Thứ tư 29/04/2026 22:59
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.

Abstract: Criminal judgment execution is the final stage of the criminal justice process, crucial in ensuring the effectiveness of court judgments and decisions, and protecting human rights. The 2025 Law on Criminal Judgment Execution includes numerous amendments aimed at clarifying the role of the courts, but it also reveals some issues that may lead to practical implementation problems. Based on an analysis and evaluation of current regulations, this study identifies inadequacies in jurisdiction, procedures, and coordination mechanisms in criminal judgment execution, thereby proposing and recommending improvements to the law to enhance the effectiveness of judgment execution and meet the requirements of judicial reform.

Đặt vấn đề

Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối của quá trình tư pháp hình sự, giữ vai trò quyết định trong việc bảo đảm các bản án, quyết định của Tòa án được thực thi nghiêm minh, qua đó, khẳng định hiệu lực của quyền tư pháp và bảo vệ quyền con người[1]. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 được Quốc hội khóa XV thông qua tại Kỳ họp thứ 10 ngày 10/12/2025, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026 có nhiều sửa đổi, bổ sung nhằm làm rõ hơn vị trí, nhiệm vụ và thẩm quyền của Tòa án. Tuy nhiên, nghiên cứu cho thấy, một số quy định chưa thực sự thống nhất và phù hợp, có thể dẫn đến khó khăn, vướng mắc trong tổ chức thi hành án. Bài viết phân tích, đánh giá các quy định mới của Luật Thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự, chỉ ra một số vấn đề có thể phát sinh trong quá trình triển khai thi hành trên thực tế và đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện, nâng cao hiệu quả thi hành án hình sự, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.

1. Vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự theo Luật Thi hành án hình sự năm 2025

Thi hành án hình sự là quá trình tổ chức thực hiện các bản án, quyết định hình sự đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án, do cơ quan và người có thẩm quyền tiến hành theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định, để bảo đảm người bị kết án phải chấp hành đầy đủ các hình phạt và biện pháp tư pháp được tuyên trong bản án. Đây là hoạt động quan trọng vì, bản án, quyết định của Tòa án về hình sự đã có hiệu lực pháp luật mà không được thi hành thì toàn bộ hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử đều vô nghĩa. Khi bản án, quyết định của Tòa án được thi hành, chính là công lý được thực hiện trong cuộc sống[2]. Hoạt động này thể hiện quyền lực nhà nước trong lĩnh vực tư pháp hình sự, nhằm bảo đảm các phán quyết của Tòa án được thực thi nghiêm minh, qua đó góp phần giáo dục, cải tạo người phạm tội trở thành công dân có ích và phòng ngừa tội phạm trong xã hội[3].

Trong hệ thống tổ chức thi hành án hình sự, Tòa án giữ vai trò trung tâm, thể hiện thông qua các nhiệm vụ, quyền hạn được quy định tại Điều 15 Luật Thi hành án hình sự năm 2025. Cụ thể:

Thứ nhất, Tòa án thực hiện chức năng khởi phát và bảo đảm tính pháp lý của quá trình thi hành án hình sự thông qua việc ra quyết định thi hành án đối với từng người bị kết án và từng loại hình phạt; quyết định thành lập Hội đồng thi hành án tử hình; xem xét việc cho nhận tử thi của người bị thi hành án tử hình; đồng thời, chuyển giao kịp thời bản án, quyết định và hồ sơ liên quan cho các cơ quan có thẩm quyền nhằm bảo đảm sự phối hợp thống nhất trong tổ chức thi hành án.

Thứ hai, Tòa án thực hiện vai trò kiểm soát và điều chỉnh quá trình thi hành án thông qua việc ban hành, thay đổi hoặc hủy bỏ các quyết định liên quan đến chấp hành hình phạt, gồm hoãn, tạm đình chỉ chấp hành án, giảm thời hạn, miễn chấp hành hình phạt, tha tù trước thời hạn có điều kiện, buộc chấp hành hình phạt tù đối với người hưởng án treo vi phạm nghĩa vụ, điều chỉnh thời hạn trục xuất hoặc thời gian thử thách; đồng thời, trưng cầu giám định pháp y tâm thần và quyết định áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh, qua đó, bảo đảm tính công bằng, nhân đạo và tuân thủ pháp luật trong thi hành án hình sự.

Thứ ba, Tòa án thực hiện vai trò phối hợp và quản lý trong thi hành án hình sự thông qua việc quyết định tiếp nhận hoặc chuyển giao phạm nhân trong hợp tác quốc tế. Thực tiễn cho thấy, có nhiều trường hợp người Việt Nam phạm tội ở nước ngoài được chuyển giao về Việt Nam để chấp hành án hoặc người nước ngoài phạm tội tại Việt Nam được chuyển giao về quốc gia họ mang quốc tịch hoặc quốc gia khác có thẩm quyền. Trong các trường hợp này, Tòa án đóng vai trò trung tâm trong việc ra quyết định tiếp nhận hoặc chuyển giao phạm nhân, bảo đảm tính thống nhất với chức năng, nhiệm vụ của cơ quan tư pháp trong giai đoạn thi hành án[4]. Ngoài ra, Tòa án còn thực hiện chế độ thống kê, báo cáo phục vụ công tác quản lý nhà nước và yêu cầu cải cách tư pháp.

Như vậy, có thể khẳng định, hiện pháp luật đã xác lập vai trò xuyên suốt và trung tâm của Tòa án trong toàn bộ quá trình thi hành án hình sự, bảo đảm mọi hoạt động thi hành án đều đặt dưới sự kiểm soát của cơ quan thực hiện quyền tư pháp.

2. Một số vấn đề đặt ra đối với Luật Thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Mặc dù Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều quy định nhằm làm rõ vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự, song nghiên cứu cho thấy, còn tồn tại một số vấn đề có thể phát sinh trong thực tiễn thi hành ảnh hưởng đến việc phát huy đầy đủ vai trò của Tòa án với tư cách là chủ thể thực hiện quyền tư pháp. Cụ thể:

Thứ nhất, phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án được quy định trong Luật Thi hành án hình sự năm 2025 chưa bao quát hết tất cả công việc Tòa án phải thực hiện theo các luật liên quan, dẫn đến thiếu thống nhất trong hệ thống pháp luật.

Từ khoản 1 đến khoản 8 Điều 15 Luật Thi hành án hình sự năm 2025 liệt kê tám nhóm nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án trong thi hành án hình sự và quy định thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của Luật này (khoản 9), mà không đề cập đến các nhiệm vụ theo quy định của pháp luật hình sự, pháp luật tố tụng hình sự. Điều này gây mâu thuẫn và thiếu đồng bộ giữa Luật Thi hành án hình sự năm 2025 với các đạo luật có liên quan. Chẳng hạn, từ Điều 70 đến Điều 73 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung các năm 2017, 2025 (Bộ luật Hình sự năm 2015) quy định về xóa án tích, trong đó, xác định Tòa án có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận xóa án tích hoặc xóa án tích trong một số trường hợp. Tuy nhiên, Luật Thi hành án hình sự năm 2025 không quy định nhiệm vụ của Tòa án về xóa án tích tại Điều 15, cũng không dẫn chiếu áp dụng Bộ luật Hình sự. Về nguyên tắc, khi người được xóa án tích đương nhiên theo luật, Tòa án phải ra quyết định hoặc xác nhận việc này; nhưng do Luật Thi hành án hình sự năm 2025 không quy định rõ nên có thể dẫn đến cách hiểu Tòa án không có trách nhiệm về vấn đề xóa án tích, điều này mâu thuẫn với Bộ luật Hình sự năm 2015 và gây lúng túng trong thực tiễn áp dụng. Tương tự, một số quy định khác mà Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung các năm 2021, 2025 (Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015) giao cho Tòa án trong giai đoạn sau xét xử cũng chưa được quy định trong Luật Thi hành án hình sự năm 2025, như quyết định xử lý vật chứng sau xét xử, giải quyết bồi thường trong thi hành án…, làm cho khung pháp lý về nhiệm vụ của Tòa án chưa thực sự đầy đủ, đồng bộ.

Thứ hai, một số quy định về thẩm quyền quyết định của Tòa án trong thi hành án hình sự còn hạn chế, chưa phù hợp thực tiễn, đặc biệt, trong xét giảm án phạt tù cho phạm nhân.

Điều 36 Luật Thi hành án hình sự năm 2025 quy định việc giảm thời hạn chấp hành án phạt tù được thực hiện định kỳ (mỗi năm 03 đợt) và dựa trên đề nghị của trại giam, trại tạm giam thuộc Bộ Công an, Bộ Quốc phòng hoặc cơ quan thi hành án hình sự công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu. Hội đồng xét giảm thời hạn chấp hành án (do Tòa án chủ trì) chỉ được quyết định mức giảm không vượt quá mức mà cơ sở giam giữ đề xuất và trong giới hạn luật cho phép. Quy định này nhằm bảo đảm tính chặt chẽ, song, bộc lộ bất cập là Tòa án hầu như chỉ xem xét phê chuẩn đề nghị, không có quyền tăng mức giảm án ngay cả khi thấy đề xuất của trại giam chưa tương xứng với mức cải tạo của phạm nhân. Thực tiễn cho thấy, có trường hợp hai phạm nhân cải tạo tốt như nhau nhưng trại giam đề nghị mức giảm khác nhau, dẫn đến cảm nhận thiếu công bằng giữa các phạm nhân và hạn chế quyền chủ động của Tòa án trong việc đảm bảo chính sách khoan hồng được áp dụng thống nhất[5]. Mặc dù, Nghị quyết số 03/2024/NQ-HĐTP ngày 10/6/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Hình sự về thời hiệu thi hành bản án, miễn chấp hành hình phạt, giảm mức hình phạt đã tuyên, giảm thời hạn chấp hành hình phạt trong trường hợp đặc biệt, hoãn chấp hành hình phạt tù, tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù đã hướng dẫn chi tiết hơn về thủ tục và điều kiện giảm án, nhưng về lâu dài, cần quy định rõ thẩm quyền của Tòa án trong việc quyết định mức giảm án phù hợp thực tế, thay vì bị giới hạn cứng bởi đề xuất của cơ quan giam giữ. Ngoài ra, luật chưa có cơ chế để Tòa án chủ động xem xét giảm án trong trường hợp đặc biệt nếu cơ quan thi hành án không đề nghị[6]. Phạm nhân hoặc cơ quan khác (như Viện kiểm sát nhân dân) không có quyền yêu cầu trực tiếp Tòa án xét giảm án, dẫn đến phụ thuộc hoàn toàn vào đề xuất của trại giam. Đây là khoảng trống pháp lý cần nghiên cứu bổ sung để bảo đảm mọi phạm nhân đủ điều kiện đều có cơ hội bình đẳng được xét giảm án.

Thứ ba, một số quy định về thủ tục thi hành án hình sự chưa rõ ràng, gây khó khăn trong việc thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án, như:

- Thiếu thống nhất giữa các quy định về thủ tục thi hành án trong những tình huống đặc biệt. Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định khi bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị thì Tòa án sơ thẩm ra quyết định thi hành án; nhưng nếu bản án sơ thẩm bị Tòa phúc thẩm hủy để điều tra lại, pháp luật hiện hành chưa quy định về việc xử lý quyết định thi hành án đã ban hành đối với bị cáo không kháng cáo[7]. Điều này có nghĩa, nếu một bị cáo không kháng cáo đã bắt đầu chấp hành án, nhưng do đồng phạm khác kháng cáo mà bản án bị hủy chung, thì không có điều luật nào hướng dẫn Tòa án hoặc cơ quan thi hành án xử lý tình huống này (hủy quyết định thi hành án, tạm dừng thi hành án hay tiếp tục thi hành đối với phần không kháng cáo). Do pháp luật chưa quy định về vấn đề này nên có thể gây lúng túng trong thực tiễn và tiềm ẩn nguy cơ xâm phạm quyền lợi của người chấp hành án.

- Quy định về trách nhiệm của chính quyền địa phương trong công tác thi hành án hình sự còn thiếu cụ thể và chưa chặt chẽ. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 chưa có điều khoản riêng xác định rõ nhiệm vụ và thẩm quyền của Ủy ban nhân dân (UBND) cấp xã trong quản lý, giám sát người được hoãn hoặc tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù khi họ cư trú tại địa phương. Khi Tòa án quyết định một phạm nhân hoãn hoặc tạm đình chỉ chấp hành án vì lý do nhất định (như bệnh nặng, thai sản), người đó trở về địa phương nhưng pháp luật chưa quy định rõ cơ quan theo dõi, quản lý. Điều này gây khó khăn trong giám sát, phòng ngừa người được hoãn chấp hành án vi phạm pháp luật trong thời gian hoãn.

Thứ tư, bất cập về vai trò của Tòa án trong thi hành án treo.

UBND cấp xã là cơ quan trực tiếp thực hiện nhiệm vụ giám sát, giáo dục người được hưởng án treo, giữ vai trò then chốt trong bảo đảm hiệu quả thi hành án hình sự tại cộng đồng. Thông qua tiếp nhận hồ sơ, tổ chức quản lý, theo dõi quá trình chấp hành nghĩa vụ và rèn luyện của người được hưởng án treo, UBND cấp xã góp phần giúp họ nhận thức rõ trách nhiệm của mình, từng bước sửa chữa sai lầm và tái hòa nhập xã hội[8] . Để thực hiện tốt vai trò này, UBND cấp xã cần phối hợp chặt chẽ và được hướng dẫn nghiệp vụ đầy đủ từ các cơ quan tư pháp, đặc biệt là Tòa án. Tuy nhiên, Luật Thi hành án hình sự năm 2025 chưa quy định cụ thể về thẩm quyền của Tòa án trong cấp sổ theo dõi người được hưởng án treo cho người chấp hành án, cũng như bàn giao và lưu giữ sổ tại UBND cấp xã nơi người đó cư trú. Từ đó, dẫn đến tình trạng áp dụng không thống nhất trong thực tiễn, theo đó, nhiều Tòa án không thực hiện hoặc chậm thực hiện việc cấp và gửi sổ theo dõi, gây khó khăn cho UBND cấp xã trong ghi nhận việc trình diện, theo dõi và đánh giá quá trình rèn luyện hằng tháng của người được hưởng án treo. Đồng thời, trên phương diện bảo đảm quyền và nghĩa vụ của người chấp hành án, sổ theo dõi còn là căn cứ quan trọng để người được hưởng án treo xuất trình với cơ quan công an cấp xã hoặc cảnh sát khu vực nơi tạm trú nhằm xác nhận tình hình cư trú, lao động và chấp hành pháp luật.

Bên cạnh đó, Luật Thi hành án hình sự năm 2025 chưa quy định rõ trách nhiệm của Tòa án trong kiểm tra, giám sát và hướng dẫn nghiệp vụ đối với các cơ quan, tổ chức được giao nhiệm vụ quản lý, giám sát người được hưởng án treo. Việc thiếu cơ chế pháp lý làm hạn chế vai trò trung tâm của Tòa án trong thi hành án hình sự, đồng thời, dẫn đến nguy cơ buông lỏng công tác quản lý, giáo dục người được hưởng án treo, qua đó, ảnh hưởng đến hiệu quả và tính nghiêm minh của hoạt động thi hành án trên thực tế[9].

3. Kiến nghị hoàn thiện Luật Thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Trên cơ sở phân tích những vấn đề có thể phát sinh trong thực tiễn thi hành Luật Thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo đảm tính thống nhất, khả thi và nâng cao hiệu quả thi hành án hình sự.

Một là, bổ sung, hoàn thiện các quy định của Luật Thi hành án hình sự năm 2025 về nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án trong thi hành án hình sự.

Luật Thi hành án hình sự năm 2025 cần bảo đảm phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án trong thi hành án hình sự được quy định đầy đủ, đồng bộ trong mối tương quan với các đạo luật khác. Trước hết, cần bổ sung vào khoản 9 Điều 15 Luật Thi hành án hình sự năm 2025 quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án theo hướng: “Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của Luật này và các văn bản pháp luật có liên quan”. Bổ sung này giúp đồng bộ với Bộ luật Hình sự năm 2015 và Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, bảo đảm Tòa án không bỏ sót nhiệm vụ do văn bản khác giao. Theo đó, những nhiệm vụ như cấp giấy chứng nhận xóa án tích, quyết định xử lý vật chứng sau xét xử, giải quyết bồi thường trong thi hành án (nếu có)… sẽ được hiểu là thuộc thẩm quyền Tòa án, dù không được liệt kê cụ thể trong Luật Thi hành án hình sự năm 2025. Ngoài ra, nên bổ sung vào Điều 15 Luật Thi hành án hình sự năm 2025 một số nhiệm vụ quan trọng đã được luật khác quy định, để người áp dụng dễ nhận biết. Ví dụ, bổ sung quy định về “ra quyết định xóa án tích trong trường hợp được xóa án tích theo luật định”, viện dẫn Điều 71, Điều 72 Bộ luật Hình sự năm 2015[10]. Việc liệt kê đầy đủ không làm trùng lặp pháp luật mà bảo đảm tính minh bạch, rõ ràng nhiệm vụ của Tòa án, tránh hiểu Tòa án chỉ làm những gì ghi trong luật này. Điều khoản này sẽ đóng vai trò “cầu nối”, đảm bảo người áp dụng luật nhận thức đầy đủ thẩm quyền của Tòa án mà không bỏ sót quy định khác ngoài Luật Thi hành án hình sự năm 2025.

Hai là, tăng cường thẩm quyền chủ động của Tòa án trong việc quyết định các biện pháp về thi hành án, bảo đảm tính công bằng, nhân đạo.

Luật Thi hành án hình sự năm 2025 điều chỉnh toàn diện hoạt động thi hành án phạt tù và công tác giam giữ phạm nhân. Nội dung của Luật không chỉ nhằm bảo đảm hiệu quả thi hành án hình sự mà còn thể hiện rõ cam kết của Việt Nam trong bảo vệ quyền con người, đặc biệt, các quyền cơ bản của người bị giam giữ, phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế, điển hình là Bộ quy tắc Nelson Mandela[11]. Với tinh thần bảo vệ quyền của phạm nhân, Luật Thi hành án hình sự năm 2025 cần được sửa đổi theo hướng mở rộng hơn quyền quyết định của Tòa án trong một số trường hợp. Cụ thể, về xét giảm thời hạn chấp hành án phạt tù, kiến nghị bổ sung quy định cho phép Hội đồng xét giảm án của Tòa án có thể quyết định mức giảm cao hơn đề nghị của cơ quan thi hành án hình sự, nếu xét thấy đề nghị ban đầu chưa tương xứng với mức độ cải tạo và đủ điều kiện luật định của phạm nhân. Để tránh lạm dụng, Luật có thể giới hạn mức chênh lệch tối đa, như không quá một mức đề nghị hoặc không vượt quá một khoảng thời gian nhất định so với đề nghị. Quy định này sẽ trao thêm quyền linh hoạt cho Tòa án, kịp thời điều chỉnh những đề xuất giảm án chưa hợp lý, qua đó, bảo đảm công bằng giữa các phạm nhân. Bên cạnh đó, cần nghiên cứu thiết lập cơ chế đề nghị giảm án ngoài kỳ hạn trong trường hợp đặc biệt. Ví dụ, cho phép phạm nhân (thông qua giám thị trại giam) kiến nghị Tòa án xét giảm án nếu người đó lập thành tích đặc biệt xuất sắc hoặc có lý do nhân đạo để bảo đảm tính khách quan, minh bạch và bình đẳng trong bảo đảm các quyền này cho phạm nhân khi họ đang chấp hành hình phạt tại các trại giam[12]. Điều này giúp khắc phục tình trạng phụ thuộc tuyệt đối vào đề nghị của trại giam, đồng thời, phù hợp với chính sách khuyến khích phạm nhân cải tạo tốt.

Ba là, hoàn thiện quy định của Luật Thi hành án hình sự năm 2025 về thủ tục thi hành án nhằm tạo điều kiện thuận lợi để Tòa án thực hiện đầy đủ nhiệm vụ, quyền hạn theo luật định.

Bổ sung các quy định xử lý những tình huống đặc thù phát sinh trong quá trình thi hành án hình sự mà Luật Thi hành án hình sự năm 2025 chưa đề cập hoặc quy định chưa đầy đủ. Điển hình là bổ sung điều khoản về hủy bỏ hoặc tạm đình chỉ quyết định thi hành án trong trường hợp bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật nhưng sau đó bị hủy để điều tra hoặc xét xử lại theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm. Quy định này nhằm trao cho Tòa án căn cứ pháp lý rõ ràng để kịp thời ban hành quyết định dừng thi hành án đối với những phần bản án bị hủy, khắc phục tình trạng lúng túng, thiếu thống nhất trong áp dụng pháp luật và tránh phát sinh hệ quả pháp lý bất lợi do việc thi hành án tiếp tục hay chấm dứt không được xác định rõ ràng.

Bên cạnh đó, Luật Thi hành án hình sự năm 2025 cần quy định cụ thể hơn về trách nhiệm của chính quyền địa phương và các cơ quan có liên quan trong quản lý người chấp hành án tại cộng đồng. Theo đó, kiến nghị bổ sung điều luật quy định rõ nhiệm vụ, quyền hạn của UBND cấp xã (hoặc đơn vị quân đội được giao quản lý) đối với người được hoãn hoặc tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù. Cụ thể, UBND cấp xã nơi người được hoãn hoặc tạm đình chỉ chấp hành án cư trú có trách nhiệm phối hợp với cơ quan công an và gia đình trong quản lý, giám sát, giáo dục người đó chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, thực hiện các nghĩa vụ theo quyết định của Tòa án, đồng thời, định kỳ báo cáo tình hình chấp hành cho Tòa án đã ra quyết định. Việc bổ sung quy định này sẽ góp phần khắc phục khoảng trống pháp lý hiện nay, tăng cường trách nhiệm của chính quyền cơ sở, bảo đảm sự thống nhất trong quản lý người chấp hành án và hạn chế tình trạng buông lỏng quản lý đối với người được hoãn hoặc tạm đình chỉ thi hành án hình sự.

Bốn là, hoàn thiện các quy định của Luật Thi hành án hình sự năm 2025 về thi hành án treo.

Đối với việc thi hành án treo, Luật Thi hành án hình sự năm 2025 cần bổ sung quy định về trách nhiệm của Tòa án trong cấp Sổ theo dõi người được hưởng án treo cho người chấp hành án, đồng thời, gửi và lưu giữ một bản tại UBND cấp xã nơi người đó cư trú để phục vụ công tác quản lý, giám sát và giáo dục. Trên thực tế, việc thiếu quy định bắt buộc và thống nhất về vấn đề này trong luật hiện hành dẫn đến tình trạng một số Tòa án không thực hiện hoặc thực hiện không kịp thời việc cấp và chuyển giao sổ theo dõi, gây khó khăn cho chính quyền cơ sở trong quá trình phối hợp quản lý, giám sát và hỗ trợ người được hưởng án treo trong thời gian thử thách.

Bên cạnh đó, việc thiếu cơ sở pháp lý rõ ràng cũng làm hạn chế vai trò của cộng đồng dân cư, gia đình và các tổ chức xã hội trong tham gia giáo dục, giúp đỡ người chấp hành án treo sửa chữa lỗi lầm và tái hòa nhập cộng đồng[13] . Hạn chế này càng bộc lộ rõ đối với người chưa thành niên phạm tội, bởi đây là nhóm đối tượng đặc thù, cần sự theo dõi chặt chẽ, liên tục và có sự phối hợp đồng bộ giữa các cơ quan tư pháp, chính quyền địa phương và gia đình. Do đó, bổ sung quy định trên không chỉ góp phần nâng cao hiệu quả thi hành án treo mà còn bảo đảm tốt hơn mục tiêu nhân đạo, phòng ngừa tái phạm và tái hòa nhập xã hội của pháp luật hình sự Việt Nam.

Kết luận

Qua phân tích các quy định của Luật Thi hành án hình sự năm 2025, nghiên cứu đã làm rõ vai trò trung tâm của Tòa án trong thi hành án hình sự với tư cách là chủ thể quyết định, kiểm soát và bảo đảm tính hợp pháp, công bằng và nhân đạo của việc thi hành các bản án hình sự. Đồng thời, nghiên cứu cũng chỉ ra một số bất cập chủ yếu của pháp luật hiện hành liên quan đến phạm vi thẩm quyền, cơ chế ra quyết định và thủ tục thi hành án, làm hạn chế hiệu quả thực hiện vai trò của Tòa án trên thực tế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện Luật nhằm tăng cường thẩm quyền, trách nhiệm và tính chủ động của Tòa án, góp phần nâng cao hiệu quả thi hành án hình sự và đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay.

NCS. ThS. Trịnh Thị Hạnh

Giảng viên Học viện Tòa án, Nghiên cứu sinh Trường Đại học Luật, Đại học quốc gia Hà Nội

Ảnh: Internet

[1]. Nguyễn Thị Yến Hoa (2023), Một số bất cập về công tác thi hành án hình sự và đề xuất, kiến nghị, https://lsvn.vn/mot-so-bat-cap-ve-cong-tac-thi-hanh-an-hinh-su-va-de-xuat-kien-nghi-1683131951-a130004.html, truy cập ngày 31/01/2026.

[2]. Đinh Hoàng Quang (2021), Bàn về đối tượng kiểm sát thi hành án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân, Tạp chí Khoa học kiểm sát, số 1, tr.37-39.

[3]. Nguyễn Thị Yến Hoa (2023), tlđd.

[4]. Nguyễn Thị Mai (2021), Cơ quan thi hành án hình sự và cơ quan quản lý thi hành án hình sự theo quy định của Luật Thi hành án hình sự năm 2019, Tạp chí Luật học, số 2, tr.54.

[5]. Thái Vũ (2019), Thẩm quyền của Tòa án trong thi hành án hình sự, https://tapchitoaan.vn/tham-quyen-cua-toa-an-trong-thi-hanh-an-hinh-su, truy cập ngày 31/01/2026.

[6]. Lê Thị Diễm Hằng (2021), Quy định về tha tù trước thời hạn có điều kiện trong Luật Thi hành án hình sự năm 2019 và một số kiến nghị, Tạp chí Luật học, số 3, tr.31.

[7]. Nguyễn Thị Yến Hoa (2023), tlđd.

[8]. Hoàng Nguyên Thắng (2021), Thẩm quyền giám sát, giáo dục đối với người chấp hành án treo, cải tạo không giam giữ theo quy định của pháp luật hiện hành, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 22, tr.43.

[9]. Nguyễn Ngọc Kiện, Trương Thị Thu Hằng, Hồ Minh Tùng (2023), Một số bất cập của Luật Thi hành án hình sự năm 2019 về án treo và giải pháp hoàn thiện, Tạp chí Kiểm sát, số 6, tr.22.

[10]. Phạm Minh Quân (2024), Bất cập của chế định xóa án tích trong Bộ luật Hình sự và một số kiến nghị, Tạp chí Việt Nam hội nhập, số 339, tr.46.

[11]. Hoàng Thị Hoa (2025), Bảo đảm quyền con người của phạm nhân theo Bộ quy tắc Nelson Mandela, Tạp chí Kiểm sát, số 18, tr.55.

[12]. Đỗ Thị Phượng (2020), Những quy định mới về quyền của phạm nhân trong Luật Thi hành án hình sự năm 2019 và một số kiến nghị, Tạp chí Luật học, số 11, tr.90.

[13]. Trần Tuấn Minh (2022), Cải tạo người phạm tội bị áp dụng hình phạt tù - Kinh nghiệm từ Na Uy và gợi mở cho Việt Nam, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 10, tr.48.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Đinh Hoàng Quang (2021), Bàn về đối tượng kiểm sát thi hành án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân, Tạp chí Khoa học kiểm sát, số 1.

2. Đỗ Thị Phượng (2020), Những quy định mới về quyền của phạm nhân trong Luật Thi hành án hình sự năm 2019 và một số kiến nghị, Tạp chí Luật học, số 11.

3. Hoàng Nguyên Thắng (2021), Thẩm quyền giám sát, giáo dục đối với người chấp hành án treo, cải tạo không giam giữ theo quy định của pháp luật hiện hành, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 22.

4. Hoàng Thái Duy (2021), Quy định mới về thi hành án phạt cải tạo không giam giữ trong Luật Thi hành án hình sự năm 2019 và một số kiến nghị, Tạp chí Nghề luật, số 1.

5. Hoàng Thị Hoa (2025), Bảo đảm quyền con người của phạm nhân theo Bộ quy tắc Nelson Mandela, Tạp chí Kiểm sát, số 18.

6. Lê Thị Diễm Hằng (2021), Quy định về tha tù trước thời hạn có điều kiện trong Luật Thi hành án hình sự năm 2019 và một số kiến nghị, Tạp chí Luật học, số 3.

7. Nguyễn Ngọc Kiện, Trương Thị Thu Hằng, Hồ Minh Tùng (2023), Một số bất cập của Luật Thi hành án hình sự năm 2019 về án treo và giải pháp hoàn thiện, Tạp chí Kiểm sát, số 6.

8. Nguyễn Thị Mai (2021), Cơ quan thi hành án hình sự và cơ quan quản lý thi hành án hình sự theo quy định của Luật Thi hành án hình sự năm 2019, Tạp chí Luật học, số 2.

9. Nguyễn Thị Yến Hoa (2023), Một số bất cập về công tác thi hành án hình sự và đề xuất, kiến nghị, https://lsvn.vn/mot-so-bat-cap-ve-cong-tac-thi-hanh-an-hinh-su-va-de-xuat-kien-nghi-1683131951-a130004.html, truy cập ngày 31/01/2026.

10. Phạm Minh Quân (2024), Bất cập của chế định xóa án tích trong Bộ luật Hình sự và một số kiến nghị, Tạp chí Việt Nam hội nhập, số 339.

11. Thái Vũ (2019), Thẩm quyền của Tòa án trong thi hành án hình sự, https://tapchitoaan.vn/tham-quyen-cua-toa-an-trong-thi-hanh-an-hinh-su, truy cập ngày 31/01/2026.

12. Trần Tuấn Minh (2022), Cải tạo người phạm tội bị áp dụng hình phạt tù - Kinh nghiệm từ Na Uy và gợi mở cho Việt Nam, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 10.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số Kỳ 2 (447) tháng 2/2026)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quản trị linh hoạt: Đột phá thể chế nhằm giảm chi phí tuân thủ pháp luật cho khu vực tư nhân tại Việt Nam

Quản trị linh hoạt: Đột phá thể chế nhằm giảm chi phí tuân thủ pháp luật cho khu vực tư nhân tại Việt Nam

Trong tiến trình hướng tới mục tiêu phát triển quốc gia năm 2045, cấu trúc chi phí tuân thủ pháp luật không cân đối đang là rào cản hệ thống đối với khu vực tư nhân. Bài viết vận dụng khung lý thuyết về Quản trị linh hoạt (Agile Governance) và kinh tế học thể chế để nhận diện các bất cập của mô hình quản trị truyền thống. Phân tích cho thấy cơ chế điều tiết tiền kiểm, sự phân mảnh dữ liệu và khuynh hướng phòng vệ trong thực thi công vụ là các tác nhân chính làm gia tăng chi phí giao dịch và chi phí cơ hội cho doanh nghiệp. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất bốn giải pháp mang tính cấu trúc: (i) Thể chế hóa “ủy quyền có kiểm soát”; (ii) Chuyển đổi chiến lược quản trị sang “hậu kiểm”; (iii) Thể chế hóa “quyền được thử nghiệm” (Sandbox); (iv) Quản trị bằng dữ liệu thời gian thực. Việc chuyển đổi sang quản trị thích ứng là điều kiện tiên quyết để tối ưu hóa môi trường kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc theo dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) và kiến nghị hoàn thiện

Quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc theo dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nội dung quan trọng nhất của Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (Luật năm 2016), cũng như dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) (dự thảo Luật). Bài viết phân tích, so sánh các quy định về quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc trong dự thảo Luật với Luật năm 2016, tính tương thích với điều ước quốc tế có liên quan và so sánh pháp luật của một số quốc gia có mô hình quản lý khác nhau. Từ đó, chỉ ra những điểm mới căn bản của dự thảo Luật so với Luật năm 2016 và một số vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu về quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc, như: ranh giới giữa “đăng ký” và “xin phép”, tiền kiểm và hậu kiểm, quyền quản lý tài sản, tài chính… Trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng bảo đảm cân bằng giữa yêu cầu quản lý và quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, đặc biệt, trong bối cảnh thực hiện chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số, hội nhập quốc tế…
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Để đáp ứng yêu cầu của cuộc Cách mạng công nghip ln thtư và thực tiễn hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng, dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) có những sửa đổi, bổ sung nhằm tạo hành lang pháp lý vững chắc cho hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo. Những quy định này là cơ sở để ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong hoạt động quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo mang lại những hiệu quả tích cực. Tuy nhiên, s nhạy cảm đặc biệt trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo và thuộc tính công nghệ của AI đặt ra những vấn đề pháp lý cần quan tâm. Nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm bảo đảm AI được ứng dụng hiệu quả, vừa tôn trọng, bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực này.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo và định hướng hoàn thiện

Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo và định hướng hoàn thiện

Việt Nam đang đẩy mạnh xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền, thể chế, pháp luật nhằm huy động mọi nguồn lực vào phát triển đất nước, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, trong đó có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.
Nội dung cơ bản và những điểm mới của dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Nội dung cơ bản và những điểm mới của dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Sau 08 năm thi hành, Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 bộc lộ những hạn chế, bất cập cần nghiên cứu, sửa đổi, hoàn thiện. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) (dự thảo Luật) được xây dựng theo các quan điểm đổi mới của Đảng, dự kiến được thông qua tại Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, bài viết phân tích các quy định pháp luật kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, như: thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.

Theo dõi chúng tôi trên: