Thứ bảy 13/06/2026 00:40
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bàn về khái niệm người tiêu dùng trong Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Bài viết tập trung nghiên cứu về cách quy định khái niệm người tiêu dùng theo pháp luật thế giới, từ đó, đưa ra những đánh giá về khái niệm người tiêu dùng theo Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023.

1. Quan niệm về người tiêu dùng theo pháp luật của một số quốc gia trên thế giới

Người tiêu dùng (consumer) là một thuật ngữ có phạm vi mô tả khá rộng. Dưới góc độ kinh tế, theo Từ điển Kinh tế học hiện đại thì người tiêu dùng được định nghĩa như sau: “Người tiêu dùng là bất cứ đơn vị kinh tế nào có nhu cầu tiêu dùng hàng hóa và dịch vụ cuối cùng…, thông thường, người tiêu dùng được coi là một cá nhân nhưng trên thực tế, người tiêu dùng có thể là cơ quan, cá nhân và nhóm cá nhân. Trong trường hợp cuối cùng, điều đáng lưu ý là, để có quyết định, đơn vị tiêu dùng là hộ gia đình chứ không phải là cá nhân”[1].

Tuy nhiên, khái niệm người tiêu dùng chỉ xuất hiện và là đối tượng được bảo vệ khi lĩnh vực pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ra đời. Quan niệm về người tiêu dùng ở mỗi quốc gia lại có cách tiếp cận và định nghĩa khác nhau, song, nhìn chung, các quốc gia đều chủ yếu xây dựng định nghĩa này dựa trên ba yếu tố: (i) Tư cách chủ thể; (ii) Căn cứ phát sinh giao dịch tiêu dùng; (iii) Mục đích của giao dịch tiêu dùng.

1.1. Về tư cách chủ thể

Hiện nay, quan điểm về tư cách chủ thể của người tiêu dùng theo pháp luật của các quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới đang được chia thành hai xu hướng:

Xu hướng thứ nhất, người tiêu dùng có thể là cá nhân hoặc tổ chức: Điển hình cho xu hướng này có thể kể tới pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng của Đài Loan, Ấn Độ, Hàn Quốc… Theo đó, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Đài Loan năm 1994 (bổ sung năm 2005) ghi nhận, người tiêu dùng là người tham gia vào các giao dịch, sử dụng hàng hoá hoặc dịch vụ vì mục đích tiêu dùng. Quy định này không phân biệt người tiêu dùng là thể nhân hay pháp nhân. Hay tại Điều 2 Luật Khung về người tiêu dùng của Hàn Quốc quy định, người tiêu dùng là những ai sử dụng hàng hóa, dịch vụ[2]… Vậy, với cách sử dụng thuật ngữ một cách chung chung “là những ai”, có thể hiểu, pháp luật Hàn Quốc không hạn chế người tiêu dùng chỉ là cá nhân mà có thể bao gồm cả pháp nhân.

Xu hướng thứ hai, người tiêu dùng chỉ là cá nhân: Nhiều nước trên thế giới như Hoa Kỳ, Canada, nhiều quốc gia thuộc Liên minh châu Âu hay một số nước châu Á như Singapore, Philippines… cho rằng, người tiêu dùng chỉ có thể là thể nhân (cá nhân). Chẳng hạn, tại Điều 2 Chỉ thị số 1999/44/EC ngày 25/5/1999 của Nghị viện châu Âu và Hội đồng châu Âu về mua bán hàng hóa tiêu dùng và các bảo đảm có liên quan (Chỉ thị số 1999/44/EC) đã định nghĩa về người tiêu dùng như sau: “Người tiêu dùng được xác định là bất kỳ cá nhân nào thực hiện việc mua hàng theo hợp đồng được quy định bởi Chỉ thị này, thực hiện vì mục tiêu không liên quan đến thương mại, kinh doanh hay nghề nghiệp”[3]. Quy định này đã được các nước thành viên Liên minh châu Âu kế thừa và ghi nhận trong Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng của mình. Hay một ví dụ khác điển hình cho xu hướng này tại châu Á, theo quy định tại Điều 2 Luật Bảo vệ người tiêu dùng năm 2003 của Singapore (sửa đổi, bổ sung năm 2009), người tiêu dùng được định nghĩa như sau: “Người tiêu dùng là cá nhân nhận hoặc có quyền nhận hàng hóa và dịch vụ từ người cung cấp hoặc có nghĩa vụ thanh toán cho người cung cấp đối với hàng hóa, dịch vụ mình đã mua tặng cho cá nhân khác và các hoạt động tiêu dùng đó không nhằm mục đích kinh doanh”[4]. Có thể thấy, cách quy định này thể hiện rằng, pháp luật chỉ hướng tới bảo vệ các cá nhân, với tư cách là bên yếu thế trong mối quan hệ với tổ chức, cá nhân kinh doanh. Xét mối quan hệ giữa một bên là tổ chức với một bên là các tổ chức, cá nhân kinh doanh thì khó có thể cho rằng, tổ chức cũng là bên yếu thế bởi các tổ chức thường có nhiều nguồn lực (cả về nhân lực lẫn nguồn lực tài chính) và có cơ cấu tổ chức chặt chẽ. Do đó, so với các cá nhân thì tổ chức có vị thế và điều kiện tốt hơn, bởi tổ chức không yếu thế về mặt thông tin, hiểu biết, khả năng đàm phán hay khả năng tài chính để được bảo vệ như các cá nhân đơn lẻ. Như vậy, việc coi tổ chức là người tiêu dùng có thể dẫn đến những trường hợp mà mối quan hệ giữa các chủ thể hoàn toàn bình đẳng nhưng vẫn có sự can thiệp và bảo vệ của pháp luật, từ đó dẫn đến thiệt hại cho bên tổ chức, cá nhân kinh doanh, mặc dù họ không lợi dụng sự yếu thế của người mua. Có thể cho rằng, đây là lý do giải thích cho việc phần lớn các quốc gia trên thế giới đều quy định người tiêu dùng chỉ là cá nhân.

1.2. Về căn cứ phát sinh giao dịch tiêu dùng

Theo pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng của các quốc gia trên thế giới, hiện nay, có ba cách thức để xác lập nên quan hệ tiêu dùng, cụ thể:

Thứ nhất, quan hệ tiêu dùng chỉ được xác lập khi người tiêu dùng trực tiếp có hợp đồng với tổ chức, cá nhân kinh doanh. Nói cách khác, người tiêu dùng không bao gồm người sử dụng, thụ hưởng hàng hóa, dịch vụ mà không trực tiếp mua hàng hóa, dịch vụ từ tổ chức, cá nhân kinh doanh. Điển hình cho cách tiếp cận này là Chỉ thị số 1999/44/EC. Có thể nói, cách tiếp cận này đã làm hạn chế phạm vi những chủ thể lẽ ra nên được bảo vệ theo các quy định của pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, trong khi trên thực tế, quyền lợi của những người thụ hưởng hàng hóa, dịch vụ từ người khác thông qua quan hệ tặng cho, thừa kế… bị xâm phạm khá nhiều và nếu pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng không bảo vệ họ thì những chủ thể này khó có cơ hội yêu cầu tổ chức, cá nhân kinh doanh bồi thường cho mình khi có thiệt hại xảy ra. Điều này khiến cho mục đích của pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng chưa thực sự được bảo đảm.

Thứ hai, khái niệm người tiêu dùng được tiếp cận ở phạm vi rộng hơn cách tiếp cận thứ nhất khi bao gồm cả người trực tiếp mua hàng hóa, dịch vụ và người sử dụng, thụ hưởng hàng hóa, dịch vụ đó. Hiện nay, pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng của nhiều nước trên thế giới đang tiếp cận theo cách này khi quy định về khái niệm người tiêu dùng. Có thể nói, cách tiếp cận này toàn diện hơn, đồng thời, góp phần đề cao trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh hơn khi họ phải chịu trách nhiệm về sản phẩm của mình với bất kỳ ai sử dụng hàng hoá, dịch vụ của mình.

Thứ ba, người tiêu dùng bao gồm cả những người không trực tiếp mua hoặc trực tiếp sử dụng hàng hóa, dịch vụ nhưng vẫn chịu ảnh hưởng bởi hành vi quấy rối của tổ chức, cá nhân kinh doanh. Cách tiếp cận này khá đặc biệt và được thể hiện rất rõ trong Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng của Thái Lan, theo đó, người tiêu dùng bao gồm cả người được chào mua hàng hóa, dịch vụ từ một người kinh doanh[5]. Nói cách khác, đây chính là những người tiêu dùng trong tương lai, hay còn gọi là người tiêu dùng tiềm năng. Việc quy định khách hàng tiềm năng cũng là người tiêu dùng là một quy định khá đặc biệt hiện nay khi cách thức chào hàng của nhiều tổ chức, cá nhân kinh doanh đã khiến cho rất nhiều người cảm thấy bản thân đang bị quấy rối và cần được bảo vệ.

1.3. Về mục đích sử dụng hàng hóa, dịch vụ

Hiện nay, đa số các quốc gia đều không chấp nhận các chủ thể thực hiện các giao dịch vì mục đích kinh doanh hay mục đích nghề nghiệp là người tiêu dùng, mà đều cho rằng, cá nhân, tổ chức chỉ được coi là người tiêu dùng khi họ sử dụng hàng hóa, dịch vụ nhằm mục đích tiêu dùng, sinh hoạt. Như vậy, tất cả các hoạt động nhằm mục đích kinh doanh, thương mại đều bị loại bỏ ra khỏi đối tượng xem xét của hành vi tiêu dùng. Điều này là hoàn toàn hợp lý bởi hành vi mua, bán với mục đích thương mại thì sẽ thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật dân sự hoặc pháp luật thương mại.

2. Khái niệm người tiêu dùng theo Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

So với nhiều nước trên thế giới, pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng tại Việt Nam ra đời khá muộn và khái niệm pháp lý về người tiêu dùng lần đầu tiên được đề cập trong Pháp lệnh Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 1999. Sau đó, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 được ban hành thay thế Pháp lệnh, trong đó có nhiều nội dung đã được sửa đổi, bổ sung. Tuy nhiên, khái niệm về người tiêu dùng vẫn được kế thừa như quy định trong Pháp lệnh Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 1999. Theo đó, khoản 1 Điều 3 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 quy định như sau: “Người tiêu dùng là người mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của cá nhân, gia đình, tổ chức”. Như vậy, khi xem xét khái niệm này, có thể thấy, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 cũng có cách quy định gần giống với Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng của nhiều nước trên thế giới khi cũng dựa vào ba yếu tố: (i) Tư cách chủ thể của giao dịch; (ii) Căn cứ phát sinh giao dịch; (iii) Mục đích của giao dịch.

Tuy nhiên, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XV thông qua ngày 20/6/2023, chính thức có hiệu lực vào ngày 01/7/2024 đã sửa đổi, bổ sung nhiều nội dung nhằm bảo đảm tính ổn định cũng như tăng cường bảo vệ người tiêu dùng, theo đó, một số thuật ngữ được giải thích trong Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 đã được thay đổi, như khái niệm người tiêu dùng - khái niệm cốt lõi của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, giúp xác định đối tượng sẽ được bảo vệ của đạo luật này.

Khoản 1 Điều 3 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023 đã định nghĩa: “Người tiêu dùng là người mua, sử dụng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ cho mục đích sinh hoạt, tiêu dùng của cá nhân, gia đình, cơ quan, tổ chức và không vì mục đích thương mại”. Có thể thấy, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023 vẫn xác định người tiêu dùng dựa trên ba yếu tố và quy định trên có những điểm kế thừa, đồng thời có những điểm mới so với Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010. Cụ thể:

2.1. Về tư cách chủ thể

Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023 vẫn xác định người tiêu dùng có thể là cá nhân, gia đình hoặc tổ chức giống quy định tại Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010, đồng thời, bổ sung một chủ thể là cơ quan. Việc mở rộng chủ thể có thể được coi là người tiêu dùng nhằm bảo đảm tất cả các đối tượng tiêu dùng đều được pháp luật bảo vệ chứ không chỉ riêng tổ chức, cá nhân tiêu dùng. Tuy nhiên, theo quan điểm của tác giả, tổ chức gồm doanh nghiệp, cơ quan quản lý nhà nước, hiệp hội ngành nghề, tổ chức xã hội, đoàn thể… Do đó, nội hàm của từ “tổ chức” đã bao gồm cơ quan nên việc bổ sung chủ thể là cơ quan vào định nghĩa người tiêu dùng là không cần thiết.

Việc Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023 quy định người tiêu dùng bao gồm cá nhân, gia đình, cơ quan và tổ chức như trên là điểm khác biệt so với pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng của nhiều nước trên thế giới. Bởi, kinh nghiệm quốc tế cho thấy, đa phần các nước có nền kinh tế phát triển và kinh nghiệm lâu năm trong công tác bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng đều quy định khái niệm người tiêu dùng là cá nhân, không bao gồm tổ chức. Điều này xuất phát từ quan điểm cho rằng, tổ chức có vị thế cân bằng so với bên tổ chức, cá nhân kinh doanh. Ngược lại, cá nhân chịu sự yếu thế về mọi mặt như yếu thế về địa vị pháp lý, tài chính, kiến thức, khả năng đàm phán… Điều này đã được kiểm chứng bởi lý luận cũng như thực tiễn trong các mối quan hệ tiêu dùng từ trước tới nay. Do đó, trong suốt 13 năm thi hành Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010, một số ý kiến cho rằng, việc bảo vệ người tiêu dùng là tổ chức đã làm mất đi ý nghĩa của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng cũng như lãng phí nguồn lực cho chính sách bảo vệ người tiêu dùng. Tuy nhiên, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023 vẫn giữ nguyên quan điểm này khi cho rằng, tổ chức vẫn là đối tượng cần được bảo vệ khi tham gia vào quan hệ tiêu dùng.

2.2. Về căn cứ phát sinh quan hệ tiêu dùng

Đây là cơ sở quan trọng để xác định những chủ thể nêu trên có trở thành người tiêu dùng được bảo vệ theo quy định của pháp luật hay không. Kế thừa Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023 vẫn xác định người tiêu dùng là người mua, sử dụng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ. Tuy nhiên, trong định nghĩa này lại sử dụng dấu phẩy giữa hai từ “mua” và “sử dụng”, điều này làm đặt ra một câu hỏi là dấu phẩy ở đây mang nghĩa là “và” (thể hiện ý nghĩa đồng thời) hay là “hoặc” (thể hiện ý nghĩa lựa chọn)? Tức là, để một chủ thể được coi là người tiêu dùng thì chủ thể đó phải vừa là người mua (trực tiếp có quan hệ hợp đồng với tổ chức, cá nhân kinh doanh), đồng thời, vừa là người trực tiếp sử dụng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ đó. Hay pháp luật thừa nhận chủ thể chỉ cần là người mua (không sử dụng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ) hoặc chỉ cần là người sử dụng (không trực tiếp có quan hệ hợp đồng với tổ chức, cá nhân kinh doanh) đều được coi là người tiêu dùng? Có thể nói, cách định nghĩa này chưa thực sự rõ ràng và có thể trở thành tiền đề gây tranh luận trong các vụ việc tranh chấp xảy ra giữa người tiêu dùng với tổ chức, cá nhân kinh doanh, gây khó khăn cho cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền trong xử lý vụ việc.

Tuy nhiên, trên thực tế, cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng đang áp dụng cách hiểu người tiêu dùng bao gồm cả ba chủ thể sau: (i) Người trực tiếp có quan hệ hợp đồng với tổ chức, cá nhân kinh doanh; (ii) Người trực tiếp sử dụng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ do tổ chức, cá nhân kinh doanh cung cấp; (iii) Người vừa trực tiếp có quan hệ hợp đồng với tổ chức, cá nhân kinh doanh, đồng thời vừa là người sử dụng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ đó. Cách quy định này cũng tương đồng với đa số các quốc gia trên thế giới.

So sánh với Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010, quy định này vẫn có điểm khác biệt ở chỗ, chủ thể có thể là người tiêu dùng khi mua, sử dụng “sản phẩm” của tổ chức, cá nhân kinh doanh. Theo đó, sản phẩm được hiểu là những thứ chưa được đưa vào lưu thông trên thị trường để trao đổi, mua bán, do đó chưa trở thành hàng hóa. Tuy nhiên, trên thực tế, có những sản phẩm mới chỉ được sản xuất, chưa đưa vào lưu thông nhưng vẫn có khả năng gây thiệt hại tính mạng, sức khỏe hay tài sản cho người sử dụng. Chẳng hạn như, người sử dụng sản phẩm đang thử nghiệm mà phát hiện sản phẩm đó có khuyết tật thì tổ chức, cá nhân kinh doanh vẫn phải thu hồi và bồi thường thiệt hại do sản phẩm có khuyết tật gây ra (nếu có) theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023. Qua đó, có thể thấy, cách quy định mới này mang tính chất bao quát và bảo vệ được người tiêu dùng một cách triệt để hơn so với quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010.

2.3. Về mục đích sử dụng hàng hóa, dịch vụ

Kế thừa quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023 xác định chủ thể chỉ có thể là người tiêu dùng khi mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ nhằm mục đích sinh hoạt, tiêu dùng của cá nhân, gia đình, tổ chức, đồng thời nhấn mạnh “và không vì mục đích thương mại” để loại trừ những giao dịch nhằm đạt được cả hai mục đích là vừa tiêu dùng, vừa kinh doanh kiếm lời.

Tuy nhiên, cần làm rõ yếu tố “mục đích sinh hoạt, tiêu dùng của cá nhân, gia đình, tổ chức” là gì, bởi khái niệm này không được giải thích trong Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 và Nghị định số 99/2011/NĐ-CP ngày 27/10/2011 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010, cũng như trong Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023. Có thể nói, mục đích sinh hoạt, tiêu dùng của cá nhân, gia đình có thể dễ dàng xác định, bởi để được coi là người tiêu dùng thì người mua, sử dụng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ phải vì mục đích sinh hoạt, tiêu dùng thường ngày chứ không phải nhằm mục đích sinh lời như mua để bán lại. Ngược lại, mục đích sinh hoạt, tiêu dùng của tổ chức lại là vấn đề còn gây nhiều quan điểm khác nhau. Trong đó, nhiều ý kiến cho rằng, việc xác định một tổ chức mua một loại hàng hóa hay sử dụng một loại dịch vụ vì mục đích tiêu dùng hay mục đích thương mại còn gặp nhiều khó khăn. Như vậy, có thể nói, việc pháp luật không có quy định giải thích rõ ràng về yếu tố mục đích sinh hoạt, tiêu dùng của từng chủ thể và đặc biệt là “mục đích sinh hoạt, tiêu dùng của tổ chức” là một điểm bất cập, dẫn đến chưa có sự thống nhất trong việc áp dụng pháp luật trên thực tế.

3. Một số kiến nghị

Thứ nhất, với những phân tích ở phần trên, theo tác giả, chỉ nên quy định người tiêu dùng là cá nhân giống với cách quy định của đa số các quốc gia trên thế giới.

Thứ hai, mặc dù Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023 đã có các quy định để bảo vệ quyền lợi của những người chưa mua hay sử dụng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ của tổ chức, cá nhân kinh doanh (người tiêu dùng tiềm năng) ngay từ giai đoạn trước khi thực hiện giao dịch với tổ chức, cá nhân kinh doanh, tuy nhiên, theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023 thì những chủ thể này lại chưa được coi là người tiêu dùng. Trong khi đó, trên thực tế, việc những người tiêu dùng tiềm năng này bị quấy rối thông qua các hành vi như tiếp thị, quảng cáo… của tổ chức, cá nhân kinh doanh đã và đang diễn ra phổ biến. Do đó, để bảo đảm phát huy vai trò của pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng một cách tối đa, tác giả đề xuất nên bổ sung chủ thể là người tiêu dùng tiềm năng vào quy định khái niệm người tiêu dùng.

Thứ ba, về căn cứ phát sinh quan hệ tiêu dùng, nên xác định rõ chủ thể được coi là người tiêu dùng khi người đó mua hoặc sử dụng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ. Tức là, thay vì sử dụng dấu phẩy giữa hai động từ “mua” và “sử dụng” như trong khái niệm người tiêu dùng hiện tại thì nên sử dụng từ “hoặc” để giúp phân định rõ chủ thể được coi là người tiêu dùng là người mua hoặc người sử dụng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ. Điều này sẽ giúp tránh được những quan điểm khác nhau khi áp dụng pháp luật để xử lý các vụ việc liên quan tới lĩnh vực bảo vệ người tiêu dùng trên thực tiễn.

Thứ tư, để tránh việc có những cách hiểu khác nhau về định nghĩa người tiêu dùng, cần có quy định hướng dẫn chi tiết như thế nào là mục đích sinh hoạt, tiêu dùng của từng chủ thể cá nhân, gia đình và tổ chức. Trong đó, đặc biệt chú trọng giải thích mục đích sinh hoạt, tiêu dùng của tổ chức, bởi như đã phân tích ở trên, đây là yếu tố khá khó để có thể xác định và hiện vẫn còn nhiều ý kiến trái chiều xung quanh vấn đề này./.

ThS. Nguyễn Thị Việt Hà

Khoa Pháp luật Kinh tế, Trường Đại học Luật Hà Nội

[1]. David D. Pearce, Từ điển Kinh tế học hiện đại (1999), Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 193.

[2]. https://elaw.klri.re.kr/eng_service/lawView.do?hseq=45955&lang=ENG.

[3]. https://eur-lex.europa.eu/legal-content/EN/TXT/?uri=celex%3A31999L0044.

[4]. https://sso.agc.gov.sg/Act/CPFTA2003.

[5]. https://unilaw.vn/binh-luan-an/nguoi-tieu-dung-luat-bao-ve-nguoi-tieu-dung.html.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 2 (Số 401), tháng 3/2024)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.

Theo dõi chúng tôi trên: