Thứ tư 09/09/2026 11:28
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.

Từ khóa: quyền tiếp cận thông tin; hoàn thiện pháp luật; quan điểm của Đảng; chính sách pháp luật; Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; minh bạch; trách nhiệm giải trình; chuyển đổi số; công khai thông tin; quyền công dân.

Đặt vấn đề

Điều 25 Hiến pháp năm 2013[1] lần đầu tiên ghi nhận một cách trực tiếp quyền tiếp cận thông tin của công dân, thể hiện bước tiến quan trọng trong tư duy lập hiến, lập pháp về dân chủ, quyền con người và quyền công dân ở Việt Nam. Trên cơ sở đó, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 được ban hành, tạo khuôn khổ pháp lý ban đầu cho việc hiện thực hóa quyền hiến định này trong thực tiễn. Tuy nhiên, trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với những yêu cầu ngày càng cao về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy tinh gọn và hội nhập quốc tế sâu, rộng, pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin đã bộc lộ những hạn chế, bất cập nhất định.

Trong thời gian qua, Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã ban hành nhiều chủ trương, định hướng quan trọng nhằm tiếp tục hoàn thiện thể chế, pháp luật về bảo đảm quyền con người, quyền công dân, tăng cường công khai, minh bạch trong hoạt động của bộ máy nhà nước, trong đó có quyền tiếp cận thông tin. Các văn kiện của Đảng, đặc biệt là Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV và Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới (Nghị quyết số 27-NQ/TW) đặt ra yêu cầu tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật, bảo đảm công khai, minh bạch, tăng cường trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước, tạo điều kiện thuận lợi để người dân thực hiện các quyền hiến định, trong đó có quyền tiếp cận thông tin.

Trong bối cảnh đó, việc nghiên cứu, làm rõ quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước về định hướng hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin, đồng thời, phân tích sự cần thiết phải tiếp tục hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin nhằm bảo đảm thực hiện hiệu quả quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới là yêu cầu có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn. Trên cơ sở đó, nghiên cứu tập trung làm rõ các định hướng lớn của Đảng và Nhà nước về bảo đảm quyền tiếp cận thông tin, đồng thời, phân tích những yêu cầu đặt ra đối với việc hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trong bối cảnh mới.

1. Quan điểm, chủ trương của Đảng về hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin

1.1. Quyền tiếp cận thông tin trong quan điểm của Đảng về dân chủ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của Nhân dân

Xuyên suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn nhất quán quan điểm lấy Nhân dân làm trung tâm, coi Nhân dân là chủ thể của quyền lực nhà nước[2]. Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng tiếp tục chủ trương “phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của Nhân dân; tăng cường kiểm soát quyền lực, kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu, tiêu cực, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”; “Phát huy mạnh mẽ vai trò chủ thể của Nhân dân, dân chủ xã hội chủ nghĩa, sức mạnh của Nhân dân và khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Quán triệt sâu sắc quan điểm “Dân là gốc”, Nhân dân là chủ thể, là trung tâm của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước phải thực sự xuất phát từ nhu cầu, nguyện vọng, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân; lấy việc tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, hạnh phúc và sự hài lòng của Nhân dân làm thước đo và mục tiêu phấn đấu”. Đồng thời, Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV định hướng phát triển đất nước tầm nhìn đến năm 2045 “trở thành nước phát triển, thu nhập cao vì một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội”.

Trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, quyền lực nhà nước là thống nhất nhưng có sự phân công, phối hợp và kiểm soát chặt chẽ. Kiểm soát quyền lực không thể chỉ dựa vào cơ chế giám sát, kiểm soát nội bộ giữa các cơ quan nhà nước, mà cần có sự tham gia rộng rãi của Nhân dân và xã hội. Công khai, minh bạch thông tin và quyền tiếp cận thông tin của công dân được Đảng xác định là một trong những công cụ quan trọng để tăng cường kiểm soát quyền lực, phòng ngừa lạm quyền, tham nhũng, tiêu cực.

1.2. Quan điểm của Đảng về công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực

Nghị quyết số 27-NQ/TW xác định nhiệm vụ: “Tiếp tục thể chế hóa, cụ thể hóa kịp thời, đầy đủ quan điểm, chủ trương của Đảng và quy định của Hiến pháp về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân; nội luật hóa các điều ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam đã tham gia; xác định rõ trách nhiệm của cơ quan nhà nước trong việc tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân. Thực hiện tốt nguyên tắc công dân được làm tất cả những gì pháp luật không cấm; quyền công dân không tách rời nghĩa vụ công dân, việc thực hiện quyền con người, quyền công dân không được xâm phạm lợi ích quốc gia - dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân”. Đây là chỉ đạo có ý nghĩa định hướng trực tiếp đối với việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin.

Công khai, minh bạch không chỉ là yêu cầu về phương thức hoạt động của bộ máy nhà nước, mà còn là quyền của Nhân dân, được pháp luật ghi nhận và bảo đảm thực hiện. Trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước chỉ có thể được thực hiện đầy đủ khi người dân có khả năng tiếp cận thông tin liên quan đến hoạt động quản lý nhà nước, việc ban hành và tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật. Do đó, pháp luật về tiếp cận thông tin cần được hoàn thiện theo hướng làm rõ hơn trách nhiệm công khai thông tin, mở rộng phạm vi công khai chủ động, đồng thời, gắn chặt quyền tiếp cận thông tin với trách nhiệm cung cấp thông tin theo yêu cầu và trách nhiệm giải trình của các cơ quan công quyền[3].

Ngày 26/10/2025, Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị số 53-CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với việc thực hiện trách nhiệm giải trình của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động công vụ (Chỉ thị số 53-CT/TW), trong đó, yêu cầu: “Hoàn thiện pháp luật về tư pháp, khiếu nại, tố cáo, tiếp công dân, đất đai, quy hoạch, môi trường, đầu tư, xây dựng, quản lý, sử dụng tài sản công, tài chính công, bảo đảm quyền tiếp cận thông tin…; trách nhiệm giải trình của các cơ quan tổ chức, cá nhân có liên quan trong hoạt động công vụ”. Việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân góp phần quan trọng vào công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực và tăng cường trách nhiệm giải trình của các cơ quan nhà nước.

Có thể thấy, quyền tiếp cận thông tin của công dân được Đảng đặt trong mối quan hệ chặt chẽ, không tách rời với trách nhiệm giải trình của bộ máy nhà nước, coi đây là nhiệm vụ quan trọng để nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị quốc gia, phòng ngừa và kiểm soát tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Theo đó, Chỉ thị số 53-CT/TW tiếp tục nhấn mạnh, tiếp cận thông tin không chỉ là quyền hiến định của công dân, mà còn là công cụ thiết yếu để Nhân dân giám sát hoạt động công vụ, buộc các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền phải minh bạch trong quyết định, hành động và chịu trách nhiệm trước Nhân dân.

Từ góc độ hoàn thiện pháp luật, Chỉ thị số 53-CT/TW đặt ra yêu cầu phải rà soát, sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật về tiếp cận thông tin theo hướng gắn chặt hơn với chế định trách nhiệm giải trình, làm rõ nghĩa vụ công khai và cung cấp thông tin của cơ quan nhà nước, trách nhiệm cá nhân của người đứng đầu, cũng như các cơ chế bảo đảm thực thi và xử lý vi phạm. Đây là định hướng chính trị quan trọng, tạo cơ sở để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin không chỉ nhằm “mở rộng quyền” cho công dân, mà còn nhằm nâng cao kỷ luật, kỷ cương hành chính, xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch, liêm chính, phục vụ Nhân dân.

Đồng thời, việc nhấn mạnh vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực theo tinh thần Chỉ thị số 53-CT/TW cho thấy sự cần thiết phải tiếp cận hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin theo hướng liên thông, đồng bộ với pháp luật về phòng, chống tham nhũng, khiếu nại, tố cáo và kiểm soát quyền lực, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới.

1.3. Quan điểm của Đảng về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin

Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia (Nghị quyết số 57-NQ/TW) yêu cầu: “Hoàn thành xây dựng, kết nối, chia sẻ đồng bộ cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu các ngành; khai thác và sử dụng có hiệu quả tài nguyên số, dữ liệu số, hình thành sàn giao dịch dữ liệu. Phát triển Chính phủ số, kinh tế số, xã hội số, công dân số, công nghiệp văn hóa số đạt mức cao của thế giới. Việt Nam thuộc nhóm các nước dẫn đầu về an toàn, an ninh không gian mạng, an ninh dữ liệu và bảo vệ dữ liệu”. Bên cạnh đó, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ban Chấp hành Trung ương Đảng cũng có nhiều văn bản chỉ đạo về đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong hoạt động của các cơ quan, tổ chức, đơn vị, trong đó, dữ liệu và thông tin giữ vai trò then chốt.

Trong bối cảnh chuyển đổi số, quyền tiếp cận thông tin của công dân không chỉ dừng ở việc tiếp cận các văn bản, tài liệu hành chính theo phương thức truyền thống, mà còn gắn liền với khả năng tiếp cận thông tin số, dữ liệu số, dữ liệu mở do cơ quan nhà nước nắm giữ. Điều này đặt ra yêu cầu phải hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin theo hướng phù hợp với môi trường số, bảo đảm công khai, minh bạch thông tin trên nền tảng số, tạo điều kiện thuận lợi để người dân tiếp cận, khai thác và sử dụng thông tin.

Việc thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW đòi hỏi pháp luật về tiếp cận thông tin phải được rà soát, sửa đổi, bổ sung để bảo đảm thống nhất, đồng bộ với pháp luật về chuyển đổi số, dữ liệu, an ninh mạng, bảo vệ bí mật nhà nước và bảo vệ dữ liệu cá nhân. Đây là yêu cầu có tính chiến lược, lâu dài, nhằm bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân được thực hiện hiệu quả trong điều kiện phát triển khoa học, công nghệ nhanh chóng.

1.4. Quan điểm của Đảng về sắp xếp tổ chức bộ máy, đơn vị hành chính và yêu cầu bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân

Kết luận số 121-KL/TW ngày 24/01/2025 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tổng kết Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả tiếp tục khẳng định yêu cầu đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, trong đó: “xác định rõ trách nhiệm giữa trung ương và địa phương và giữa các cấp chính quyền địa phương; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, bảo đảm trung ương tăng cường quản lý vĩ mô, xây dựng thể chế, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch đồng bộ, thống nhất, giữ vai trò kiến tạo và tăng cường kiểm tra, giám sát, “địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm”. Trên cơ sở đó, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách định hướng việc sắp xếp tổ chức bộ máy và đơn vị hành chính, trong đó, tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu: đẩy mạnh phân cấp cho chính quyền địa phương cấp xã theo năng lực và yêu cầu quản lý[4]; Ban Chấp hành Trung ương Đảng yêu cầu các cấp ủy, cơ quan, đơn vị, tổ chức, nhất là người đứng đầu tập trung sửa đổi, bổ sung, xây dựng hoàn thiện thể chế, nhất là các quy định về quản lý nhà nước, quản trị quốc gia, quản lý xã hội theo hướng đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền, trách nhiệm, tổ chức bộ máy của từng cấp, từng ngành, từng cơ quan, đơn vị, tổ chức và cá nhân[5]; triển khai thực hiện phân cấp, phân quyền bảo đảm một số nguyên tắc chính: (i) trung ương tập trung quản lý vĩ mô, xây dựng thể chế, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch đồng bộ, thống nhất, giữ vai trò kiến tạo và tăng cường kiểm tra, giám sát; phân cấp, phân quyền đủ mạnh, đủ rõ, hợp lý các nhiệm vụ ở trung ương đang thực hiện về cho địa phương theo đúng tinh thần “địa phương quyết định, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm”; (ii) đẩy mạnh phân cấp, phân quyền và phân định rõ giữa thẩm quyền chung của Ủy ban nhân dân và thẩm quyền riêng của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp xã nhằm phát huy vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức các cấp (không để tình trạng đùn đẩy, né tránh và chậm trễ trong việc triển khai các nhiệm vụ, quyền hạn; gửi xin ý kiến tràn lan); (iii) rà soát, thực hiện phân cấp, phân quyền giữa các ngành, lĩnh vực có liên quan bảo đảm đồng bộ, tổng thể, liên thông, không bỏ sót hoặc chồng lấn, giao thoa nhiệm vụ[6]…

Trên cơ sở các chỉ đạo trên, pháp luật về tiếp cận thông tin cần được hoàn thiện để xác định rõ trách nhiệm cung cấp thông tin trong điều kiện tổ chức bộ máy mới, bảo đảm tính liên tục, ổn định của quyền tiếp cận thông tin, việc sắp xếp tổ chức bộ máy, thay đổi thẩm quyền, mô hình tổ chức không được làm gián đoạn hoặc thu hẹp quyền tiếp cận thông tin của công dân.

1.5. Quan điểm của Đảng về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật và yêu cầu hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin

Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới đặt ra yêu cầu đổi mới tư duy xây dựng pháp luật: “...phát huy dân chủ, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ hiệu quả quyền con người, quyền công dân; bảo đảm sự cân đối, hợp lý giữa mức độ hạn chế quyền với lợi ích chính đáng đạt được... Bên cạnh một số bộ luật, luật quy định về quyền con người, quyền công dân, tố tụng tư pháp cần cụ thể, về cơ bản các luật khác, nhất là luật điều chỉnh các nội dung về kiến tạo phát triển chỉ quy định những vấn đề khung, những vấn đề có tính nguyên tắc thuộc thẩm quyền của Quốc hội, còn những vấn đề thực tiễn thường xuyên biến động thì giao Chính phủ, Bộ, ngành, địa phương quy định để bảo đảm linh hoạt, phù hợp với thực tiễn”.

Đối với pháp luật về tiếp cận thông tin, tinh thần của Nghị quyết số 66-NQ/TW đặt ra yêu cầu phải tiếp tục hoàn thiện theo hướng lấy người dân làm trung tâm, coi quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cần được bảo đảm bằng các cơ chế pháp lý hiệu quả, khả thi. Việc sửa đổi, bổ sung Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 cần gắn với đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, khắc phục tình trạng quy định hình thức, khó thực thi, bảo đảm pháp luật đi vào cuộc sống.

1.6. Quan điểm của Đảng về phát triển kinh tế tư nhân và yêu cầu minh bạch hóa thông tin

Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân (Nghị quyết số 68-NQ/TW) xác định kinh tế tư nhân là động lực quan trọng của nền kinh tế. Để kinh tế tư nhân phát triển lành mạnh, bền vững, một trong những yêu cầu quan trọng là phải xây dựng môi trường đầu tư, kinh doanh công khai, minh bạch, ổn định. Cụ thể, tại Nghị quyết số 68-NQ/TW yêu cầu: “công khai, minh bạch và chủ động cung cấp thông tin tới doanh nghiệp”, “hoàn thiện hệ thống pháp luật, xóa bỏ các rào cản tiếp cận thị trường đảm bảo môi trường kinh doanh thông thoáng, minh bạch, rõ ràng, nhất quán, ổn định lâu dài, dễ tuân thủ, chi phí thấp”.

Vì vậy, quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp và người dân, đặc biệt, thông tin về chính sách, pháp luật, quy hoạch, kế hoạch, thủ tục hành chính có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin không chỉ nhằm bảo đảm quyền công dân, mà còn góp phần trực tiếp cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, thúc đẩy phát triển kinh tế tư nhân theo đúng quan điểm, chủ trương của Đảng.

2. Giải pháp thực hiện quan điểm, chủ trương của Đảng về hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin trong giai đoạn mới

2.1. Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin nhằm thể chế hóa đầy đủ, kịp thời quan điểm của Đảng về quyền làm chủ của Nhân dân

Từ quan điểm nhất quán của Đảng về việc lấy Nhân dân làm trung tâm, coi Nhân dân là chủ thể của quyền lực nhà nước và bảo đảm thực hiện đầy đủ phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin cần được xác định là nhiệm vụ trọng tâm trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Theo đó, pháp luật về tiếp cận thông tin cần được hoàn thiện theo hướng khẳng định rõ hơn trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin, coi đây là nghĩa vụ pháp lý của cơ quan nhà nước, không phải là sự “ban phát” thông tin. Cách tiếp cận này phù hợp với yêu cầu tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, đề cao trách nhiệm giải trình của bộ máy nhà nước trước Nhân dân. Đồng thời, cần tiếp tục hoàn thiện các quy định pháp luật theo hướng mở rộng phạm vi thông tin phải được công khai, minh bạch, đặc biệt là các thông tin liên quan trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của người dân, hoạt động quản lý nhà nước, việc ban hành và tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật ở các cơ quan.

Việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin trong giai đoạn mới cần được đặt trong tổng thể yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam theo tinh thần Nghị quyết số 27-NQ/TW và các văn kiện Đại hội XIV của Đảng. Theo đó, quyền tiếp cận thông tin của công dân phải được nhìn nhận không chỉ như một quyền công dân theo nghĩa pháp lý thuần túy, mà là thiết chế bảo đảm thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa, gắn liền với quyền làm chủ của Nhân dân.

2.2. Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin gắn chặt với trách nhiệm giải trình và phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực

Trên cơ sở các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong Nghị quyết số 27-NQ/TW, đặc biệt là Chỉ thị số 53-CT/TW, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin cần được đặt trong mối quan hệ chặt chẽ với việc hoàn thiện các quy định về trách nhiệm giải trình của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động công vụ.

Theo đó, pháp luật về tiếp cận thông tin cần được sửa đổi, bổ sung theo hướng: (i) làm rõ trách nhiệm, nghĩa vụ chủ động công khai thông tin của cơ quan nhà nước, coi đây là nội dung bắt buộc gắn với trách nhiệm giải trình; (ii) quy định cụ thể hơn trách nhiệm cá nhân của người đứng đầu trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân; (iii) hoàn thiện các cơ chế bảo đảm thực thi, gồm cơ chế kiểm tra, giám sát, xử lý vi phạm đối với hành vi không cung cấp, cung cấp không đầy đủ, không kịp thời hoặc trái pháp luật thông tin cho công dân. Quyền yêu cầu cung cấp thông tin phải gắn với nghĩa vụ trả lời, giải thích của cơ quan có thẩm quyền; việc từ chối cung cấp thông tin phải có căn cứ pháp lý rõ ràng, minh bạch và chịu sự giám sát, kiểm tra[7].

Việc gắn kết chặt chẽ quyền tiếp cận thông tin với trách nhiệm giải trình sẽ góp phần nâng cao kỷ luật, kỷ cương hành chính, tăng cường minh bạch trong hoạt động công vụ, qua đó, phòng ngừa và kiểm soát hiệu quả tham nhũng, lãng phí, tiêu cực theo đúng tinh thần chỉ đạo của Đảng.

2.3. Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số quốc gia

Thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW, pháp luật về tiếp cận thông tin cần được rà soát, sửa đổi theo hướng thích ứng đầy đủ với môi trường số. Trọng tâm là hoàn thiện các quy định về công khai thông tin trên nền tảng số, bảo đảm người dân có thể tiếp cận thông tin một cách thuận tiện, kịp thời, chi phí thấp.

Theo đó, cần rà soát, sửa đổi Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và các văn bản có liên quan để mở rộng phạm vi điều chỉnh đối với thông tin số, dữ liệu số, dữ liệu mở, đồng thời, quy định rõ trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong việc công khai thông tin trên môi trường số, bảo đảm thuận tiện, dễ tiếp cận, dễ khai thác, sử dụng đối với người dân.

Pháp luật về tiếp cận thông tin cần liên thông, đồng bộ với pháp luật về dữ liệu, chuyển đổi số, bảo vệ dữ liệu cá nhân và bảo vệ bí mật nhà nước. Việc xác định ranh giới giữa thông tin được công khai, thông tin hạn chế tiếp cận và thông tin mật cần rõ ràng, minh bạch, tránh tình trạng lạm dụng danh nghĩa bảo vệ bí mật nhà nước để hạn chế quyền tiếp cận thông tin của công dân.

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin trong bối cảnh chuyển đổi số không chỉ nhằm mở rộng khả năng tiếp cận thông tin của công dân, mà còn góp phần hình thành nền quản trị quốc gia hiện đại, minh bạch, dựa trên dữ liệu và công nghệ.

2.4. Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin phù hợp với yêu cầu sắp xếp tổ chức bộ máy và đơn vị hành chính

Trong bối cảnh sắp xếp tổ chức bộ máy, tổ chức lại đơn vị hành chính các cấp và xây dựng mô hình chính quyền địa phương hai cấp, pháp luật về tiếp cận thông tin cần được hoàn thiện để bảo đảm tính ổn định, liên tục của quyền tiếp cận thông tin của công dân. Đây là định hướng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng nhằm bảo đảm tinh gọn bộ máy không làm giảm mức độ công khai, minh bạch, không làm thu hẹp quyền tiếp cận thông tin của người dân, phù hợp với tinh thần các kết luận của trung ương và Bộ Chính trị về sắp xếp tổ chức bộ máy.

Theo đó, việc sửa đổi, bổ sung các quy định của Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 trong thời gian tới cần xác định phù hợp chủ thể có trách nhiệm cung cấp thông tin trong bối cảnh tổ chức bộ máy, mô hình tổ chức chính quyền địa phương mới, tránh tình trạng “khoảng trống trách nhiệm” hoặc đùn đẩy trách nhiệm cung cấp thông tin giữa các cơ quan, cấp chính quyền. Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin trong bối cảnh mới có ý nghĩa quan trọng trong việc củng cố niềm tin của Nhân dân, bảo đảm quyền giám sát của xã hội đối với hoạt động của bộ máy nhà nước sau sắp xếp.

2.5. Định hướng hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin theo tinh thần đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật

Tinh thần đổi mới tư duy xây dựng và thi hành pháp luật theo Nghị quyết số 66-NQ/TW đòi hỏi pháp luật về tiếp cận thông tin phải được hoàn thiện theo hướng lấy người dân làm trung tâm, bảo đảm tính khả thi, hiệu quả thực thi. Bên cạnh hoàn thiện các quy định pháp luật, cần chú trọng đến cơ chế tổ chức thực hiện, nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức, tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính trong việc cung cấp thông tin cho người dân.

Theo đó, cần khắc phục tình trạng quy định mang tính hình thức, gây phiền hà cho người dân, nghiên cứu cắt giảm các thủ tục hành chính có liên quan đến quyền tiếp cận thông tin của người dân. Việc sửa đổi Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 cần gắn chặt với yêu cầu nâng cao chất lượng thi hành pháp luật, bảo đảm quyền tiếp cận thông tin được thực hiện thực chất trong đời sống xã hội.

2.6. Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin nhằm minh bạch hóa môi trường đầu tư, kinh doanh, thúc đẩy phát triển kinh tế tư nhân và hội nhập quốc tế

Trên cơ sở Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, pháp luật về tiếp cận thông tin cần được hoàn thiện để bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp và người dân đối với các thông tin về chính sách, pháp luật, quy hoạch, kế hoạch, thủ tục hành chính.

Việc minh bạch hóa thông tin không chỉ góp phần bảo đảm quyền công dân, mà còn tạo môi trường đầu tư, kinh doanh ổn định, minh bạch, dễ dự đoán, qua đó, thúc đẩy phát triển kinh tế tư nhân theo đúng quan điểm, chủ trương của Đảng.

Đồng thời, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin cần đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế, tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm quốc tế phù hợp với điều kiện, đặc thù của Việt Nam, bảo đảm hài hòa giữa bảo vệ lợi ích quốc gia và quyền tiếp cận thông tin của công dân.

Kết luận

Quyền tiếp cận thông tin của công dân là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu đẩy mạnh chuyển đổi số, sắp xếp tổ chức bộ máy, hoàn thiện thể chế và hội nhập quốc tế sâu, rộng, việc tiếp tục hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan, cấp thiết.

Các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng thời gian qua đã xác định rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị quốc gia, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực và xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch, liêm chính. Trên cơ sở đó, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin cần được đặt trong tổng thể yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, bảo đảm sự đồng bộ với các lĩnh vực pháp luật có liên quan và phù hợp với bối cảnh phát triển mới.

Để bảo đảm thực hiện hiệu quả quyền tiếp cận thông tin của công dân, pháp luật về tiếp cận thông tin cần tiếp tục được hoàn thiện theo hướng: khẳng định rõ trách nhiệm của Nhà nước trong bảo đảm quyền; gắn chặt quyền tiếp cận thông tin với trách nhiệm giải trình của cơ quan công quyền; mở rộng công khai thông tin trên môi trường số; bảo đảm tính liên tục, ổn định của quyền trong điều kiện sắp xếp tổ chức bộ máy; đồng thời, nâng cao tính khả thi, hiệu quả thực thi của pháp luật trong thực tiễn.

Việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin không chỉ nhằm bảo đảm quyền hiến định của công dân, mà còn góp phần xây dựng nền quản trị quốc gia hiện đại, minh bạch, lấy người dân làm trung tâm, qua đó củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng và Nhà nước, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên phát triển mới./.

Cục Pháp luật hình sự - hành chính và quản lý xử lý vi phạm hành chính, Bộ Tư pháp

Ảnh: Internet

[1]. Hiến pháp năm 2013 được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Nghị quyết số 203/2025/QH15 ngày 16/6/2025 của Quốc hội quy định “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”.

[2]. Trương Quốc Chính, Trương Thị Quỳnh Hoa (2025), Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam theo quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, Tạp chí Tổ chức Nhà nước, số 3/2025.

[3]. Phạm Minh Tuấn (2024), Hoàn thiện hệ thống pháp luật đáp ứng mục tiêu xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, Tạp chí Cộng sản, số chuyên đề xây dựng Đảng và hệ thống chính trị.

[4]. Kết luận số 137-KL/TW ngày 28/3/2025 của Bộ Chính trị, Ban Bí thư về Đề án sắp xếp, tổ chức lại đơn vị hành chính các cấp và xây dựng mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp.

[5]. Nghị quyết số 60-NQ/TW ngày 12/4/2025 của Hội nghị lần thứ mười một Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII.

[6]. Kết luận số 155-KL/TW ngày 17/5/2025 của Bộ Chính trị, Ban Bí thư về một số nhiệm vụ trọng tâm cần tập trung thực hiện về sắp xếp tổ chức bộ máy và đơn vị hành chính từ nay đến ngày 30/6/2025.

[7]. ThS. Dương Văn Quý (2024), Thực trạng quyền tiếp cận thông tin trong Luật Phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam hiện nay, Tạp chí Pháp luật về quyền con người, số 38 (06/2024).

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Mendel, T. (2008), Freedom of Information: A Comparative Legal Survey, Paris: UNESCO.

2. Nguyễn Cao Siêng (2022), Xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam theo tư tưởng Hồ Chí Minh, Tạp chí Cộng sản, số chuyên đề lý luận - chính trị.

3. Phạm Minh Tuấn (2024), Hoàn thiện hệ thống pháp luật đáp ứng mục tiêu xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, Tạp chí Cộng sản, số chuyên đề xây dựng Đảng và hệ thống chính trị.

4. ThS. Dương Văn Quý (2024), Thực trạng quyền tiếp cận thông tin trong Luật Phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam hiện nay, Tạp chí Pháp luật về quyền con người, số 38 (06/2024).

5. Trương Quốc Chính, Trương Thị Quỳnh Hoa (2025), Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam theo quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, Tạp chí Tổ chức Nhà nước, số 3/2025.

(Nguồn: Ấn phẩm 200 trang “Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin nhằm bảo đảm thực hiện hiệu quả quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới” xuất bản năm 2026)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh của nền kinh tế nền tảng trong bối cảnh chuyển đổi số đang làm thay đổi cấu trúc quan hệ lao động và đặt ra những thách thức mới đối với việc bảo vệ quyền của người lao động. Nghiên cứu phân tích địa vị pháp lý và các quyền cơ bản của lao động nền tảng tại Việt Nam trong các lĩnh vực lao động như vận tải, giao hàng và dịch vụ trực tuyến. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tổng hợp thực tiễn, nghiên cứu nhận diện khoảng trống của pháp luật trong bảo đảm quyền của nhóm lao động này. Kết quả nghiên cứu cho thấy, pháp luật Việt Nam chưa theo kịp đặc thù của mô hình lao động nền tảng như xác định quan hệ lao động, an sinh xã hội và kiểm soát thuật toán. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng.
Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Tóm tắt: Tiêu chí đánh giá chất lượng công chức làm công tác thi hành án dân sự là tập hợp các dấu hiệu/nhóm dấu hiệu phản ánh năng lực, hành vi công vụ, phẩm chất đạo đức và kết quả thực thi nhiệm vụ của công chức thi hành án dân sự, sử dụng để đo lường, so sánh và cải thiện hiệu suất làm việc của đội ngũ công chức trong hệ thống thi hành án dân sự. Nghiên cứu cho thấy, hiện, tiêu chí đánh giá chất lượng còn thiếu, nhất là tiêu chí phản ánh bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp, tư duy cải cách... Vì vậy, nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận của việc xây dựng tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trên nền tảng quản trị công vụ hiện đại, gắn với vị trí việc làm, khung năng lực và kết quả thực hiện nhiệm vụ. Trên cơ sở phân tích thực trạng quy định pháp luật hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những kết quả đạt được, đồng thời, nhận diện hạn chế, bất cập trong thực trạng đánh giá hiện nay. Từ đó, nghiên cứu đề xuất hệ tiêu chí đánh giá theo hướng kết hợp giữa tiêu chí chung của công chức với tiêu chí đặc thù của từng chức danh như Chấp hành viên, Thẩm tra viên, Thư ký thi hành án nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ công chức ngành thi hành án dân sự đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030.
Vai trò của doanh nghiệp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế nhà nước - thị trường - xã hội

Vai trò của doanh nghiệp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế nhà nước - thị trường - xã hội

Tóm tắt: Xây dựng, hoàn thiện thể chế về mối quan hệ giữa Nhà nước, thị trường và xã hội là yêu cầu quan trọng nhằm huy động tối đa các nguồn lực cho sự phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới; trong đó, không thể thiếu sự đóng góp của các doanh nghiệp. Trên cơ sở phân tích vai trò của doanh nghiệp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế về mối quan hệ giữa Nhà nước, thị trường và xã hội; nghiên cứu đánh giá thực tiễn sự tham gia của cộng đồng doanh nghiệp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế những năm qua; từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy vai trò của các doanh nghiệp, với tư cách là một thành tố cơ bản trong xây dựng, phát triển đất nước và chủ thể đồng kiến tạo thể chế, phục vụ phát triển đất nước.
Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Trong bối cảnh yêu cầu phát triển đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nâng cao chất lượng quản trị quốc gia đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam ở cấp độ cấu trúc, thay vì sửa đổi từng văn bản riêng lẻ. Trên cơ sở định hướng của Kết luận số 09-KL/TW và đối chiếu với Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025*, nghiên cứu phân tích, làm rõ các vấn đề liên quan đến cấu trúc nguồn luật, hình thức văn bản quy phạm pháp luật, nguyên tắc xử lý xung đột pháp luật, nguồn bổ trợ, văn bản hợp nhất và cơ chế đánh giá sau ban hành, từ đó, chỉ ra một số nội dung chưa được thể chế hóa đầy đủ và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng tinh, gọn, thống nhất, minh bạch, dễ tiếp cận, có khả năng kiến tạo phát triển.
Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Quyền được đào tạo của người lao động là một trong những quyền cơ bản, có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm việc làm bền vững và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong quan hệ lao động, nguyên tắc tự do hợp đồng không được áp dụng tuyệt đối, mà chịu sự điều chỉnh và giới hạn nhất định nhằm bảo vệ người lao động là bên yếu thế. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, nghiên cứu làm rõ các giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động nhằm bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động, từ đó, đánh giá thực tiễn áp dụng và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Từ khóa: tự do hợp đồng; quan hệ lao động; quyền được đào tạo.
Sáu chính sách trụ cột mở đường phát triển ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam

Sáu chính sách trụ cột mở đường phát triển ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam

Trong những năm qua, công nghiệp văn hóa Việt Nam từng bước hình thành và phát triển, tạo ra nhiều sản phẩm có giá trị về kinh tế, văn hóa và xã hội. Tuy nhiên, sự phát triển của lĩnh vực này vẫn chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế về tài nguyên văn hóa, nguồn nhân lực và quy mô thị trường của Việt Nam. Nhiều điểm nghẽn về thể chế, tài chính, nhân lực, hạ tầng, tài sản trí tuệ và thị trường đang đặt ra yêu cầu phải có những giải pháp mang tính đồng bộ, dài hạn.
Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Tóm tắt: Xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm trật tự quản lý nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch, đồng thời, góp phần xây dựng môi trường kinh doanh du lịch an toàn, lành mạnh và bền vững. Thời gian qua, pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch từng bước được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm trên thực tế. Tuy nhiên, các quy định hiện hành còn một số hạn chế như thiếu thống nhất, chưa rõ ràng, còn chồng chéo và chưa bao quát đầy đủ một số hành vi vi phạm đặc thù. Trên cơ sở phân tích một số bất cập của pháp luật hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả xử phạt trong thực tiễn.
Xây dựng khung pháp lý phát triển công nghiệp văn hóa

Xây dựng khung pháp lý phát triển công nghiệp văn hóa

Nhằm cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam, đồng thời triển khai các chỉ đạo, kết luận của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Phiên họp thứ hai của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hóa Việt Nam, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xây dựng và lấy ý kiến dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa (dự thảo Luật). Dự án Luật được xây dựng theo trình tự, thủ tục rút gọn và dự kiến trình Quốc hội khóa XVI tại Kỳ họp thứ hai (tháng 10/2026).
Dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi) - Từ đổi mới chính sách đến yêu cầu tổ chức thực hiện

Dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi) - Từ đổi mới chính sách đến yêu cầu tổ chức thực hiện

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Tuy nhiên, trước yêu cầu đổi mới công tác xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật, chuyển đổi số quốc gia, tổ chức chính quyền địa phương theo mô hình hai cấp và hội nhập quốc tế, nhiều quy định của Luật đã bộc lộ hạn chế, bất cập cần được sửa đổi, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích bối cảnh và thực tiễn thi hành, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết sửa đổi Luật; phân tích 06 chính sách lớn và những điểm mới của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* ( dự thảo Luật), đồng thời, đề xuất một số yêu cầu, giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả tổ chức thi hành Luật.
Hoàn thiện quy định về căn cứ, phạm vi và thủ tục bồi thường của nhà nước trong dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật trách nhiệm bồi thường của nhà nước

Hoàn thiện quy định về căn cứ, phạm vi và thủ tục bồi thường của nhà nước trong dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật trách nhiệm bồi thường của nhà nước

Tóm tắt: Trước yêu cầu hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền được bồi thường của cá nhân, tổ chức và khắc phục những bất cập trong thực tiễn thi hành Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017, nghiên cứu phân tích dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước1 (dự thảo Luật), trên cơ sở so sánh với Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 20172 và ý kiến của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Nghiên cứu đánh giá những điểm mới của dự thảo Luật, đồng thời, chỉ ra các nội dung cần tiếp tục hoàn thiện như phạm vi trách nhiệm bồi thường, căn cứ yêu cầu bồi thường, nghĩa vụ chứng minh, cơ chế giải quyết và quản trị dữ liệu, từ đó, đề xuất các kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật, bảo đảm cơ chế bồi thường của Nhà nước minh bạch, khách quan và khả thi.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật cho đối tượng đặc thù theo dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật cho đối tượng đặc thù theo dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)

Tóm tắt: Phổ biến, giáo dục pháp luật có vai trò đặc biệt quan trọng giúp người dân nói chung và các đối tượng đặc thù nói riêng biết, hiểu và thực hiện theo đúng quy định của pháp luật, góp phần xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật. Nghiên cứu phân tích dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật), tập trung vào các quy định về đối tượng đặc thù, chính sách hỗ trợ, trách nhiệm của các chủ thể, chuyển đổi số, nguồn lực, cơ chế đánh giá và đội ngũ thực hiện. Nghiên cứu sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa và so sánh pháp luật. Kết quả cho thấy, dự thảo Luật có nhiều điểm mới như cụ thể hóa nhóm đối tượng đặc thù, phân định trách nhiệm của các chủ thể, bổ sung quy định về chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo, đồng thời, chú trọng bảo đảm nguồn lực và đánh giá hiệu quả thực hiện. Tuy nhiên, nghiên cứu cho thấy, một số nội dung dự thảo Luật cần tiếp tục hoàn thiện, gồm tiêu chí xác định đối tượng, chính sách hỗ trợ, chuẩn tiếp cận tối thiểu, cơ chế phối hợp, khả năng tiếp cận trong môi trường số, căn cứ phân bổ nguồn lực, tiêu chí đánh giá và yêu cầu về năng lực của đội ngũ thực hiện. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đưa ra một số kiến nghị, đề xuất nhằm hoàn thiện dự thảo Luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới.
Sự cần thiết xây dựng dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)

Sự cần thiết xây dựng dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm triển khai thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng để nâng cao nhận thức, ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức và Nhân dân, góp phần đưa pháp luật vào cuộc sống, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, trước yêu cầu mới của Đảng về đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, phát triển khoa học, công nghệ, chuyển đổi số, thực hiện mô hình quyền địa phương hai cấp, xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật, nhiều quy định của Luật bộc lộ những hạn chế, bất cập cả về nội dung và phương thức tổ chức thực hiện. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý và thực tiễn của việc xây dựng dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi) (dự thảo Luật), qua đó, khẳng định sự cần thiết phải sửa đổi toàn diện Luật nhằm hoàn thiện thể chế về phổ biến, giáo dục pháp luật, tăng cường gắn kết giữa xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật, đẩy mạnh chuyển đổi số, huy động nguồn lực xã hội và bảo đảm nâng cao hiệu quả quyền tiếp cận pháp luật của người dân, doanh nghiệp, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.
Tiêu chí kinh nghiệm hành nghề của giảng viên trong bảo đảm chất lượng đào tạo luật

Tiêu chí kinh nghiệm hành nghề của giảng viên trong bảo đảm chất lượng đào tạo luật

Bài viết đề xuất hoàn thiện dự thảo Thông tư ban hành Chuẩn cơ sở giáo dục đại học theo hướng chuyển trọng tâm từ đánh giá kinh nghiệm hành nghề của từng giảng viên sang đánh giá năng lực của cơ sở giáo dục đại học trong việc tổ chức hoạt động đào tạo gắn với thực tiễn.
Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.

Theo dõi chúng tôi trên: