Gần 78.900 doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường trong quý I, https://thoibaotaichinhvietnam.vn/gan-78900-doanh-nghiep-rut-lui-khoi-thi-truong-trong-quy-i173993.html?utm_source=chatgpt.com, truy cập ngày 12/7/2025.

[2]. Tuyến Phan, Vụ Tân Hoàng Minh “chưa từng có tiền lệ”, chỉ 4 tháng đã cơ bản xong THADS, https://thanhnien.vn/vu-tan-hoang-minh-chua-tung-co-tien-le-chi-4-thang-da-co-ban-xong-thads-185241202104812658.htm, truy cập ngày 12/7/2025.

[3]. Điều 4 Luật Thi hành án dân sự năm 2008.

[4]. Khoản 3 Điều 51 Hiến pháp năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).

[5]. Trường Phong, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh 3 yêu cầu trong phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, https://tienphong.vn/tong-bi-thu-chu-tich-nuoc-to-lam-nhan-manh-3-yeu-cau-trong-phong-chong-tham-nhung-tieu-cuc-post1663739.tpo, truy cập ngày 12/7/2025.

[6]. Điều 46 và Điều 66 Luật Thi hành án dân sự năm 2008.

[7]. Sỹ Đông, Vụ Vạn Thịnh Phát có số lượng bất động sản thi hành án đặc biệt lớn, https://thanhnien.vn/vu-van-thinh-phat-co-so-luong-bat-dong-san-thi-hanh-an-dac-biet-lon-18524121115230412.htm?utm_source=chatgpt.com, truy cập ngày 13/7/2025; Hải Ninh, Vụ Alibaba: Nguyễn Thái Luyện bị cưỡng chế những tài sản nào?, https://kienthuc.net.vn/vu-alibaba-nguyen-thai-luyen-bi-cuong-che-nhung-tai-san-nao-post973502.html, truy cập ngày 13/7/2025.

[8]. Điều 42, Điều 44a, Điều 88 Luật Thi hành án dân sự năm 2008.

[9]. Trang thông tin điện tử Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh, Thông cáo báo chí về việc thông tin đến người được thi hành án và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án Trương Mỹ Lan và đồng phạm (giai đoạn 2), https://thads.moj.gov.vn/tphochiminh/noidung/ tintuc/lists/thavanthinhphat/view_detail.aspx?itemid=8&utm_source=chatgpt.com, truy cập ngày 15/7/2025.

[10]. Trần Thanh Vân (2025), Nâng cao chất lượng xử lý thông tin truyền thông trong hệ thống thi hành án dân sự, Hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự trong giai đoạn mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, tr. 167.

[11]. Xuân Thọ, Đấu giá tài sản kê biên thi hành án của Thép Việt Pháp, https://vietnamdaily.kienthuc.net.vn/dau-gia-tai-san-ke-bien-thi-hanh-an-cua-thep-viet-phap-post1345886.html, truy cập ngày 16/7/2025.

[12]. Hoàng Thị Thanh Hoa, Bảo quản tài sản thi hành án và một số vấn đề cần hoàn thiện, Tạp chí Nghề luật, Số 1/2025, tr. 27.

[13]. Điều 96 và Điều 112 Luật Thi hành án dân sự năm 2008.

[14]. Mẫu số: D50-THADS (Ban hành kèm theo Thông tư số 04/2023/TT-BTP ngày 14/8/2023 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp hướng dẫn thực hiện một số thủ tục về quản lý hành chính và biểu mẫu nghiệp vụ trong thi hành án dân sự).

[15]. Hương Dịu, Lực lượng doanh nghiệp đóng góp khoảng 60% GDP, https://haiquanonline.com.vn/luc-luong-doanh-nghiep-dong-gop-khoang-60-gdp-193659.html?utm_source=chatgpt.com, truy cập ngày 14/7/2025.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Hoàng Yến, Gần 78.900 doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường trong quý I, https://thoibaotaichinhvietnam.vn/gan-78900-doanh-nghiep-rut-lui-khoi-thi truong-trong-quy-i173993.html?utm_source=chatgpt.com, truy cập ngày 12/7/2025.

2. Tuyến Phan, Vụ Tân Hoàng Minh ‘chưa từng có tiền lệ’, chỉ 4 tháng đã cơ bản xong THADS, https://thanhnien.vn/vu-tan-hoang-minh-chua-tung-co-tien-le-chi-4-thang-da-co-ban-xong-thads-185241202104812658. htm, truy cập ngày 12/7/2025.

3. Thế Kha, Tổng cục trưởng Thi hành án nói về áp lực vụ Vạn Thịnh Phát, FLC, Thuận An, https://dantri.com.vn/xa-hoi/tong-cuc-truong-thi-hanh-an-noi-ve ap-luc-vu-van-thinh-phat-flc-thuan-an-20241218101120962.htm, truy cập ngày 12/7/2025.

4. Trường Phong, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh 3 yêu cầu trong phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, https://tienphong.vn/tong-bi-thu-chu-tich-nuoc-to-lam-nhan-manh-3-yeu-cau-trong-phong-chong-tham-nhung-tieu-cuc-post1663739. tpo, truy cập ngày 12/7/2025.

5. Sỹ Đông, Vụ Vạn Thịnh Phát có số lượng bất động sản thi hành án đặc biệt lớn, https://thanhnien.vn/vu-van-thinh-phat-co-so-luong-bat-dong-san-thi-hanh-an-dac-biet-lon-18524121115230412.htm?utm_source=chatgpt.com, truy cập ngày 13/7/2025.

6. Hải Ninh, Vụ Alibaba: Nguyễn Thái Luyện bị cưỡng chế những tài sản nào?, https://kienthuc.net.vn/vu-alibaba-nguyen-thai-luyen-bi-cuong-che-nhung-tai-san-nao-post973502.html, truy cập ngày 13/7/2025.

7. Hương Dịu, Lực lượng doanh nghiệp đóng góp khoảng 60% GDP, https://haiquanonline.com.vn/luc-luong-doanh-nghiep-dong-gop-khoang-60-gdp-193659.html?utm_ source=chatgpt.com, truy cập ngày 14/7/2025.

8. Trang thông tin điện tử Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh, Thông cáo báo chí về việc thông tin đến người được thi hành án và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án Trương Mỹ Lan và đồng phạm (giai đoạn 2), https://thads.moj.gov.vn/tphochiminh/noidung/tintuc/lists/thavanthinhphat/view_ detail.aspx?itemid=8&utm_source=chatgpt. com, truy cập ngày 15/7/2025.

9. Trần Thanh Vân (2025), Nâng cao chất lượng xử lý thông tin truyền thông trong hệ thống thi hành án dân sự, Hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự trong giai đoạn mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật.

10. Xuân Thọ, Đấu giá tài sản kê biên thi hành án của Thép Việt Pháp, https://vietnamdaily.kienthuc.net.vn/dau-gia-tai-san-ke-bien-thi-hanh-an-cua-thep-viet-phap-post1345886.html, truy cập ngày 16/7/2025.

11. Hoàng Thị Thanh Hoa, Bảo quản tài sản thi hành án và một số vấn đề cần hoàn thiện, Tạp chí Nghề luật, Số 1/2025.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số Kỳ 1 (438) tháng 10/2025)

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về xử lý trường hợp trúng đấu giá quyền sử dụng đất nhưng vi phạm nghĩa vụ tài chính

Hoàn thiện pháp luật về xử lý trường hợp trúng đấu giá quyền sử dụng đất nhưng vi phạm nghĩa vụ tài chính

Tóm tắt: Tình trạng người trúng đấu giá quyền sử dụng đất không thực hiện nghĩa vụ tài chính và hành vi thao túng đấu giá gây thất thu ngân sách, làm sai lệch giá đất, ảnh hưởng đến tính minh bạch của thị trường bất động sản. Nghiên cứu đánh giá thực trạng pháp luật Việt Nam về xử lý các hành vi này trên cơ sở phân tích quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng. Bằng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh quy phạm pháp luật và nghiên cứu tình huống, kết quả nghiên cứu cho thấy, pháp luật còn những bất cập về xử lý tiền đặt trước, hủy kết quả trúng đấu giá, xác định thời hạn cấm tham gia đấu giá, kiểm soát hành vi né tránh chế tài thông qua pháp nhân trung gian và giải quyết hậu quả sau khi hủy kết quả đấu giá. Từ đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện quy định về căn cứ, điều kiện và hậu quả pháp lý của các biện pháp xử lý; tăng cường kiểm soát lịch sử vi phạm, bảo đảm tính minh bạch và cạnh tranh trong đấu giá quyền sử dụng đất.
Hoàn thiện quy định về đánh giá hiệu quả văn bản quy phạm pháp luật trong dự thảo Luật Văn bản quy phạm pháp luật

Hoàn thiện quy định về đánh giá hiệu quả văn bản quy phạm pháp luật trong dự thảo Luật Văn bản quy phạm pháp luật

Tóm tắt: Đánh giá hiệu quả văn bản quy phạm pháp luật là hoạt động đo lường mức độ đạt được mục tiêu chính sách và tác động thực tế của quy định pháp luật sau khi tổ chức thi hành. Nghiên cứu khái quát các tiêu chí đánh giá hiệu quả văn bản quy phạm pháp luật, phân tích những quy định tương ứng trong dự thảo Luật Văn bản quy phạm pháp luật1 (dự thảo Luật). Nghiên cứu cho thấy, mặc dù dự thảo Luật bước đầu xác lập cơ sở pháp lý cho hoạt động này, nhưng một số quy định còn hạn chế, bất cập. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí, phương thức đánh giá, xác định rõ trách nhiệm phối hợp giữa các chủ thể và cơ chế sử dụng kết quả đánh giá để điều chỉnh, hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện cơ chế công nhận quyền sử dụng đất có nguồn gốc nông, lâm trường trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)

Hoàn thiện cơ chế công nhận quyền sử dụng đất có nguồn gốc nông, lâm trường trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)

Tóm tắt: Trong quá trình sửa đổi Luật Đất đai, việc xử lý đất có nguồn gốc nông, lâm trường đặt ra yêu cầu hoàn thiện điều kiện công nhận quyền sử dụng đất và cơ chế bảo đảm thực hiện quyền này trên thực tế. Nghiên cứu phân tích các quy phạm pháp luật hiện hành, đối chiếu với dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)1 (dự thảo Luật). Kết quả nghiên cứu cho thấy, việc công nhận quyền sử dụng đất còn phụ thuộc đáng kể vào công tác rà soát, lập phương án sử dụng đất và xử lý quỹ đất có nguồn gốc nông, lâm nghiệp. Những vướng mắc tập trung ở tiến độ thực hiện, điều kiện công nhận, mối quan hệ với các trường hợp không cấp Giấy chứng nhận và cơ chế xử lý khi công ty không thực hiện trách nhiệm. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các quy định của dự thảo Luật về điều kiện công nhận quyền, sự tham gia của người đang sử dụng đất và cơ chế tiếp tục xử lý quỹ đất, nhằm bảo đảm khả năng thực hiện quyền của người đang sử dụng đất.
Hoàn thiện cơ chế xử lý vật chứng trong tố tụng hình sự Việt Nam

Hoàn thiện cơ chế xử lý vật chứng trong tố tụng hình sự Việt Nam

Tóm tắt: Xử lý vật chứng là hoạt động xác định địa vị pháp lý của vật chứng, đồng thời, tác động trực tiếp đến giá trị chứng minh và quyền tài sản. Nghiên cứu phân tích Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung các năm 2021, 2025 (BLTTHS năm 2015) trong mối liên hệ với Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung các năm 2017, 2025 (BLHS năm 2015) và pháp luật dân sự, tập trung làm rõ căn cứ tịch thu, thẩm quyền, hình thức và thủ tục xử lý; tiêu chí xác định công cụ, phương tiện phạm tội và lỗi của chủ sở hữu; cơ chế xử lý tài sản chung, tài sản thế chấp; phạm vi, trình tự giao vật chứng đặc thù cho cơ quan chuyên ngành và việc bảo đảm quyền của người thứ ba. Trên cơ sở nhận diện các bất cập, nghiên cứu đề xuất sửa đổi Điều 85, Điều 106 BLTTHS năm 2015, hoàn thiện thủ tục đối với tài sản bảo đảm và ban hành hướng dẫn liên ngành nhằm thống nhất hoạt động giao, tiếp nhận, bảo quản và xử lý vật chứng.
Hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai ở Việt Nam - Từ kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới

Hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai ở Việt Nam - Từ kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số và yêu cầu hiện đại hóa công tác quản lý đất đai, việc hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai cần được đặt trong mối quan hệ với hoạt động công chứng, cơ sở dữ liệu đất đai và cơ chế xác lập quyền đối với bất động sản (BĐS). Trên cơ sở nghiên cứu một số vấn đề lý luận, phân tích các mô hình đăng ký đất đai và tham khảo kinh nghiệm pháp luật của Pháp, Đức, Trung Quốc…, nghiên cứu làm rõ vai trò của hoạt động công chứng trong giao dịch về quyền sử dụng đất (QSDĐ), từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai ở Việt Nam nhằm đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số và nâng cao hiệu quả quản lý đất đai.
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong hoạt động xây dựng pháp luật tại Việt Nam hiện nay

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong hoạt động xây dựng pháp luật tại Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong bối cảnh trí tuệ nhân tạo (AI) ngày càng đóng vai trò quan trọng, được ứng dụng rộng rãi trong quản trị công và hoạt động lập pháp tại nhiều quốc gia trên thế giới và Việt Nam. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở chính trị, pháp lý, nguyên tắc và phạm vi ứng dụng AI trong hoạt động xây dựng pháp luật ở Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, AI có thể hỗ trợ hiệu quả nhiều công đoạn như xử lý dữ liệu, phân tích chính sách, rà soát văn bản, tổng hợp ý kiến và hỗ trợ kỹ thuật lập pháp. Tuy nhiên, AI chỉ nên được sử dụng như công cụ hỗ trợ dưới sự kiểm soát của con người, không thay thế thẩm quyền, trách nhiệm chính trị, pháp lý và trách nhiệm giải trình của cơ quan, người có thẩm quyền trong hoạt động lập pháp. Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp để nâng cao chất lượng, hiệu quả ứng dụng AI trong hoạt động xây dựng pháp luật tại Việt Nam.
Pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam và Trung Quốc - So sánh bối cảnh lịch sử và con đường phát triển

Pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam và Trung Quốc - So sánh bối cảnh lịch sử và con đường phát triển

Tóm tắt: Pháp quyền xã hội chủ nghĩa là khái niệm được sử dụng rộng rãi ở các quốc gia xã hội chủ nghĩa, nhưng có nội hàm và cách tiếp cận khác nhau, trong khi các nghiên cứu so sánh về vấn đề này còn tương đối hạn chế. Nghiên cứu so sánh quá trình hình thành và phát triển mô hình pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam và Trung Quốc cho thấy, Việt Nam chủ yếu tiếp thu mô hình Xô Viết và chịu ảnh hưởng của quá trình toàn cầu hóa, thể hiện xu hướng phổ quát pháp lý; ngược lại, Trung Quốc chủ động “Trung Quốc hóa” các học thuyết phương Tây theo hướng đặc thù pháp lý. Trên cở sở đó, nghiên cứu đề xuất Việt Nam có thể tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của Trung Quốc trong xây dựng và hoàn thiện nền pháp quyền xã hội chủ nghĩa phù hợp với thực tiễn đất nước.
Quyền tác nghiệp báo chí tại phiên tòa công khai theo Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Quyền tác nghiệp báo chí tại phiên tòa công khai theo Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Khoản 3 Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024, được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Luật số 81/2025/QH15 (Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024) cho phép ghi âm trong suốt phiên tòa và ghi hình ở phần khai mạc và tuyên án. Các nghiên cứu trong nước về xét xử công khai, quyền tự do báo chí và quyền tiếp cận thông tin hầu như chưa đánh giá riêng quy định này theo học thuyết tương xứng và cân bằng quyền hiến định. Áp dụng ba điều kiện hạn chế quyền tại khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 203/2025/QH15 (Hiến pháp năm 2013) cho thấy quy định này phù hợp nhưng chưa đáp ứng đầy đủ tính cần thiết và tính tương xứng, bởi tồn tại biện pháp ít hạn chế hơn mà vẫn bảo vệ tương đương nhóm chủ thể yếu thế. Từ học thuyết cân bằng quyền, nghiên cứu xây dựng tiêu chí ưu tiên giữa quyền tự do báo chí và quyền riêng tư; đồng thời, đề xuất sửa đổi khoản 3 Điều 141 và tiếp tục hoàn thiện Dự thảo Thông tư của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quy định về nội quy phiên tòa, phiên họp và việc ghi âm lời nói, ghi hình ảnh diễn biến phiên tòa, phiên họp** (Dự thảo Thông tư) để tương thích với khoản 4 Điều 27 Luật Báo chí năm 2025 và thiết lập cơ chế phối hợp giữa Tòa án và báo chí.
Xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh

Xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh

Tóm tắt: Quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh là hai phạm trù pháp lý quan trọng, phản ánh sự phát triển của xã hội. Trong bối cảnh truyền thông số phát triển mạnh mẽ, việc sử dụng hình ảnh trẻ em trong hoạt động báo chí ngày càng phổ biến, làm tăng nguy cơ xâm phạm đời sống riêng tư của trẻ em và phát sinh xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền được bảo vệ đời sống riêng tư của trẻ em. Trên cơ sở phân tích thực trạng pháp luật và nhận diện các dạng xung đột pháp lý giữa hai quyền, nghiên cứu chỉ ra những hạn chế của pháp luật trong giải quyết xung đột và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm hài hòa giữa quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh.
Chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giữ vai trò quan trọng trong phát huy dân chủ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân, đồng thời, nâng cao chất lượng xây dựng và thực thi chính sách, pháp luật. Nghiên cứu phân tích hoạt động phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với chính sách và pháp luật trong giai đoạn hiện nay. Trên cơ sở phương pháp phân tích, tổng hợp, đánh giá quy định pháp luật và thực tiễn thực hiện, nghiên cứu làm rõ thực trạng chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới.
Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Đất đai năm 2024 xác lập địa vị pháp lý riêng đối với người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài không có quốc tịch Việt Nam trong quan hệ sử dụng đất. Nghiên cứu phân tích quyền và nghĩa vụ của chủ thể này trong sử dụng đất để đầu tư, kinh doanh và sở hữu nhà ở tại Việt Nam; đồng thời, chỉ ra một số tồn tại, hạn chế, bất cập trong quyền tiếp cận, nhận chuyển nhượng và thừa kế quyền sử dụng đất. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính thống nhất của pháp luật đất đai, nhà ở, kinh doanh bất động sản và quyền, lợi ích hợp pháp của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Tóm tắt: Hồ sơ điện tử vụ án hình sự là một bước chuyển từ phương thức quản lý hồ sơ truyền thống sang quản lý và quản trị dữ liệu tố tụng trên môi trường số. Nghiên cứu phân tích sự hình thành hồ sơ điện tử vụ án hình sự trong bối cảnh chuyển đổi số trong tố tụng hình sự, trên cơ sở Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự và văn bản chỉ đạo của Chính phủ1, thông tư quy định chi tiết2. Từ góc độ quản trị dữ liệu tố tụng, nghiên cứu làm rõ sự chuyển dịch từ quản lý hồ sơ giấy sang quản trị dữ liệu tố tụng số; phân tích các chức năng pháp lý của hồ sơ điện tử vụ án hình sự và những vấn đề đặt ra trong quá trình triển khai, gồm chuẩn hóa dữ liệu, liên thông dữ liệu và xây dựng khung kiến trúc dữ liệu tố tụng hình sự. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện khung pháp luật và cơ chế quản trị dữ liệu nhằm triển khai thống nhất hồ sơ điện tử vụ án trong hoạt động tố tụng hình sự.
Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Tóm tắt: Việt Nam là quốc gia có đường bờ biển dài và có nhiều lợi thế về lấn biển. Nghiên cứu sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh để làm rõ khái niệm lấn biển; lịch sử quy định về lấn biển trong các Luật Đất đai; khoảng trống pháp lý về lấn biển trước khi Luật Đất đai năm 2024 được ban hành. Đồng thời, nghiên cứu phân tích những hạn chế của pháp luật đất đai hiện hành và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về lấn biển trong thời gian tới như nguyên tắc, điều kiện lấn biển, tọa độ khu vực lấn biển, quản lý, sử dụng đất lấn biển, quỹ đất xây dựng công trình hạ tầng công cộng, sử dụng khu vực biển để tạo quỹ đất thanh toán cho dự án BT.
Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Tóm tắt: Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)[1] (dự thảo Luật) đang xem xét bỏ công chứng bắt buộc đối với một số giao dịch về quyền sử dụng đất, đặt ra yêu cầu hài hòa giữa cải cách thủ tục hành chính với bảo vệ quyền tài sản, phòng ngừa tranh chấp và bảo đảm an toàn pháp lý cho thị trường quyền sử dụng đất. Trên cơ sở phương pháp phân tích pháp lý, kinh tế học pháp luật, pháp luật so sánh và thực tiễn xét xử, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết phải công chứng đối với quyền sử dụng đất - một loại tài sản và hàng hóa đặc biệt, có giá trị lớn, cần được nhìn nhận như chi phí phòng ngừa rủi ro, thay vì chỉ là chi phí thủ tục. Từ đó, nghiên cứu đề xuất duy trì công chứng bắt buộc đối với các giao dịch có rủi ro pháp lý cao hoặc liên quan đến chủ thể cần được bảo vệ đặc biệt; đối với giao dịch có rủi ro thấp hơn, có thể mở rộng quyền lựa chọn công chứng hoặc cơ chế xác thực khác khi hạ tầng dữ liệu, hệ thống đăng ký và cơ chế trách nhiệm thay thế bảo đảm đáp ứng yêu cầu an toàn pháp lý.
Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh của nền kinh tế nền tảng trong bối cảnh chuyển đổi số đang làm thay đổi cấu trúc quan hệ lao động và đặt ra những thách thức mới đối với việc bảo vệ quyền của người lao động. Nghiên cứu phân tích địa vị pháp lý và các quyền cơ bản của lao động nền tảng tại Việt Nam trong các lĩnh vực lao động như vận tải, giao hàng và dịch vụ trực tuyến. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tổng hợp thực tiễn, nghiên cứu nhận diện khoảng trống của pháp luật trong bảo đảm quyền của nhóm lao động này. Kết quả nghiên cứu cho thấy, pháp luật Việt Nam chưa theo kịp đặc thù của mô hình lao động nền tảng như xác định quan hệ lao động, an sinh xã hội và kiểm soát thuật toán. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng.

Theo dõi chúng tôi trên: