Thứ ba 15/09/2026 14:30
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.

Abstract: Criminal judgment execution is the final stage of the criminal justice process, crucial in ensuring the effectiveness of court judgments and decisions, and protecting human rights. The 2025 Law on Criminal Judgment Execution includes numerous amendments aimed at clarifying the role of the courts, but it also reveals some issues that may lead to practical implementation problems. Based on an analysis and evaluation of current regulations, this study identifies inadequacies in jurisdiction, procedures, and coordination mechanisms in criminal judgment execution, thereby proposing and recommending improvements to the law to enhance the effectiveness of judgment execution and meet the requirements of judicial reform.

Đặt vấn đề

Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối của quá trình tư pháp hình sự, giữ vai trò quyết định trong việc bảo đảm các bản án, quyết định của Tòa án được thực thi nghiêm minh, qua đó, khẳng định hiệu lực của quyền tư pháp và bảo vệ quyền con người[1]. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 được Quốc hội khóa XV thông qua tại Kỳ họp thứ 10 ngày 10/12/2025, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026 có nhiều sửa đổi, bổ sung nhằm làm rõ hơn vị trí, nhiệm vụ và thẩm quyền của Tòa án. Tuy nhiên, nghiên cứu cho thấy, một số quy định chưa thực sự thống nhất và phù hợp, có thể dẫn đến khó khăn, vướng mắc trong tổ chức thi hành án. Bài viết phân tích, đánh giá các quy định mới của Luật Thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự, chỉ ra một số vấn đề có thể phát sinh trong quá trình triển khai thi hành trên thực tế và đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện, nâng cao hiệu quả thi hành án hình sự, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.

1. Vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự theo Luật Thi hành án hình sự năm 2025

Thi hành án hình sự là quá trình tổ chức thực hiện các bản án, quyết định hình sự đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án, do cơ quan và người có thẩm quyền tiến hành theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định, để bảo đảm người bị kết án phải chấp hành đầy đủ các hình phạt và biện pháp tư pháp được tuyên trong bản án. Đây là hoạt động quan trọng vì, bản án, quyết định của Tòa án về hình sự đã có hiệu lực pháp luật mà không được thi hành thì toàn bộ hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử đều vô nghĩa. Khi bản án, quyết định của Tòa án được thi hành, chính là công lý được thực hiện trong cuộc sống[2]. Hoạt động này thể hiện quyền lực nhà nước trong lĩnh vực tư pháp hình sự, nhằm bảo đảm các phán quyết của Tòa án được thực thi nghiêm minh, qua đó góp phần giáo dục, cải tạo người phạm tội trở thành công dân có ích và phòng ngừa tội phạm trong xã hội[3].

Trong hệ thống tổ chức thi hành án hình sự, Tòa án giữ vai trò trung tâm, thể hiện thông qua các nhiệm vụ, quyền hạn được quy định tại Điều 15 Luật Thi hành án hình sự năm 2025. Cụ thể:

Thứ nhất, Tòa án thực hiện chức năng khởi phát và bảo đảm tính pháp lý của quá trình thi hành án hình sự thông qua việc ra quyết định thi hành án đối với từng người bị kết án và từng loại hình phạt; quyết định thành lập Hội đồng thi hành án tử hình; xem xét việc cho nhận tử thi của người bị thi hành án tử hình; đồng thời, chuyển giao kịp thời bản án, quyết định và hồ sơ liên quan cho các cơ quan có thẩm quyền nhằm bảo đảm sự phối hợp thống nhất trong tổ chức thi hành án.

Thứ hai, Tòa án thực hiện vai trò kiểm soát và điều chỉnh quá trình thi hành án thông qua việc ban hành, thay đổi hoặc hủy bỏ các quyết định liên quan đến chấp hành hình phạt, gồm hoãn, tạm đình chỉ chấp hành án, giảm thời hạn, miễn chấp hành hình phạt, tha tù trước thời hạn có điều kiện, buộc chấp hành hình phạt tù đối với người hưởng án treo vi phạm nghĩa vụ, điều chỉnh thời hạn trục xuất hoặc thời gian thử thách; đồng thời, trưng cầu giám định pháp y tâm thần và quyết định áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh, qua đó, bảo đảm tính công bằng, nhân đạo và tuân thủ pháp luật trong thi hành án hình sự.

Thứ ba, Tòa án thực hiện vai trò phối hợp và quản lý trong thi hành án hình sự thông qua việc quyết định tiếp nhận hoặc chuyển giao phạm nhân trong hợp tác quốc tế. Thực tiễn cho thấy, có nhiều trường hợp người Việt Nam phạm tội ở nước ngoài được chuyển giao về Việt Nam để chấp hành án hoặc người nước ngoài phạm tội tại Việt Nam được chuyển giao về quốc gia họ mang quốc tịch hoặc quốc gia khác có thẩm quyền. Trong các trường hợp này, Tòa án đóng vai trò trung tâm trong việc ra quyết định tiếp nhận hoặc chuyển giao phạm nhân, bảo đảm tính thống nhất với chức năng, nhiệm vụ của cơ quan tư pháp trong giai đoạn thi hành án[4]. Ngoài ra, Tòa án còn thực hiện chế độ thống kê, báo cáo phục vụ công tác quản lý nhà nước và yêu cầu cải cách tư pháp.

Như vậy, có thể khẳng định, hiện pháp luật đã xác lập vai trò xuyên suốt và trung tâm của Tòa án trong toàn bộ quá trình thi hành án hình sự, bảo đảm mọi hoạt động thi hành án đều đặt dưới sự kiểm soát của cơ quan thực hiện quyền tư pháp.

2. Một số vấn đề đặt ra đối với Luật Thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Mặc dù Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều quy định nhằm làm rõ vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự, song nghiên cứu cho thấy, còn tồn tại một số vấn đề có thể phát sinh trong thực tiễn thi hành ảnh hưởng đến việc phát huy đầy đủ vai trò của Tòa án với tư cách là chủ thể thực hiện quyền tư pháp. Cụ thể:

Thứ nhất, phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án được quy định trong Luật Thi hành án hình sự năm 2025 chưa bao quát hết tất cả công việc Tòa án phải thực hiện theo các luật liên quan, dẫn đến thiếu thống nhất trong hệ thống pháp luật.

Từ khoản 1 đến khoản 8 Điều 15 Luật Thi hành án hình sự năm 2025 liệt kê tám nhóm nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án trong thi hành án hình sự và quy định thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của Luật này (khoản 9), mà không đề cập đến các nhiệm vụ theo quy định của pháp luật hình sự, pháp luật tố tụng hình sự. Điều này gây mâu thuẫn và thiếu đồng bộ giữa Luật Thi hành án hình sự năm 2025 với các đạo luật có liên quan. Chẳng hạn, từ Điều 70 đến Điều 73 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung các năm 2017, 2025 (Bộ luật Hình sự năm 2015) quy định về xóa án tích, trong đó, xác định Tòa án có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận xóa án tích hoặc xóa án tích trong một số trường hợp. Tuy nhiên, Luật Thi hành án hình sự năm 2025 không quy định nhiệm vụ của Tòa án về xóa án tích tại Điều 15, cũng không dẫn chiếu áp dụng Bộ luật Hình sự. Về nguyên tắc, khi người được xóa án tích đương nhiên theo luật, Tòa án phải ra quyết định hoặc xác nhận việc này; nhưng do Luật Thi hành án hình sự năm 2025 không quy định rõ nên có thể dẫn đến cách hiểu Tòa án không có trách nhiệm về vấn đề xóa án tích, điều này mâu thuẫn với Bộ luật Hình sự năm 2015 và gây lúng túng trong thực tiễn áp dụng. Tương tự, một số quy định khác mà Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung các năm 2021, 2025 (Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015) giao cho Tòa án trong giai đoạn sau xét xử cũng chưa được quy định trong Luật Thi hành án hình sự năm 2025, như quyết định xử lý vật chứng sau xét xử, giải quyết bồi thường trong thi hành án…, làm cho khung pháp lý về nhiệm vụ của Tòa án chưa thực sự đầy đủ, đồng bộ.

Thứ hai, một số quy định về thẩm quyền quyết định của Tòa án trong thi hành án hình sự còn hạn chế, chưa phù hợp thực tiễn, đặc biệt, trong xét giảm án phạt tù cho phạm nhân.

Điều 36 Luật Thi hành án hình sự năm 2025 quy định việc giảm thời hạn chấp hành án phạt tù được thực hiện định kỳ (mỗi năm 03 đợt) và dựa trên đề nghị của trại giam, trại tạm giam thuộc Bộ Công an, Bộ Quốc phòng hoặc cơ quan thi hành án hình sự công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu. Hội đồng xét giảm thời hạn chấp hành án (do Tòa án chủ trì) chỉ được quyết định mức giảm không vượt quá mức mà cơ sở giam giữ đề xuất và trong giới hạn luật cho phép. Quy định này nhằm bảo đảm tính chặt chẽ, song, bộc lộ bất cập là Tòa án hầu như chỉ xem xét phê chuẩn đề nghị, không có quyền tăng mức giảm án ngay cả khi thấy đề xuất của trại giam chưa tương xứng với mức cải tạo của phạm nhân. Thực tiễn cho thấy, có trường hợp hai phạm nhân cải tạo tốt như nhau nhưng trại giam đề nghị mức giảm khác nhau, dẫn đến cảm nhận thiếu công bằng giữa các phạm nhân và hạn chế quyền chủ động của Tòa án trong việc đảm bảo chính sách khoan hồng được áp dụng thống nhất[5]. Mặc dù, Nghị quyết số 03/2024/NQ-HĐTP ngày 10/6/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Hình sự về thời hiệu thi hành bản án, miễn chấp hành hình phạt, giảm mức hình phạt đã tuyên, giảm thời hạn chấp hành hình phạt trong trường hợp đặc biệt, hoãn chấp hành hình phạt tù, tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù đã hướng dẫn chi tiết hơn về thủ tục và điều kiện giảm án, nhưng về lâu dài, cần quy định rõ thẩm quyền của Tòa án trong việc quyết định mức giảm án phù hợp thực tế, thay vì bị giới hạn cứng bởi đề xuất của cơ quan giam giữ. Ngoài ra, luật chưa có cơ chế để Tòa án chủ động xem xét giảm án trong trường hợp đặc biệt nếu cơ quan thi hành án không đề nghị[6]. Phạm nhân hoặc cơ quan khác (như Viện kiểm sát nhân dân) không có quyền yêu cầu trực tiếp Tòa án xét giảm án, dẫn đến phụ thuộc hoàn toàn vào đề xuất của trại giam. Đây là khoảng trống pháp lý cần nghiên cứu bổ sung để bảo đảm mọi phạm nhân đủ điều kiện đều có cơ hội bình đẳng được xét giảm án.

Thứ ba, một số quy định về thủ tục thi hành án hình sự chưa rõ ràng, gây khó khăn trong việc thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án, như:

- Thiếu thống nhất giữa các quy định về thủ tục thi hành án trong những tình huống đặc biệt. Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định khi bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị thì Tòa án sơ thẩm ra quyết định thi hành án; nhưng nếu bản án sơ thẩm bị Tòa phúc thẩm hủy để điều tra lại, pháp luật hiện hành chưa quy định về việc xử lý quyết định thi hành án đã ban hành đối với bị cáo không kháng cáo[7]. Điều này có nghĩa, nếu một bị cáo không kháng cáo đã bắt đầu chấp hành án, nhưng do đồng phạm khác kháng cáo mà bản án bị hủy chung, thì không có điều luật nào hướng dẫn Tòa án hoặc cơ quan thi hành án xử lý tình huống này (hủy quyết định thi hành án, tạm dừng thi hành án hay tiếp tục thi hành đối với phần không kháng cáo). Do pháp luật chưa quy định về vấn đề này nên có thể gây lúng túng trong thực tiễn và tiềm ẩn nguy cơ xâm phạm quyền lợi của người chấp hành án.

- Quy định về trách nhiệm của chính quyền địa phương trong công tác thi hành án hình sự còn thiếu cụ thể và chưa chặt chẽ. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 chưa có điều khoản riêng xác định rõ nhiệm vụ và thẩm quyền của Ủy ban nhân dân (UBND) cấp xã trong quản lý, giám sát người được hoãn hoặc tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù khi họ cư trú tại địa phương. Khi Tòa án quyết định một phạm nhân hoãn hoặc tạm đình chỉ chấp hành án vì lý do nhất định (như bệnh nặng, thai sản), người đó trở về địa phương nhưng pháp luật chưa quy định rõ cơ quan theo dõi, quản lý. Điều này gây khó khăn trong giám sát, phòng ngừa người được hoãn chấp hành án vi phạm pháp luật trong thời gian hoãn.

Thứ tư, bất cập về vai trò của Tòa án trong thi hành án treo.

UBND cấp xã là cơ quan trực tiếp thực hiện nhiệm vụ giám sát, giáo dục người được hưởng án treo, giữ vai trò then chốt trong bảo đảm hiệu quả thi hành án hình sự tại cộng đồng. Thông qua tiếp nhận hồ sơ, tổ chức quản lý, theo dõi quá trình chấp hành nghĩa vụ và rèn luyện của người được hưởng án treo, UBND cấp xã góp phần giúp họ nhận thức rõ trách nhiệm của mình, từng bước sửa chữa sai lầm và tái hòa nhập xã hội[8] . Để thực hiện tốt vai trò này, UBND cấp xã cần phối hợp chặt chẽ và được hướng dẫn nghiệp vụ đầy đủ từ các cơ quan tư pháp, đặc biệt là Tòa án. Tuy nhiên, Luật Thi hành án hình sự năm 2025 chưa quy định cụ thể về thẩm quyền của Tòa án trong cấp sổ theo dõi người được hưởng án treo cho người chấp hành án, cũng như bàn giao và lưu giữ sổ tại UBND cấp xã nơi người đó cư trú. Từ đó, dẫn đến tình trạng áp dụng không thống nhất trong thực tiễn, theo đó, nhiều Tòa án không thực hiện hoặc chậm thực hiện việc cấp và gửi sổ theo dõi, gây khó khăn cho UBND cấp xã trong ghi nhận việc trình diện, theo dõi và đánh giá quá trình rèn luyện hằng tháng của người được hưởng án treo. Đồng thời, trên phương diện bảo đảm quyền và nghĩa vụ của người chấp hành án, sổ theo dõi còn là căn cứ quan trọng để người được hưởng án treo xuất trình với cơ quan công an cấp xã hoặc cảnh sát khu vực nơi tạm trú nhằm xác nhận tình hình cư trú, lao động và chấp hành pháp luật.

Bên cạnh đó, Luật Thi hành án hình sự năm 2025 chưa quy định rõ trách nhiệm của Tòa án trong kiểm tra, giám sát và hướng dẫn nghiệp vụ đối với các cơ quan, tổ chức được giao nhiệm vụ quản lý, giám sát người được hưởng án treo. Việc thiếu cơ chế pháp lý làm hạn chế vai trò trung tâm của Tòa án trong thi hành án hình sự, đồng thời, dẫn đến nguy cơ buông lỏng công tác quản lý, giáo dục người được hưởng án treo, qua đó, ảnh hưởng đến hiệu quả và tính nghiêm minh của hoạt động thi hành án trên thực tế[9].

3. Kiến nghị hoàn thiện Luật Thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Trên cơ sở phân tích những vấn đề có thể phát sinh trong thực tiễn thi hành Luật Thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo đảm tính thống nhất, khả thi và nâng cao hiệu quả thi hành án hình sự.

Một là, bổ sung, hoàn thiện các quy định của Luật Thi hành án hình sự năm 2025 về nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án trong thi hành án hình sự.

Luật Thi hành án hình sự năm 2025 cần bảo đảm phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án trong thi hành án hình sự được quy định đầy đủ, đồng bộ trong mối tương quan với các đạo luật khác. Trước hết, cần bổ sung vào khoản 9 Điều 15 Luật Thi hành án hình sự năm 2025 quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án theo hướng: “Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của Luật này và các văn bản pháp luật có liên quan”. Bổ sung này giúp đồng bộ với Bộ luật Hình sự năm 2015 và Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, bảo đảm Tòa án không bỏ sót nhiệm vụ do văn bản khác giao. Theo đó, những nhiệm vụ như cấp giấy chứng nhận xóa án tích, quyết định xử lý vật chứng sau xét xử, giải quyết bồi thường trong thi hành án (nếu có)… sẽ được hiểu là thuộc thẩm quyền Tòa án, dù không được liệt kê cụ thể trong Luật Thi hành án hình sự năm 2025. Ngoài ra, nên bổ sung vào Điều 15 Luật Thi hành án hình sự năm 2025 một số nhiệm vụ quan trọng đã được luật khác quy định, để người áp dụng dễ nhận biết. Ví dụ, bổ sung quy định về “ra quyết định xóa án tích trong trường hợp được xóa án tích theo luật định”, viện dẫn Điều 71, Điều 72 Bộ luật Hình sự năm 2015[10]. Việc liệt kê đầy đủ không làm trùng lặp pháp luật mà bảo đảm tính minh bạch, rõ ràng nhiệm vụ của Tòa án, tránh hiểu Tòa án chỉ làm những gì ghi trong luật này. Điều khoản này sẽ đóng vai trò “cầu nối”, đảm bảo người áp dụng luật nhận thức đầy đủ thẩm quyền của Tòa án mà không bỏ sót quy định khác ngoài Luật Thi hành án hình sự năm 2025.

Hai là, tăng cường thẩm quyền chủ động của Tòa án trong việc quyết định các biện pháp về thi hành án, bảo đảm tính công bằng, nhân đạo.

Luật Thi hành án hình sự năm 2025 điều chỉnh toàn diện hoạt động thi hành án phạt tù và công tác giam giữ phạm nhân. Nội dung của Luật không chỉ nhằm bảo đảm hiệu quả thi hành án hình sự mà còn thể hiện rõ cam kết của Việt Nam trong bảo vệ quyền con người, đặc biệt, các quyền cơ bản của người bị giam giữ, phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế, điển hình là Bộ quy tắc Nelson Mandela[11]. Với tinh thần bảo vệ quyền của phạm nhân, Luật Thi hành án hình sự năm 2025 cần được sửa đổi theo hướng mở rộng hơn quyền quyết định của Tòa án trong một số trường hợp. Cụ thể, về xét giảm thời hạn chấp hành án phạt tù, kiến nghị bổ sung quy định cho phép Hội đồng xét giảm án của Tòa án có thể quyết định mức giảm cao hơn đề nghị của cơ quan thi hành án hình sự, nếu xét thấy đề nghị ban đầu chưa tương xứng với mức độ cải tạo và đủ điều kiện luật định của phạm nhân. Để tránh lạm dụng, Luật có thể giới hạn mức chênh lệch tối đa, như không quá một mức đề nghị hoặc không vượt quá một khoảng thời gian nhất định so với đề nghị. Quy định này sẽ trao thêm quyền linh hoạt cho Tòa án, kịp thời điều chỉnh những đề xuất giảm án chưa hợp lý, qua đó, bảo đảm công bằng giữa các phạm nhân. Bên cạnh đó, cần nghiên cứu thiết lập cơ chế đề nghị giảm án ngoài kỳ hạn trong trường hợp đặc biệt. Ví dụ, cho phép phạm nhân (thông qua giám thị trại giam) kiến nghị Tòa án xét giảm án nếu người đó lập thành tích đặc biệt xuất sắc hoặc có lý do nhân đạo để bảo đảm tính khách quan, minh bạch và bình đẳng trong bảo đảm các quyền này cho phạm nhân khi họ đang chấp hành hình phạt tại các trại giam[12]. Điều này giúp khắc phục tình trạng phụ thuộc tuyệt đối vào đề nghị của trại giam, đồng thời, phù hợp với chính sách khuyến khích phạm nhân cải tạo tốt.

Ba là, hoàn thiện quy định của Luật Thi hành án hình sự năm 2025 về thủ tục thi hành án nhằm tạo điều kiện thuận lợi để Tòa án thực hiện đầy đủ nhiệm vụ, quyền hạn theo luật định.

Bổ sung các quy định xử lý những tình huống đặc thù phát sinh trong quá trình thi hành án hình sự mà Luật Thi hành án hình sự năm 2025 chưa đề cập hoặc quy định chưa đầy đủ. Điển hình là bổ sung điều khoản về hủy bỏ hoặc tạm đình chỉ quyết định thi hành án trong trường hợp bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật nhưng sau đó bị hủy để điều tra hoặc xét xử lại theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm. Quy định này nhằm trao cho Tòa án căn cứ pháp lý rõ ràng để kịp thời ban hành quyết định dừng thi hành án đối với những phần bản án bị hủy, khắc phục tình trạng lúng túng, thiếu thống nhất trong áp dụng pháp luật và tránh phát sinh hệ quả pháp lý bất lợi do việc thi hành án tiếp tục hay chấm dứt không được xác định rõ ràng.

Bên cạnh đó, Luật Thi hành án hình sự năm 2025 cần quy định cụ thể hơn về trách nhiệm của chính quyền địa phương và các cơ quan có liên quan trong quản lý người chấp hành án tại cộng đồng. Theo đó, kiến nghị bổ sung điều luật quy định rõ nhiệm vụ, quyền hạn của UBND cấp xã (hoặc đơn vị quân đội được giao quản lý) đối với người được hoãn hoặc tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù. Cụ thể, UBND cấp xã nơi người được hoãn hoặc tạm đình chỉ chấp hành án cư trú có trách nhiệm phối hợp với cơ quan công an và gia đình trong quản lý, giám sát, giáo dục người đó chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, thực hiện các nghĩa vụ theo quyết định của Tòa án, đồng thời, định kỳ báo cáo tình hình chấp hành cho Tòa án đã ra quyết định. Việc bổ sung quy định này sẽ góp phần khắc phục khoảng trống pháp lý hiện nay, tăng cường trách nhiệm của chính quyền cơ sở, bảo đảm sự thống nhất trong quản lý người chấp hành án và hạn chế tình trạng buông lỏng quản lý đối với người được hoãn hoặc tạm đình chỉ thi hành án hình sự.

Bốn là, hoàn thiện các quy định của Luật Thi hành án hình sự năm 2025 về thi hành án treo.

Đối với việc thi hành án treo, Luật Thi hành án hình sự năm 2025 cần bổ sung quy định về trách nhiệm của Tòa án trong cấp Sổ theo dõi người được hưởng án treo cho người chấp hành án, đồng thời, gửi và lưu giữ một bản tại UBND cấp xã nơi người đó cư trú để phục vụ công tác quản lý, giám sát và giáo dục. Trên thực tế, việc thiếu quy định bắt buộc và thống nhất về vấn đề này trong luật hiện hành dẫn đến tình trạng một số Tòa án không thực hiện hoặc thực hiện không kịp thời việc cấp và chuyển giao sổ theo dõi, gây khó khăn cho chính quyền cơ sở trong quá trình phối hợp quản lý, giám sát và hỗ trợ người được hưởng án treo trong thời gian thử thách.

Bên cạnh đó, việc thiếu cơ sở pháp lý rõ ràng cũng làm hạn chế vai trò của cộng đồng dân cư, gia đình và các tổ chức xã hội trong tham gia giáo dục, giúp đỡ người chấp hành án treo sửa chữa lỗi lầm và tái hòa nhập cộng đồng[13] . Hạn chế này càng bộc lộ rõ đối với người chưa thành niên phạm tội, bởi đây là nhóm đối tượng đặc thù, cần sự theo dõi chặt chẽ, liên tục và có sự phối hợp đồng bộ giữa các cơ quan tư pháp, chính quyền địa phương và gia đình. Do đó, bổ sung quy định trên không chỉ góp phần nâng cao hiệu quả thi hành án treo mà còn bảo đảm tốt hơn mục tiêu nhân đạo, phòng ngừa tái phạm và tái hòa nhập xã hội của pháp luật hình sự Việt Nam.

Kết luận

Qua phân tích các quy định của Luật Thi hành án hình sự năm 2025, nghiên cứu đã làm rõ vai trò trung tâm của Tòa án trong thi hành án hình sự với tư cách là chủ thể quyết định, kiểm soát và bảo đảm tính hợp pháp, công bằng và nhân đạo của việc thi hành các bản án hình sự. Đồng thời, nghiên cứu cũng chỉ ra một số bất cập chủ yếu của pháp luật hiện hành liên quan đến phạm vi thẩm quyền, cơ chế ra quyết định và thủ tục thi hành án, làm hạn chế hiệu quả thực hiện vai trò của Tòa án trên thực tế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện Luật nhằm tăng cường thẩm quyền, trách nhiệm và tính chủ động của Tòa án, góp phần nâng cao hiệu quả thi hành án hình sự và đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay.

NCS. ThS. Trịnh Thị Hạnh

Giảng viên Học viện Tòa án, Nghiên cứu sinh Trường Đại học Luật, Đại học quốc gia Hà Nội

Ảnh: Internet

[1]. Nguyễn Thị Yến Hoa (2023), Một số bất cập về công tác thi hành án hình sự và đề xuất, kiến nghị, https://lsvn.vn/mot-so-bat-cap-ve-cong-tac-thi-hanh-an-hinh-su-va-de-xuat-kien-nghi-1683131951-a130004.html, truy cập ngày 31/01/2026.

[2]. Đinh Hoàng Quang (2021), Bàn về đối tượng kiểm sát thi hành án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân, Tạp chí Khoa học kiểm sát, số 1, tr.37-39.

[3]. Nguyễn Thị Yến Hoa (2023), tlđd.

[4]. Nguyễn Thị Mai (2021), Cơ quan thi hành án hình sự và cơ quan quản lý thi hành án hình sự theo quy định của Luật Thi hành án hình sự năm 2019, Tạp chí Luật học, số 2, tr.54.

[5]. Thái Vũ (2019), Thẩm quyền của Tòa án trong thi hành án hình sự, https://tapchitoaan.vn/tham-quyen-cua-toa-an-trong-thi-hanh-an-hinh-su, truy cập ngày 31/01/2026.

[6]. Lê Thị Diễm Hằng (2021), Quy định về tha tù trước thời hạn có điều kiện trong Luật Thi hành án hình sự năm 2019 và một số kiến nghị, Tạp chí Luật học, số 3, tr.31.

[7]. Nguyễn Thị Yến Hoa (2023), tlđd.

[8]. Hoàng Nguyên Thắng (2021), Thẩm quyền giám sát, giáo dục đối với người chấp hành án treo, cải tạo không giam giữ theo quy định của pháp luật hiện hành, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 22, tr.43.

[9]. Nguyễn Ngọc Kiện, Trương Thị Thu Hằng, Hồ Minh Tùng (2023), Một số bất cập của Luật Thi hành án hình sự năm 2019 về án treo và giải pháp hoàn thiện, Tạp chí Kiểm sát, số 6, tr.22.

[10]. Phạm Minh Quân (2024), Bất cập của chế định xóa án tích trong Bộ luật Hình sự và một số kiến nghị, Tạp chí Việt Nam hội nhập, số 339, tr.46.

[11]. Hoàng Thị Hoa (2025), Bảo đảm quyền con người của phạm nhân theo Bộ quy tắc Nelson Mandela, Tạp chí Kiểm sát, số 18, tr.55.

[12]. Đỗ Thị Phượng (2020), Những quy định mới về quyền của phạm nhân trong Luật Thi hành án hình sự năm 2019 và một số kiến nghị, Tạp chí Luật học, số 11, tr.90.

[13]. Trần Tuấn Minh (2022), Cải tạo người phạm tội bị áp dụng hình phạt tù - Kinh nghiệm từ Na Uy và gợi mở cho Việt Nam, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 10, tr.48.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Đinh Hoàng Quang (2021), Bàn về đối tượng kiểm sát thi hành án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân, Tạp chí Khoa học kiểm sát, số 1.

2. Đỗ Thị Phượng (2020), Những quy định mới về quyền của phạm nhân trong Luật Thi hành án hình sự năm 2019 và một số kiến nghị, Tạp chí Luật học, số 11.

3. Hoàng Nguyên Thắng (2021), Thẩm quyền giám sát, giáo dục đối với người chấp hành án treo, cải tạo không giam giữ theo quy định của pháp luật hiện hành, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 22.

4. Hoàng Thái Duy (2021), Quy định mới về thi hành án phạt cải tạo không giam giữ trong Luật Thi hành án hình sự năm 2019 và một số kiến nghị, Tạp chí Nghề luật, số 1.

5. Hoàng Thị Hoa (2025), Bảo đảm quyền con người của phạm nhân theo Bộ quy tắc Nelson Mandela, Tạp chí Kiểm sát, số 18.

6. Lê Thị Diễm Hằng (2021), Quy định về tha tù trước thời hạn có điều kiện trong Luật Thi hành án hình sự năm 2019 và một số kiến nghị, Tạp chí Luật học, số 3.

7. Nguyễn Ngọc Kiện, Trương Thị Thu Hằng, Hồ Minh Tùng (2023), Một số bất cập của Luật Thi hành án hình sự năm 2019 về án treo và giải pháp hoàn thiện, Tạp chí Kiểm sát, số 6.

8. Nguyễn Thị Mai (2021), Cơ quan thi hành án hình sự và cơ quan quản lý thi hành án hình sự theo quy định của Luật Thi hành án hình sự năm 2019, Tạp chí Luật học, số 2.

9. Nguyễn Thị Yến Hoa (2023), Một số bất cập về công tác thi hành án hình sự và đề xuất, kiến nghị, https://lsvn.vn/mot-so-bat-cap-ve-cong-tac-thi-hanh-an-hinh-su-va-de-xuat-kien-nghi-1683131951-a130004.html, truy cập ngày 31/01/2026.

10. Phạm Minh Quân (2024), Bất cập của chế định xóa án tích trong Bộ luật Hình sự và một số kiến nghị, Tạp chí Việt Nam hội nhập, số 339.

11. Thái Vũ (2019), Thẩm quyền của Tòa án trong thi hành án hình sự, https://tapchitoaan.vn/tham-quyen-cua-toa-an-trong-thi-hanh-an-hinh-su, truy cập ngày 31/01/2026.

12. Trần Tuấn Minh (2022), Cải tạo người phạm tội bị áp dụng hình phạt tù - Kinh nghiệm từ Na Uy và gợi mở cho Việt Nam, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 10.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số Kỳ 2 (447) tháng 2/2026)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh của nền kinh tế nền tảng trong bối cảnh chuyển đổi số đang làm thay đổi cấu trúc quan hệ lao động và đặt ra những thách thức mới đối với việc bảo vệ quyền của người lao động. Nghiên cứu phân tích địa vị pháp lý và các quyền cơ bản của lao động nền tảng tại Việt Nam trong các lĩnh vực lao động như vận tải, giao hàng và dịch vụ trực tuyến. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tổng hợp thực tiễn, nghiên cứu nhận diện khoảng trống của pháp luật trong bảo đảm quyền của nhóm lao động này. Kết quả nghiên cứu cho thấy, pháp luật Việt Nam chưa theo kịp đặc thù của mô hình lao động nền tảng như xác định quan hệ lao động, an sinh xã hội và kiểm soát thuật toán. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng.
Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Tóm tắt: Tiêu chí đánh giá chất lượng công chức làm công tác thi hành án dân sự là tập hợp các dấu hiệu/nhóm dấu hiệu phản ánh năng lực, hành vi công vụ, phẩm chất đạo đức và kết quả thực thi nhiệm vụ của công chức thi hành án dân sự, sử dụng để đo lường, so sánh và cải thiện hiệu suất làm việc của đội ngũ công chức trong hệ thống thi hành án dân sự. Nghiên cứu cho thấy, hiện, tiêu chí đánh giá chất lượng còn thiếu, nhất là tiêu chí phản ánh bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp, tư duy cải cách... Vì vậy, nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận của việc xây dựng tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trên nền tảng quản trị công vụ hiện đại, gắn với vị trí việc làm, khung năng lực và kết quả thực hiện nhiệm vụ. Trên cơ sở phân tích thực trạng quy định pháp luật hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những kết quả đạt được, đồng thời, nhận diện hạn chế, bất cập trong thực trạng đánh giá hiện nay. Từ đó, nghiên cứu đề xuất hệ tiêu chí đánh giá theo hướng kết hợp giữa tiêu chí chung của công chức với tiêu chí đặc thù của từng chức danh như Chấp hành viên, Thẩm tra viên, Thư ký thi hành án nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ công chức ngành thi hành án dân sự đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030.
Vai trò của doanh nghiệp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế nhà nước - thị trường - xã hội

Vai trò của doanh nghiệp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế nhà nước - thị trường - xã hội

Tóm tắt: Xây dựng, hoàn thiện thể chế về mối quan hệ giữa Nhà nước, thị trường và xã hội là yêu cầu quan trọng nhằm huy động tối đa các nguồn lực cho sự phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới; trong đó, không thể thiếu sự đóng góp của các doanh nghiệp. Trên cơ sở phân tích vai trò của doanh nghiệp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế về mối quan hệ giữa Nhà nước, thị trường và xã hội; nghiên cứu đánh giá thực tiễn sự tham gia của cộng đồng doanh nghiệp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế những năm qua; từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy vai trò của các doanh nghiệp, với tư cách là một thành tố cơ bản trong xây dựng, phát triển đất nước và chủ thể đồng kiến tạo thể chế, phục vụ phát triển đất nước.
Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Trong bối cảnh yêu cầu phát triển đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nâng cao chất lượng quản trị quốc gia đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam ở cấp độ cấu trúc, thay vì sửa đổi từng văn bản riêng lẻ. Trên cơ sở định hướng của Kết luận số 09-KL/TW và đối chiếu với Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025*, nghiên cứu phân tích, làm rõ các vấn đề liên quan đến cấu trúc nguồn luật, hình thức văn bản quy phạm pháp luật, nguyên tắc xử lý xung đột pháp luật, nguồn bổ trợ, văn bản hợp nhất và cơ chế đánh giá sau ban hành, từ đó, chỉ ra một số nội dung chưa được thể chế hóa đầy đủ và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng tinh, gọn, thống nhất, minh bạch, dễ tiếp cận, có khả năng kiến tạo phát triển.
Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Quyền được đào tạo của người lao động là một trong những quyền cơ bản, có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm việc làm bền vững và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong quan hệ lao động, nguyên tắc tự do hợp đồng không được áp dụng tuyệt đối, mà chịu sự điều chỉnh và giới hạn nhất định nhằm bảo vệ người lao động là bên yếu thế. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, nghiên cứu làm rõ các giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động nhằm bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động, từ đó, đánh giá thực tiễn áp dụng và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Từ khóa: tự do hợp đồng; quan hệ lao động; quyền được đào tạo.
Sáu chính sách trụ cột mở đường phát triển ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam

Sáu chính sách trụ cột mở đường phát triển ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam

Trong những năm qua, công nghiệp văn hóa Việt Nam từng bước hình thành và phát triển, tạo ra nhiều sản phẩm có giá trị về kinh tế, văn hóa và xã hội. Tuy nhiên, sự phát triển của lĩnh vực này vẫn chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế về tài nguyên văn hóa, nguồn nhân lực và quy mô thị trường của Việt Nam. Nhiều điểm nghẽn về thể chế, tài chính, nhân lực, hạ tầng, tài sản trí tuệ và thị trường đang đặt ra yêu cầu phải có những giải pháp mang tính đồng bộ, dài hạn.
Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Tóm tắt: Xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm trật tự quản lý nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch, đồng thời, góp phần xây dựng môi trường kinh doanh du lịch an toàn, lành mạnh và bền vững. Thời gian qua, pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch từng bước được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm trên thực tế. Tuy nhiên, các quy định hiện hành còn một số hạn chế như thiếu thống nhất, chưa rõ ràng, còn chồng chéo và chưa bao quát đầy đủ một số hành vi vi phạm đặc thù. Trên cơ sở phân tích một số bất cập của pháp luật hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả xử phạt trong thực tiễn.
Xây dựng khung pháp lý phát triển công nghiệp văn hóa

Xây dựng khung pháp lý phát triển công nghiệp văn hóa

Nhằm cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam, đồng thời triển khai các chỉ đạo, kết luận của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Phiên họp thứ hai của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hóa Việt Nam, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xây dựng và lấy ý kiến dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa (dự thảo Luật). Dự án Luật được xây dựng theo trình tự, thủ tục rút gọn và dự kiến trình Quốc hội khóa XVI tại Kỳ họp thứ hai (tháng 10/2026).
Dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi) - Từ đổi mới chính sách đến yêu cầu tổ chức thực hiện

Dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi) - Từ đổi mới chính sách đến yêu cầu tổ chức thực hiện

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Tuy nhiên, trước yêu cầu đổi mới công tác xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật, chuyển đổi số quốc gia, tổ chức chính quyền địa phương theo mô hình hai cấp và hội nhập quốc tế, nhiều quy định của Luật đã bộc lộ hạn chế, bất cập cần được sửa đổi, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích bối cảnh và thực tiễn thi hành, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết sửa đổi Luật; phân tích 06 chính sách lớn và những điểm mới của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* ( dự thảo Luật), đồng thời, đề xuất một số yêu cầu, giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả tổ chức thi hành Luật.
Hoàn thiện quy định về căn cứ, phạm vi và thủ tục bồi thường của nhà nước trong dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật trách nhiệm bồi thường của nhà nước

Hoàn thiện quy định về căn cứ, phạm vi và thủ tục bồi thường của nhà nước trong dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật trách nhiệm bồi thường của nhà nước

Tóm tắt: Trước yêu cầu hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền được bồi thường của cá nhân, tổ chức và khắc phục những bất cập trong thực tiễn thi hành Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017, nghiên cứu phân tích dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước1 (dự thảo Luật), trên cơ sở so sánh với Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 20172 và ý kiến của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Nghiên cứu đánh giá những điểm mới của dự thảo Luật, đồng thời, chỉ ra các nội dung cần tiếp tục hoàn thiện như phạm vi trách nhiệm bồi thường, căn cứ yêu cầu bồi thường, nghĩa vụ chứng minh, cơ chế giải quyết và quản trị dữ liệu, từ đó, đề xuất các kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật, bảo đảm cơ chế bồi thường của Nhà nước minh bạch, khách quan và khả thi.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật cho đối tượng đặc thù theo dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật cho đối tượng đặc thù theo dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)

Tóm tắt: Phổ biến, giáo dục pháp luật có vai trò đặc biệt quan trọng giúp người dân nói chung và các đối tượng đặc thù nói riêng biết, hiểu và thực hiện theo đúng quy định của pháp luật, góp phần xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật. Nghiên cứu phân tích dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật), tập trung vào các quy định về đối tượng đặc thù, chính sách hỗ trợ, trách nhiệm của các chủ thể, chuyển đổi số, nguồn lực, cơ chế đánh giá và đội ngũ thực hiện. Nghiên cứu sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa và so sánh pháp luật. Kết quả cho thấy, dự thảo Luật có nhiều điểm mới như cụ thể hóa nhóm đối tượng đặc thù, phân định trách nhiệm của các chủ thể, bổ sung quy định về chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo, đồng thời, chú trọng bảo đảm nguồn lực và đánh giá hiệu quả thực hiện. Tuy nhiên, nghiên cứu cho thấy, một số nội dung dự thảo Luật cần tiếp tục hoàn thiện, gồm tiêu chí xác định đối tượng, chính sách hỗ trợ, chuẩn tiếp cận tối thiểu, cơ chế phối hợp, khả năng tiếp cận trong môi trường số, căn cứ phân bổ nguồn lực, tiêu chí đánh giá và yêu cầu về năng lực của đội ngũ thực hiện. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đưa ra một số kiến nghị, đề xuất nhằm hoàn thiện dự thảo Luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới.
Sự cần thiết xây dựng dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)

Sự cần thiết xây dựng dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm triển khai thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng để nâng cao nhận thức, ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức và Nhân dân, góp phần đưa pháp luật vào cuộc sống, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, trước yêu cầu mới của Đảng về đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, phát triển khoa học, công nghệ, chuyển đổi số, thực hiện mô hình quyền địa phương hai cấp, xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật, nhiều quy định của Luật bộc lộ những hạn chế, bất cập cả về nội dung và phương thức tổ chức thực hiện. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý và thực tiễn của việc xây dựng dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi) (dự thảo Luật), qua đó, khẳng định sự cần thiết phải sửa đổi toàn diện Luật nhằm hoàn thiện thể chế về phổ biến, giáo dục pháp luật, tăng cường gắn kết giữa xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật, đẩy mạnh chuyển đổi số, huy động nguồn lực xã hội và bảo đảm nâng cao hiệu quả quyền tiếp cận pháp luật của người dân, doanh nghiệp, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.
Tiêu chí kinh nghiệm hành nghề của giảng viên trong bảo đảm chất lượng đào tạo luật

Tiêu chí kinh nghiệm hành nghề của giảng viên trong bảo đảm chất lượng đào tạo luật

Bài viết đề xuất hoàn thiện dự thảo Thông tư ban hành Chuẩn cơ sở giáo dục đại học theo hướng chuyển trọng tâm từ đánh giá kinh nghiệm hành nghề của từng giảng viên sang đánh giá năng lực của cơ sở giáo dục đại học trong việc tổ chức hoạt động đào tạo gắn với thực tiễn.
Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.

Theo dõi chúng tôi trên: