Thứ tư 22/07/2026 22:20
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.

Từ khóa: quyền tiếp cận thông tin; hoàn thiện pháp luật; quan điểm của Đảng; chính sách pháp luật; Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; minh bạch; trách nhiệm giải trình; chuyển đổi số; công khai thông tin; quyền công dân.

Đặt vấn đề

Điều 25 Hiến pháp năm 2013[1] lần đầu tiên ghi nhận một cách trực tiếp quyền tiếp cận thông tin của công dân, thể hiện bước tiến quan trọng trong tư duy lập hiến, lập pháp về dân chủ, quyền con người và quyền công dân ở Việt Nam. Trên cơ sở đó, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 được ban hành, tạo khuôn khổ pháp lý ban đầu cho việc hiện thực hóa quyền hiến định này trong thực tiễn. Tuy nhiên, trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với những yêu cầu ngày càng cao về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy tinh gọn và hội nhập quốc tế sâu, rộng, pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin đã bộc lộ những hạn chế, bất cập nhất định.

Trong thời gian qua, Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã ban hành nhiều chủ trương, định hướng quan trọng nhằm tiếp tục hoàn thiện thể chế, pháp luật về bảo đảm quyền con người, quyền công dân, tăng cường công khai, minh bạch trong hoạt động của bộ máy nhà nước, trong đó có quyền tiếp cận thông tin. Các văn kiện của Đảng, đặc biệt là Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV và Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới (Nghị quyết số 27-NQ/TW) đặt ra yêu cầu tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật, bảo đảm công khai, minh bạch, tăng cường trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước, tạo điều kiện thuận lợi để người dân thực hiện các quyền hiến định, trong đó có quyền tiếp cận thông tin.

Trong bối cảnh đó, việc nghiên cứu, làm rõ quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước về định hướng hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin, đồng thời, phân tích sự cần thiết phải tiếp tục hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin nhằm bảo đảm thực hiện hiệu quả quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới là yêu cầu có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn. Trên cơ sở đó, nghiên cứu tập trung làm rõ các định hướng lớn của Đảng và Nhà nước về bảo đảm quyền tiếp cận thông tin, đồng thời, phân tích những yêu cầu đặt ra đối với việc hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trong bối cảnh mới.

1. Quan điểm, chủ trương của Đảng về hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin

1.1. Quyền tiếp cận thông tin trong quan điểm của Đảng về dân chủ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của Nhân dân

Xuyên suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn nhất quán quan điểm lấy Nhân dân làm trung tâm, coi Nhân dân là chủ thể của quyền lực nhà nước[2]. Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng tiếp tục chủ trương “phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của Nhân dân; tăng cường kiểm soát quyền lực, kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu, tiêu cực, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”; “Phát huy mạnh mẽ vai trò chủ thể của Nhân dân, dân chủ xã hội chủ nghĩa, sức mạnh của Nhân dân và khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Quán triệt sâu sắc quan điểm “Dân là gốc”, Nhân dân là chủ thể, là trung tâm của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước phải thực sự xuất phát từ nhu cầu, nguyện vọng, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân; lấy việc tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, hạnh phúc và sự hài lòng của Nhân dân làm thước đo và mục tiêu phấn đấu”. Đồng thời, Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV định hướng phát triển đất nước tầm nhìn đến năm 2045 “trở thành nước phát triển, thu nhập cao vì một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội”.

Trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, quyền lực nhà nước là thống nhất nhưng có sự phân công, phối hợp và kiểm soát chặt chẽ. Kiểm soát quyền lực không thể chỉ dựa vào cơ chế giám sát, kiểm soát nội bộ giữa các cơ quan nhà nước, mà cần có sự tham gia rộng rãi của Nhân dân và xã hội. Công khai, minh bạch thông tin và quyền tiếp cận thông tin của công dân được Đảng xác định là một trong những công cụ quan trọng để tăng cường kiểm soát quyền lực, phòng ngừa lạm quyền, tham nhũng, tiêu cực.

1.2. Quan điểm của Đảng về công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực

Nghị quyết số 27-NQ/TW xác định nhiệm vụ: “Tiếp tục thể chế hóa, cụ thể hóa kịp thời, đầy đủ quan điểm, chủ trương của Đảng và quy định của Hiến pháp về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân; nội luật hóa các điều ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam đã tham gia; xác định rõ trách nhiệm của cơ quan nhà nước trong việc tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân. Thực hiện tốt nguyên tắc công dân được làm tất cả những gì pháp luật không cấm; quyền công dân không tách rời nghĩa vụ công dân, việc thực hiện quyền con người, quyền công dân không được xâm phạm lợi ích quốc gia - dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân”. Đây là chỉ đạo có ý nghĩa định hướng trực tiếp đối với việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin.

Công khai, minh bạch không chỉ là yêu cầu về phương thức hoạt động của bộ máy nhà nước, mà còn là quyền của Nhân dân, được pháp luật ghi nhận và bảo đảm thực hiện. Trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước chỉ có thể được thực hiện đầy đủ khi người dân có khả năng tiếp cận thông tin liên quan đến hoạt động quản lý nhà nước, việc ban hành và tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật. Do đó, pháp luật về tiếp cận thông tin cần được hoàn thiện theo hướng làm rõ hơn trách nhiệm công khai thông tin, mở rộng phạm vi công khai chủ động, đồng thời, gắn chặt quyền tiếp cận thông tin với trách nhiệm cung cấp thông tin theo yêu cầu và trách nhiệm giải trình của các cơ quan công quyền[3].

Ngày 26/10/2025, Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị số 53-CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với việc thực hiện trách nhiệm giải trình của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động công vụ (Chỉ thị số 53-CT/TW), trong đó, yêu cầu: “Hoàn thiện pháp luật về tư pháp, khiếu nại, tố cáo, tiếp công dân, đất đai, quy hoạch, môi trường, đầu tư, xây dựng, quản lý, sử dụng tài sản công, tài chính công, bảo đảm quyền tiếp cận thông tin…; trách nhiệm giải trình của các cơ quan tổ chức, cá nhân có liên quan trong hoạt động công vụ”. Việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân góp phần quan trọng vào công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực và tăng cường trách nhiệm giải trình của các cơ quan nhà nước.

Có thể thấy, quyền tiếp cận thông tin của công dân được Đảng đặt trong mối quan hệ chặt chẽ, không tách rời với trách nhiệm giải trình của bộ máy nhà nước, coi đây là nhiệm vụ quan trọng để nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị quốc gia, phòng ngừa và kiểm soát tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Theo đó, Chỉ thị số 53-CT/TW tiếp tục nhấn mạnh, tiếp cận thông tin không chỉ là quyền hiến định của công dân, mà còn là công cụ thiết yếu để Nhân dân giám sát hoạt động công vụ, buộc các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền phải minh bạch trong quyết định, hành động và chịu trách nhiệm trước Nhân dân.

Từ góc độ hoàn thiện pháp luật, Chỉ thị số 53-CT/TW đặt ra yêu cầu phải rà soát, sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật về tiếp cận thông tin theo hướng gắn chặt hơn với chế định trách nhiệm giải trình, làm rõ nghĩa vụ công khai và cung cấp thông tin của cơ quan nhà nước, trách nhiệm cá nhân của người đứng đầu, cũng như các cơ chế bảo đảm thực thi và xử lý vi phạm. Đây là định hướng chính trị quan trọng, tạo cơ sở để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin không chỉ nhằm “mở rộng quyền” cho công dân, mà còn nhằm nâng cao kỷ luật, kỷ cương hành chính, xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch, liêm chính, phục vụ Nhân dân.

Đồng thời, việc nhấn mạnh vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực theo tinh thần Chỉ thị số 53-CT/TW cho thấy sự cần thiết phải tiếp cận hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin theo hướng liên thông, đồng bộ với pháp luật về phòng, chống tham nhũng, khiếu nại, tố cáo và kiểm soát quyền lực, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới.

1.3. Quan điểm của Đảng về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin

Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia (Nghị quyết số 57-NQ/TW) yêu cầu: “Hoàn thành xây dựng, kết nối, chia sẻ đồng bộ cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu các ngành; khai thác và sử dụng có hiệu quả tài nguyên số, dữ liệu số, hình thành sàn giao dịch dữ liệu. Phát triển Chính phủ số, kinh tế số, xã hội số, công dân số, công nghiệp văn hóa số đạt mức cao của thế giới. Việt Nam thuộc nhóm các nước dẫn đầu về an toàn, an ninh không gian mạng, an ninh dữ liệu và bảo vệ dữ liệu”. Bên cạnh đó, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ban Chấp hành Trung ương Đảng cũng có nhiều văn bản chỉ đạo về đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong hoạt động của các cơ quan, tổ chức, đơn vị, trong đó, dữ liệu và thông tin giữ vai trò then chốt.

Trong bối cảnh chuyển đổi số, quyền tiếp cận thông tin của công dân không chỉ dừng ở việc tiếp cận các văn bản, tài liệu hành chính theo phương thức truyền thống, mà còn gắn liền với khả năng tiếp cận thông tin số, dữ liệu số, dữ liệu mở do cơ quan nhà nước nắm giữ. Điều này đặt ra yêu cầu phải hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin theo hướng phù hợp với môi trường số, bảo đảm công khai, minh bạch thông tin trên nền tảng số, tạo điều kiện thuận lợi để người dân tiếp cận, khai thác và sử dụng thông tin.

Việc thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW đòi hỏi pháp luật về tiếp cận thông tin phải được rà soát, sửa đổi, bổ sung để bảo đảm thống nhất, đồng bộ với pháp luật về chuyển đổi số, dữ liệu, an ninh mạng, bảo vệ bí mật nhà nước và bảo vệ dữ liệu cá nhân. Đây là yêu cầu có tính chiến lược, lâu dài, nhằm bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân được thực hiện hiệu quả trong điều kiện phát triển khoa học, công nghệ nhanh chóng.

1.4. Quan điểm của Đảng về sắp xếp tổ chức bộ máy, đơn vị hành chính và yêu cầu bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân

Kết luận số 121-KL/TW ngày 24/01/2025 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tổng kết Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả tiếp tục khẳng định yêu cầu đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, trong đó: “xác định rõ trách nhiệm giữa trung ương và địa phương và giữa các cấp chính quyền địa phương; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, bảo đảm trung ương tăng cường quản lý vĩ mô, xây dựng thể chế, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch đồng bộ, thống nhất, giữ vai trò kiến tạo và tăng cường kiểm tra, giám sát, “địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm”. Trên cơ sở đó, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách định hướng việc sắp xếp tổ chức bộ máy và đơn vị hành chính, trong đó, tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu: đẩy mạnh phân cấp cho chính quyền địa phương cấp xã theo năng lực và yêu cầu quản lý[4]; Ban Chấp hành Trung ương Đảng yêu cầu các cấp ủy, cơ quan, đơn vị, tổ chức, nhất là người đứng đầu tập trung sửa đổi, bổ sung, xây dựng hoàn thiện thể chế, nhất là các quy định về quản lý nhà nước, quản trị quốc gia, quản lý xã hội theo hướng đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền, trách nhiệm, tổ chức bộ máy của từng cấp, từng ngành, từng cơ quan, đơn vị, tổ chức và cá nhân[5]; triển khai thực hiện phân cấp, phân quyền bảo đảm một số nguyên tắc chính: (i) trung ương tập trung quản lý vĩ mô, xây dựng thể chế, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch đồng bộ, thống nhất, giữ vai trò kiến tạo và tăng cường kiểm tra, giám sát; phân cấp, phân quyền đủ mạnh, đủ rõ, hợp lý các nhiệm vụ ở trung ương đang thực hiện về cho địa phương theo đúng tinh thần “địa phương quyết định, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm”; (ii) đẩy mạnh phân cấp, phân quyền và phân định rõ giữa thẩm quyền chung của Ủy ban nhân dân và thẩm quyền riêng của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp xã nhằm phát huy vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức các cấp (không để tình trạng đùn đẩy, né tránh và chậm trễ trong việc triển khai các nhiệm vụ, quyền hạn; gửi xin ý kiến tràn lan); (iii) rà soát, thực hiện phân cấp, phân quyền giữa các ngành, lĩnh vực có liên quan bảo đảm đồng bộ, tổng thể, liên thông, không bỏ sót hoặc chồng lấn, giao thoa nhiệm vụ[6]…

Trên cơ sở các chỉ đạo trên, pháp luật về tiếp cận thông tin cần được hoàn thiện để xác định rõ trách nhiệm cung cấp thông tin trong điều kiện tổ chức bộ máy mới, bảo đảm tính liên tục, ổn định của quyền tiếp cận thông tin, việc sắp xếp tổ chức bộ máy, thay đổi thẩm quyền, mô hình tổ chức không được làm gián đoạn hoặc thu hẹp quyền tiếp cận thông tin của công dân.

1.5. Quan điểm của Đảng về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật và yêu cầu hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin

Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới đặt ra yêu cầu đổi mới tư duy xây dựng pháp luật: “...phát huy dân chủ, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ hiệu quả quyền con người, quyền công dân; bảo đảm sự cân đối, hợp lý giữa mức độ hạn chế quyền với lợi ích chính đáng đạt được... Bên cạnh một số bộ luật, luật quy định về quyền con người, quyền công dân, tố tụng tư pháp cần cụ thể, về cơ bản các luật khác, nhất là luật điều chỉnh các nội dung về kiến tạo phát triển chỉ quy định những vấn đề khung, những vấn đề có tính nguyên tắc thuộc thẩm quyền của Quốc hội, còn những vấn đề thực tiễn thường xuyên biến động thì giao Chính phủ, Bộ, ngành, địa phương quy định để bảo đảm linh hoạt, phù hợp với thực tiễn”.

Đối với pháp luật về tiếp cận thông tin, tinh thần của Nghị quyết số 66-NQ/TW đặt ra yêu cầu phải tiếp tục hoàn thiện theo hướng lấy người dân làm trung tâm, coi quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cần được bảo đảm bằng các cơ chế pháp lý hiệu quả, khả thi. Việc sửa đổi, bổ sung Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 cần gắn với đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, khắc phục tình trạng quy định hình thức, khó thực thi, bảo đảm pháp luật đi vào cuộc sống.

1.6. Quan điểm của Đảng về phát triển kinh tế tư nhân và yêu cầu minh bạch hóa thông tin

Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân (Nghị quyết số 68-NQ/TW) xác định kinh tế tư nhân là động lực quan trọng của nền kinh tế. Để kinh tế tư nhân phát triển lành mạnh, bền vững, một trong những yêu cầu quan trọng là phải xây dựng môi trường đầu tư, kinh doanh công khai, minh bạch, ổn định. Cụ thể, tại Nghị quyết số 68-NQ/TW yêu cầu: “công khai, minh bạch và chủ động cung cấp thông tin tới doanh nghiệp”, “hoàn thiện hệ thống pháp luật, xóa bỏ các rào cản tiếp cận thị trường đảm bảo môi trường kinh doanh thông thoáng, minh bạch, rõ ràng, nhất quán, ổn định lâu dài, dễ tuân thủ, chi phí thấp”.

Vì vậy, quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp và người dân, đặc biệt, thông tin về chính sách, pháp luật, quy hoạch, kế hoạch, thủ tục hành chính có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin không chỉ nhằm bảo đảm quyền công dân, mà còn góp phần trực tiếp cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, thúc đẩy phát triển kinh tế tư nhân theo đúng quan điểm, chủ trương của Đảng.

2. Giải pháp thực hiện quan điểm, chủ trương của Đảng về hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin trong giai đoạn mới

2.1. Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin nhằm thể chế hóa đầy đủ, kịp thời quan điểm của Đảng về quyền làm chủ của Nhân dân

Từ quan điểm nhất quán của Đảng về việc lấy Nhân dân làm trung tâm, coi Nhân dân là chủ thể của quyền lực nhà nước và bảo đảm thực hiện đầy đủ phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin cần được xác định là nhiệm vụ trọng tâm trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Theo đó, pháp luật về tiếp cận thông tin cần được hoàn thiện theo hướng khẳng định rõ hơn trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin, coi đây là nghĩa vụ pháp lý của cơ quan nhà nước, không phải là sự “ban phát” thông tin. Cách tiếp cận này phù hợp với yêu cầu tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, đề cao trách nhiệm giải trình của bộ máy nhà nước trước Nhân dân. Đồng thời, cần tiếp tục hoàn thiện các quy định pháp luật theo hướng mở rộng phạm vi thông tin phải được công khai, minh bạch, đặc biệt là các thông tin liên quan trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của người dân, hoạt động quản lý nhà nước, việc ban hành và tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật ở các cơ quan.

Việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin trong giai đoạn mới cần được đặt trong tổng thể yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam theo tinh thần Nghị quyết số 27-NQ/TW và các văn kiện Đại hội XIV của Đảng. Theo đó, quyền tiếp cận thông tin của công dân phải được nhìn nhận không chỉ như một quyền công dân theo nghĩa pháp lý thuần túy, mà là thiết chế bảo đảm thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa, gắn liền với quyền làm chủ của Nhân dân.

2.2. Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin gắn chặt với trách nhiệm giải trình và phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực

Trên cơ sở các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong Nghị quyết số 27-NQ/TW, đặc biệt là Chỉ thị số 53-CT/TW, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin cần được đặt trong mối quan hệ chặt chẽ với việc hoàn thiện các quy định về trách nhiệm giải trình của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động công vụ.

Theo đó, pháp luật về tiếp cận thông tin cần được sửa đổi, bổ sung theo hướng: (i) làm rõ trách nhiệm, nghĩa vụ chủ động công khai thông tin của cơ quan nhà nước, coi đây là nội dung bắt buộc gắn với trách nhiệm giải trình; (ii) quy định cụ thể hơn trách nhiệm cá nhân của người đứng đầu trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân; (iii) hoàn thiện các cơ chế bảo đảm thực thi, gồm cơ chế kiểm tra, giám sát, xử lý vi phạm đối với hành vi không cung cấp, cung cấp không đầy đủ, không kịp thời hoặc trái pháp luật thông tin cho công dân. Quyền yêu cầu cung cấp thông tin phải gắn với nghĩa vụ trả lời, giải thích của cơ quan có thẩm quyền; việc từ chối cung cấp thông tin phải có căn cứ pháp lý rõ ràng, minh bạch và chịu sự giám sát, kiểm tra[7].

Việc gắn kết chặt chẽ quyền tiếp cận thông tin với trách nhiệm giải trình sẽ góp phần nâng cao kỷ luật, kỷ cương hành chính, tăng cường minh bạch trong hoạt động công vụ, qua đó, phòng ngừa và kiểm soát hiệu quả tham nhũng, lãng phí, tiêu cực theo đúng tinh thần chỉ đạo của Đảng.

2.3. Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số quốc gia

Thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW, pháp luật về tiếp cận thông tin cần được rà soát, sửa đổi theo hướng thích ứng đầy đủ với môi trường số. Trọng tâm là hoàn thiện các quy định về công khai thông tin trên nền tảng số, bảo đảm người dân có thể tiếp cận thông tin một cách thuận tiện, kịp thời, chi phí thấp.

Theo đó, cần rà soát, sửa đổi Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và các văn bản có liên quan để mở rộng phạm vi điều chỉnh đối với thông tin số, dữ liệu số, dữ liệu mở, đồng thời, quy định rõ trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong việc công khai thông tin trên môi trường số, bảo đảm thuận tiện, dễ tiếp cận, dễ khai thác, sử dụng đối với người dân.

Pháp luật về tiếp cận thông tin cần liên thông, đồng bộ với pháp luật về dữ liệu, chuyển đổi số, bảo vệ dữ liệu cá nhân và bảo vệ bí mật nhà nước. Việc xác định ranh giới giữa thông tin được công khai, thông tin hạn chế tiếp cận và thông tin mật cần rõ ràng, minh bạch, tránh tình trạng lạm dụng danh nghĩa bảo vệ bí mật nhà nước để hạn chế quyền tiếp cận thông tin của công dân.

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin trong bối cảnh chuyển đổi số không chỉ nhằm mở rộng khả năng tiếp cận thông tin của công dân, mà còn góp phần hình thành nền quản trị quốc gia hiện đại, minh bạch, dựa trên dữ liệu và công nghệ.

2.4. Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin phù hợp với yêu cầu sắp xếp tổ chức bộ máy và đơn vị hành chính

Trong bối cảnh sắp xếp tổ chức bộ máy, tổ chức lại đơn vị hành chính các cấp và xây dựng mô hình chính quyền địa phương hai cấp, pháp luật về tiếp cận thông tin cần được hoàn thiện để bảo đảm tính ổn định, liên tục của quyền tiếp cận thông tin của công dân. Đây là định hướng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng nhằm bảo đảm tinh gọn bộ máy không làm giảm mức độ công khai, minh bạch, không làm thu hẹp quyền tiếp cận thông tin của người dân, phù hợp với tinh thần các kết luận của trung ương và Bộ Chính trị về sắp xếp tổ chức bộ máy.

Theo đó, việc sửa đổi, bổ sung các quy định của Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 trong thời gian tới cần xác định phù hợp chủ thể có trách nhiệm cung cấp thông tin trong bối cảnh tổ chức bộ máy, mô hình tổ chức chính quyền địa phương mới, tránh tình trạng “khoảng trống trách nhiệm” hoặc đùn đẩy trách nhiệm cung cấp thông tin giữa các cơ quan, cấp chính quyền. Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin trong bối cảnh mới có ý nghĩa quan trọng trong việc củng cố niềm tin của Nhân dân, bảo đảm quyền giám sát của xã hội đối với hoạt động của bộ máy nhà nước sau sắp xếp.

2.5. Định hướng hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin theo tinh thần đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật

Tinh thần đổi mới tư duy xây dựng và thi hành pháp luật theo Nghị quyết số 66-NQ/TW đòi hỏi pháp luật về tiếp cận thông tin phải được hoàn thiện theo hướng lấy người dân làm trung tâm, bảo đảm tính khả thi, hiệu quả thực thi. Bên cạnh hoàn thiện các quy định pháp luật, cần chú trọng đến cơ chế tổ chức thực hiện, nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức, tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính trong việc cung cấp thông tin cho người dân.

Theo đó, cần khắc phục tình trạng quy định mang tính hình thức, gây phiền hà cho người dân, nghiên cứu cắt giảm các thủ tục hành chính có liên quan đến quyền tiếp cận thông tin của người dân. Việc sửa đổi Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 cần gắn chặt với yêu cầu nâng cao chất lượng thi hành pháp luật, bảo đảm quyền tiếp cận thông tin được thực hiện thực chất trong đời sống xã hội.

2.6. Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin nhằm minh bạch hóa môi trường đầu tư, kinh doanh, thúc đẩy phát triển kinh tế tư nhân và hội nhập quốc tế

Trên cơ sở Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, pháp luật về tiếp cận thông tin cần được hoàn thiện để bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp và người dân đối với các thông tin về chính sách, pháp luật, quy hoạch, kế hoạch, thủ tục hành chính.

Việc minh bạch hóa thông tin không chỉ góp phần bảo đảm quyền công dân, mà còn tạo môi trường đầu tư, kinh doanh ổn định, minh bạch, dễ dự đoán, qua đó, thúc đẩy phát triển kinh tế tư nhân theo đúng quan điểm, chủ trương của Đảng.

Đồng thời, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin cần đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế, tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm quốc tế phù hợp với điều kiện, đặc thù của Việt Nam, bảo đảm hài hòa giữa bảo vệ lợi ích quốc gia và quyền tiếp cận thông tin của công dân.

Kết luận

Quyền tiếp cận thông tin của công dân là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu đẩy mạnh chuyển đổi số, sắp xếp tổ chức bộ máy, hoàn thiện thể chế và hội nhập quốc tế sâu, rộng, việc tiếp tục hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan, cấp thiết.

Các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng thời gian qua đã xác định rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị quốc gia, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực và xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch, liêm chính. Trên cơ sở đó, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin cần được đặt trong tổng thể yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, bảo đảm sự đồng bộ với các lĩnh vực pháp luật có liên quan và phù hợp với bối cảnh phát triển mới.

Để bảo đảm thực hiện hiệu quả quyền tiếp cận thông tin của công dân, pháp luật về tiếp cận thông tin cần tiếp tục được hoàn thiện theo hướng: khẳng định rõ trách nhiệm của Nhà nước trong bảo đảm quyền; gắn chặt quyền tiếp cận thông tin với trách nhiệm giải trình của cơ quan công quyền; mở rộng công khai thông tin trên môi trường số; bảo đảm tính liên tục, ổn định của quyền trong điều kiện sắp xếp tổ chức bộ máy; đồng thời, nâng cao tính khả thi, hiệu quả thực thi của pháp luật trong thực tiễn.

Việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin không chỉ nhằm bảo đảm quyền hiến định của công dân, mà còn góp phần xây dựng nền quản trị quốc gia hiện đại, minh bạch, lấy người dân làm trung tâm, qua đó củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng và Nhà nước, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên phát triển mới./.

Cục Pháp luật hình sự - hành chính và quản lý xử lý vi phạm hành chính, Bộ Tư pháp

Ảnh: Internet

[1]. Hiến pháp năm 2013 được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Nghị quyết số 203/2025/QH15 ngày 16/6/2025 của Quốc hội quy định “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”.

[2]. Trương Quốc Chính, Trương Thị Quỳnh Hoa (2025), Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam theo quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, Tạp chí Tổ chức Nhà nước, số 3/2025.

[3]. Phạm Minh Tuấn (2024), Hoàn thiện hệ thống pháp luật đáp ứng mục tiêu xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, Tạp chí Cộng sản, số chuyên đề xây dựng Đảng và hệ thống chính trị.

[4]. Kết luận số 137-KL/TW ngày 28/3/2025 của Bộ Chính trị, Ban Bí thư về Đề án sắp xếp, tổ chức lại đơn vị hành chính các cấp và xây dựng mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp.

[5]. Nghị quyết số 60-NQ/TW ngày 12/4/2025 của Hội nghị lần thứ mười một Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII.

[6]. Kết luận số 155-KL/TW ngày 17/5/2025 của Bộ Chính trị, Ban Bí thư về một số nhiệm vụ trọng tâm cần tập trung thực hiện về sắp xếp tổ chức bộ máy và đơn vị hành chính từ nay đến ngày 30/6/2025.

[7]. ThS. Dương Văn Quý (2024), Thực trạng quyền tiếp cận thông tin trong Luật Phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam hiện nay, Tạp chí Pháp luật về quyền con người, số 38 (06/2024).

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Mendel, T. (2008), Freedom of Information: A Comparative Legal Survey, Paris: UNESCO.

2. Nguyễn Cao Siêng (2022), Xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam theo tư tưởng Hồ Chí Minh, Tạp chí Cộng sản, số chuyên đề lý luận - chính trị.

3. Phạm Minh Tuấn (2024), Hoàn thiện hệ thống pháp luật đáp ứng mục tiêu xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, Tạp chí Cộng sản, số chuyên đề xây dựng Đảng và hệ thống chính trị.

4. ThS. Dương Văn Quý (2024), Thực trạng quyền tiếp cận thông tin trong Luật Phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam hiện nay, Tạp chí Pháp luật về quyền con người, số 38 (06/2024).

5. Trương Quốc Chính, Trương Thị Quỳnh Hoa (2025), Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam theo quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, Tạp chí Tổ chức Nhà nước, số 3/2025.

(Nguồn: Ấn phẩm 200 trang “Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin nhằm bảo đảm thực hiện hiệu quả quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới” xuất bản năm 2026)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Tiêu chí kinh nghiệm hành nghề của giảng viên trong bảo đảm chất lượng đào tạo luật

Tiêu chí kinh nghiệm hành nghề của giảng viên trong bảo đảm chất lượng đào tạo luật

Bài viết đề xuất hoàn thiện dự thảo Thông tư ban hành Chuẩn cơ sở giáo dục đại học theo hướng chuyển trọng tâm từ đánh giá kinh nghiệm hành nghề của từng giảng viên sang đánh giá năng lực của cơ sở giáo dục đại học trong việc tổ chức hoạt động đào tạo gắn với thực tiễn.
Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.
Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Tóm tắt: Việt Nam là thành viên thứ 100 của Diễn đàn chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận (IF on BEPS) và cam kết thực hiện các tiêu chuẩn tối thiểu trong khuôn khổ sáng kiến chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Đến nay, Việt Nam bước đầu triển khai 02 trong số 04 quy tắc tối thiểu thông qua xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở các quy định thuộc Trụ cột Hai OECD. Tuy nhiên, đối chiếu với điều kiện thực tiễn trong nước và kinh nghiệm lập pháp quốc tế, khung pháp luật hiện hành còn tồn tại một số hạn chế cần nghiên cứu, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích các quy định về chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu của OECD, so sánh kinh nghiệm triển khai tại Vương quốc Anh và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo cơ chế chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu tại Việt Nam.
Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi): Tăng cường bảo đảm quyền hành nghề của luật sư và tôn trọng tính bảo mật trong hoạt động nghề nghiệp

Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi): Tăng cường bảo đảm quyền hành nghề của luật sư và tôn trọng tính bảo mật trong hoạt động nghề nghiệp

Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) (dự thảo Luật) đang được Bộ Tư pháp nghiên cứu xây dựng với nhiều nội dung đổi mới quan trọng. Bên cạnh việc sửa đổi các quy định về nguyên tắc quản lý luật sư, trách nhiệm quản lý nhà nước…, dự thảo Luật còn quy định cam kết về tôn trọng tính bảo mật, bảo đảm quyền hành nghề của luật sư. Đây là những nội dung có ý nghĩa quan trọng, góp phần xây dựng môi trường hành nghề minh bạch, chuyên nghiệp, nâng cao chất lượng dịch vụ pháp lý và phát huy vai trò của luật sư trong bảo vệ công lý, quyền con người, quyền công dân trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng.
Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025 được ban hành đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong hệ thống pháp luật Việt Nam về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tư pháp hình sự. Bài viết nêu sự cần thiết, ý nghĩa ban hành và những điểm mới nổi bật của Luật, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm quyền con người và đáp ứng nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 5/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 5/2026

Trong tháng 5/2026, nhiều văn bản quy phạm pháp luật mới đã được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành, tác động trực tiếp đến hoạt động quản lý nhà nước, sản xuất, kinh doanh và đời sống của người dân, doanh nghiệp.
Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Những điểm mới đột phá của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2026 góp phần hoàn thiện thể chế, đáp ứng yêu cầu quản trị quốc gia trong kỷ nguyên số

Những điểm mới đột phá của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2026 góp phần hoàn thiện thể chế, đáp ứng yêu cầu quản trị quốc gia trong kỷ nguyên số

Ngày 23/4/2026, tại Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã biểu quyết thông qua Luật Tín ngưỡng, tôn giáo số 07/2026/QH16. Đạo luật này đã được Chủ tịch nước ký Lệnh công bố số 07/2026/L-CTN ngày 26/4/2026 và sẽ chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2027. Việc ban hành Luật mới nhằm thay thế toàn bộ Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, qua đó thể chế hóa đầy đủ chủ trương của Đảng, giải quyết triệt để những bất cập thực tiễn, đồng thời đáp ứng yêu cầu tinh gọn bộ máy chính quyền (02 cấp) và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia.
Luật sư và yêu cầu về bản lĩnh chính trị vững vàng trong hành nghề

Luật sư và yêu cầu về bản lĩnh chính trị vững vàng trong hành nghề

Việc đặt ra yêu cầu luật sư phải có “bản lĩnh chính trị vững vàng” là vấn đề đang thu hút sự quan tâm lớn của giới hành nghề, giới nghiên cứu và cơ quan xây dựng pháp luật, nhất là khi dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) đã đặt trọng tâm vào chính sách xây dựng đội ngũ luật sư có bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức và năng lực chuyên môn đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 4/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 4/2026

Tháng 4/2026 ghi nhận nhiều văn bản pháp luật mới được ban hành và cập nhật, tác động trực tiếp đến các lĩnh vực như tư pháp, thuế, tài chính, đầu tư, doanh nghiệp và quản lý nhà nước. Việc nắm bắt kịp thời các quy định này không chỉ giúp cá nhân, tổ chức chủ động tuân thủ pháp luật mà còn hạn chế rủi ro trong hoạt động sản xuất, kinh doanh. Danh sách văn bản dưới đây do LuatVietnam.vn tổng hợp, nhằm hỗ trợ bạn đọc tiếp cận nhanh chóng, chính xác và đầy đủ các chính sách mới vừa được ban hành.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.

Theo dõi chúng tôi trên: