Abstract: In the context of promoting judicial reform and strengthening human rights protection in criminal proceedings, completing regulations on initiation of prosecution and interrogation of suspects is an urgent requirement. This study analyzes several obstacles and inadequacies in current criminal procedure law regulations related to the jurisdiction and timing of prosecution; the relationship between the prosecution decision and the initial interrogation; the mechanism for summoning and extracting suspects; and its practical implementation. From this, the study identifies some limitations in legislative techniques and mechanisms for controlling procedural power, and proposes solutions to improve criminal procedure law by clearly defining the jurisdiction and timing of prosecution, standardizing the interrogation process, and strengthening institutions that guarantee human rights, thereby enhancing the fairness, transparency, and effectiveness of criminal proceedings.
Đặt vấn đề
Pháp luật tố tụng hình sự là công cụ pháp lý trực tiếp điều chỉnh hoạt động buộc tội của Nhà nước. Trong đó, khởi tố bị can và hỏi cung bị can giữ vị trí đặc biệt quan trọng, vừa xác lập địa vị tố tụng hình sự của người bị buộc tội, vừa chi phối toàn bộ quá trình điều tra và các giai đoạn tố tụng tiếp theo. Tính hợp pháp, chặt chẽ và đúng đắn của hai thủ tục này có ý nghĩa quyết định đối với hiệu quả giải quyết vụ án hình sự, đồng thời là thước đo quan trọng phản ánh mức độ bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự.
Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng pháp luật tố tụng hình sự cho thấy, các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can còn một số vướng mắc, bất cập, đặc biệt, liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố, mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với việc tiến hành hỏi cung lần đầu, cũng như cơ chế triệu tập, trích xuất bị can. Điều này không chỉ gây khó khăn trong quá trình áp dụng pháp luật tố tụng hình sự, mà còn tiềm ẩn nguy cơ xâm phạm quyền bào chữa và các quyền tố tụng cơ bản khác của bị can.
Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp, tăng cường bảo đảm quyền con người, việc nghiên cứu, đánh giá một cách toàn diện và hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết, cả về phương diện lý luận cũng như thực tiễn.
1. Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can
Mặc dù pháp luật tố tụng hình sự hiện hành đã thiết lập khuôn khổ pháp lý tương đối đầy đủ về khởi tố bị can, hỏi cung bị can, song thực tiễn áp dụng bộc lộ một số vướng mắc, bất cập cả về quy định pháp luật và tổ chức thực hiện, làm suy giảm tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật tố tụng hình sự, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả tố tụng hình sự, đặc biệt, trong bảo đảm quyền con người. Cụ thể:
1.1. Về khởi tố bị can
Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung các năm 2021, 2024, 2025 (Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015) đã thiết lập khuôn khổ pháp lý tương đối chặt chẽ điều chỉnh hoạt động khởi tố bị can. Khoản 1 Điều 179 Bộ luật này xác lập nguyên tắc chỉ được khởi tố bị can khi có đủ căn cứ xác định một người đã thực hiện hành vi phạm tội, qua đó, bảo đảm tính có căn cứ của hoạt động buộc tội và hạn chế nguy cơ khởi tố tùy tiện. Đồng thời, khoản 3 và khoản 4 Điều 179 Bộ luật này thiết lập cơ chế kiểm sát của Viện kiểm sát thông qua thẩm quyền phê chuẩn quyết định khởi tố bị can và quyền yêu cầu khởi tố khi phát hiện dấu hiệu bỏ lọt tội phạm. Tuy nhiên, các quy định về khởi tố bị can còn một số vướng mắc, bất cập sau:
Thứ nhất, bất cập trong thiết kế và xác định thẩm quyền khởi tố bị can.
Điều 179 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 chủ yếu quy định thẩm quyền của cơ quan điều tra và Viện kiểm sát, trong khi điểm b khoản 2 Điều 39 Bộ luật này đồng thời trao thẩm quyền khởi tố bị can cho các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra (như bộ đội biên phòng, hải quan, kiểm lâm, lực lượng cảnh sát biển, kiểm ngư) trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn được giao. Quy định này dẫn đến cách hiểu không thống nhất trong áp dụng pháp luật tố tụng hình sự. Trên thực tế, các cơ quan trên thường là chủ thể đầu tiên tiếp cận thông tin về tội phạm, trực tiếp phát hiện hành vi phạm tội, xử lý các trường hợp phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng và áp dụng các biện pháp ngăn chặn ban đầu. Tuy nhiên, do thẩm quyền khởi tố bị can của các chủ thể này không được quy định rõ và tập trung trong Điều 179 Bộ luật này, nên thực tiễn áp dụng pháp luật, nhiều trường hợp vẫn phải chuyển hồ sơ cho cơ quan điều tra chuyên trách để ban hành quyết định khởi tố bị can, dẫn đến kéo dài thời gian xử lý, ảnh hưởng đến tính kịp thời, hiệu quả của hoạt động tố tụng hình sự.
Thứ hai, bất cập về thẩm quyền thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố bị can.
Điều 180 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 chỉ quy định thẩm quyền thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố bị can của cơ quan điều tra và Viện kiểm sát. Tuy nhiên, khi xem xét quy định này trong mối liên hệ với các quy định khác của Bộ luật cho thấy sự thiếu thống nhất trong thiết kế pháp luật tố tụng hình sự hiện hành. Cụ thể, theo Điều 164 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có thẩm quyền khởi tố và tiến hành điều tra vụ án hình sự trong phạm vi được giao; đồng thời, Điều 179 Bộ luật này cũng thừa nhận thẩm quyền của các chủ thể này trong việc ra quyết định khởi tố bị can khi có đủ căn cứ pháp luật[1]. Xét trên phương diện logic pháp lý và yêu cầu bảo đảm tính đồng bộ của hệ thống pháp luật tố tụng hình sự, khi các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có thẩm quyền khởi tố bị can, về nguyên tắc, các chủ thể này cần được thừa nhận thẩm quyền tương ứng trong thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can khi xuất hiện các căn cứ pháp lý mới. Tuy nhiên, Điều 180 Bộ luật này chưa quy định rõ vấn đề này, có thể dẫn đến lúng túng trong thực tiễn áp dụng, làm gián đoạn tiến trình tố tụng hình sự, ảnh hưởng đến tính kịp thời, hiệu quả của hoạt động điều tra.
Thứ ba, hạn chế về tính hệ thống và kỹ thuật lập pháp.
Các quy định về khởi tố bị can hiện còn phân tán ở nhiều điều luật, thiếu sự liên kết nội tại và cấu trúc logic thống nhất, dẫn đến nguy cơ nhận thức và áp dụng không đồng bộ. Đồng thời, cơ chế điều chỉnh các quyết định khởi tố (thay đổi, bổ sung, hủy bỏ) chưa được thiết kế tương thích với hệ thống chủ thể tiến hành tố tụng hình sự. Mối quan hệ giữa các quy định tại Điều 179, Điều 180 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 với các quy định về địa vị pháp lý và thẩm quyền của các chủ thể tại Điều 35, Điều 39 Bộ luật này chưa được xây dựng thống nhất.
1.2. Về hỏi cung bị can
Hỏi cung bị can là biện pháp điều tra được tiến hành theo trình tự, thủ tục tố tụng hình sự, do các chủ thể có thẩm quyền tiến hành nhằm phát hiện, thu thập tài liệu, chứng cứ[2] , góp phần làm sáng tỏ sự thật khách quan, xác định có hay không có hành vi phạm tội và giải quyết các vấn đề cần chứng minh theo quy định của pháp luật nhằm bảo đảm quyền con người của bị can[3]. Trên cơ sở các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, thời gian qua, hoạt động hỏi cung bị can được triển khai tương đối hiệu quả, nhưng thực tiễn áp dụng còn một số vướng mắc, bất cập sau:
Thứ nhất, bất cập trong xác định chủ thể có thẩm quyền hỏi cung bị can.
Nghiên cứu cho thấy, một số quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 liên quan đến thẩm quyền hỏi cung bị can chưa thực sự thống nhất, có thể dẫn đến những cách hiểu và áp dụng khác nhau trong thực tiễn. Khoản 1 Điều 183 Bộ luật này quy định: “Việc hỏi cung bị can do Điều tra viên tiến hành ngay sau khi có quyết định khởi tố bị can”; đồng thời, khoản 4 Điều này quy định: “Kiểm sát viên hỏi cung bị can trong trường hợp bị can kêu oan, khiếu nại hoạt động điều tra hoặc có căn cứ xác định việc điều tra vi phạm pháp luật hoặc trong trường hợp khác khi xét thấy cần thiết”. Nếu chỉ tiếp cận các quy định này theo nghĩa hẹp, có thể dẫn đến cách hiểu chỉ điều tra viên và kiểm sát viên mới là những chủ thể có thẩm quyền tiến hành hỏi cung bị can.
Tuy nhiên, cách hiểu trên chưa phản ánh đầy đủ tinh thần và cấu trúc thẩm quyền của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Theo Điều 35 và Điều 39 Bộ luật này, một số cơ quan như bộ đội biên phòng, hải quan, kiểm lâm, lực lượng cảnh sát biển, kiểm ngư được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra và được xác định là chủ thể tiến hành tố tụng hình sự trong phạm vi thẩm quyền luật định. Do đó, trong những vụ án hình sự ít nghiêm trọng, trường hợp phạm tội quả tang hoặc khi hành vi phạm tội, chứng cứ và nhân thân người phạm tội đã được xác định rõ, các cơ quan này có thẩm quyền trực tiếp tiến hành hỏi cung bị can phù hợp với chức năng, nhiệm vụ được giao. Thực tiễn điều tra, truy tố và xét xử cho thấy, việc thừa nhận thẩm quyền hỏi cung bị can của các chủ thể này không chỉ phù hợp với quy định pháp luật tố tụng hình sự, mà còn góp phần bảo đảm kịp thời, hiệu quả của hoạt động phát hiện và xử lý tội phạm, đặc biệt, tại các địa bàn biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa - nơi điều kiện tiếp cận của cơ quan điều tra chuyên trách gặp nhiều hạn chế.
Thứ hai, bất cập về thời điểm tiến hành hỏi cung bị can.
Bên cạnh vấn đề về thẩm quyền, pháp luật tố tụng hình sự còn đặt ra yêu cầu cần làm rõ thời điểm tiến hành hỏi cung bị can, đặc biệt, trong mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can của cơ quan điều tra và cơ chế phê chuẩn của Viện kiểm sát. Khoản 3 Điều 179 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 trao cho Viện kiểm sát quyền phê chuẩn, hủy bỏ hoặc yêu cầu bổ sung chứng cứ, tài liệu đối với quyết định khởi tố bị can, qua đó, thực hiện chức năng kiểm sát nhằm bảo đảm việc truy cứu trách nhiệm hình sự có căn cứ, đúng pháp luật và phòng ngừa oan, sai. Tuy nhiên, trong khi Điều 179 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 cho phép Viện kiểm sát xem xét lại quyết định khởi tố bị can, thì khoản 1 và khoản 2 Điều 183 Bộ luật này yêu cầu điều tra viên phải tiến hành hỏi cung bị can ngay sau khi có quyết định khởi tố bị can, đồng thời, giải thích đầy đủ quyền, nghĩa vụ tố tụng của bị can theo Điều 60 Bộ luật này và được ghi vào biên bản[4]. Về nguyên tắc, tư cách bị can phát sinh kể từ thời điểm ban hành quyết định khởi tố; việc phê chuẩn của Viện kiểm sát chỉ mang tính kiểm sát hợp pháp, không phải điều kiện xác lập tư cách tố tụng. Tuy nhiên, cùng với yêu cầu hỏi cung ngay và quyền hủy bỏ hoặc yêu cầu bổ sung chứng cứ của Viện kiểm sát cho thấy sự thiếu hợp lý về thời điểm áp dụng[5]. Thực tiễn cho thấy, trong trường hợp quyết định khởi tố chưa được phê chuẩn hoặc bị hủy bỏ, việc đã tiến hành hỏi cung có thể làm phát sinh tranh luận về tính hợp pháp của hoạt động tố tụng và giá trị chứng cứ thu thập được. Vì vậy, vấn đề cốt lõi không nằm ở xác lập tư cách bị can, mà ở sự thiếu thống nhất trong quy định và hướng dẫn về thời điểm hỏi cung lần đầu khi quyết định khởi tố bị can đang được Viện kiểm sát xem xét. Sự thiếu rõ ràng này phản ánh mâu thuẫn tiềm ẩn giữa yêu cầu bảo đảm tính kịp thời của hoạt động điều tra theo Điều 183 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và việc tuân thủ cơ chế kiểm sát theo Điều 179 Bộ luật này, qua đó, tạo khoảng trống pháp lý, ảnh hưởng đến tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả của hoạt động điều tra, đồng thời, tiềm ẩn nguy cơ xâm hại quyền của bị can[6].
Thứ ba, bất cập trong cơ chế triệu tập và trích xuất bị can phục vụ hỏi cung.
Liên quan đến hoạt động hỏi cung bị can, các quy định về triệu tập và trích xuất bị can, đặc biệt, trong trường hợp bị can đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam, còn bất cập cả về kỹ thuật lập pháp lẫn tính khả thi trong thực tiễn áp dụng. Theo Điều 182 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, thẩm quyền triệu tập bị can được hiểu chủ yếu thuộc về điều tra viên và kiểm sát viên. Quy định này chưa thực sự thống nhất với Điều 35 và Điều 39 Bộ luật này, đồng thời, chưa phản ánh đầy đủ thực tiễn tố tụng hình sự. Trong các vụ án hình sự ít nghiêm trọng hoặc trường hợp phạm tội quả tang, khi chứng cứ và nhân thân người phạm tội đã rõ ràng, những người được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra tại các cơ quan chuyên trách như bộ đội biên phòng, hải quan, kiểm lâm, lực lượng cảnh sát biển, kiểm ngư, trên thực tế cũng thực hiện việc triệu tập bị can. Việc hiểu và áp dụng Điều 182 Bộ luật này theo hướng cứng nhắc có thể làm hạn chế năng lực điều tra, ảnh hưởng đến tính kịp thời, hiệu quả của hoạt động tố tụng hình sự.
Bên cạnh đó, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 chưa quy định trực tiếp về trích xuất bị can đang bị tạm giam, trong khi đây là hoạt động thường xuyên nhằm phục vụ hỏi cung bị can. Thực tiễn áp dụng hiện chủ yếu dựa vào Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam năm 2015 và các văn bản hướng dẫn, đặc biệt là Thông tư số 119/2021/TT-BCA ngày 08/12/2021 của Bộ trưởng Bộ Công an quy định biểu mẫu, giấy tờ, sổ sách về điều tra hình sự (Thông tư số 119/2021/TT-BCA) quy định về lệnh trích xuất và áp giải theo biểu mẫu số 200. Khoản 1 Điều 20 Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam năm 2015 xác lập nguyên tắc “việc trích xuất người bị tạm giữ, người bị tạm giam chỉ được thực hiện khi có lệnh trích xuất của người có thẩm quyền theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, Luật Thi hành án hình sự và Luật này, trong trường hợp để phục vụ cho hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án…”. Sự thiếu thống nhất và phân tán giữa các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam năm 2015 và văn bản hướng dẫn đã gây ra những lúng túng trong thực tiễn hỏi cung bị can.
Thứ tư, hạn chế về tính hệ thống và kỹ thuật lập pháp.
Các quy định về hỏi cung bị can hiện thiếu tính đồng bộ và liên kết nội tại, thể hiện ở sự chưa thống nhất giữa các điều khoản trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, cũng như giữa Bộ luật này với các văn bản pháp luật có liên quan. Bên cạnh đó, phạm vi chủ thể có thẩm quyền và cơ chế pháp lý điều chỉnh các hoạt động liên quan như triệu tập, trích xuất bị can chưa được xác định đầy đủ, rõ ràng. Những hạn chế này làm suy giảm hiệu lực điều chỉnh của pháp luật.
2. Một số kiến nghị, đề xuất
Từ những vướng mắc, bất cập như đã phân tích, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện một số quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can như sau[7]:
2.1. Sửa đổi, bổ sung quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can
Trên cơ sở những vướng mắc, bất cập như đã phân tích, việc sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can là cần thiết nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch của hệ thống pháp luật và nâng cao hiệu quả hoạt động tố tụng hình sự.
Thứ nhất, sửa đổi, bổ sung Điều 179 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 theo hướng tập trung hóa và quy định rõ thẩm quyền khởi tố bị can. Cụ thể:
- Ghi nhận rõ thẩm quyền khởi tố bị can của các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, bảo đảm sự thống nhất và tương thích với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
- Thiết lập cơ chế chuyển giao bắt buộc hồ sơ cho cơ quan điều tra chuyên trách khi vụ án phát sinh tình tiết phức tạp hoặc vượt quá phạm vi thẩm quyền ban đầu, qua đó, bảo đảm tính tập trung, chuyên sâu và thống nhất của hoạt động điều tra.
- Quy định cụ thể trách nhiệm thông báo và chế độ kiểm sát của Viện kiểm sát đối với việc ban hành và thực hiện quyết định khởi tố bị can, nhằm tăng cường cơ chế kiểm soát quyền lực và bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp trong tố tụng hình sự.
Cách tiếp cận này cho phép dung hòa ba yêu cầu có tính nguyên tắc của tố tụng hình sự hiện đại: (i) bảo đảm tính hợp lý về kỹ thuật lập pháp thông qua việc thống nhất hóa các quy định hiện hành đang bị phân tán; (ii) nâng cao tính khả thi và hiệu quả áp dụng pháp luật trong thực tiễn, đặc biệt, ở giai đoạn tố tụng hình sự ban đầu; (iii) bảo đảm tốt hơn các quyền và lợi ích hợp pháp của người bị khởi tố, phù hợp với yêu cầu cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Thứ hai, sửa đổi, bổ sung Điều 180 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 theo hướng thiết lập nguyên tắc thống nhất về thẩm quyền thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can.
Điều 180 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 chưa quy định rõ nguyên tắc xác định chủ thể có quyền thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can. Trong bối cảnh nhiều cơ quan cùng tham gia vào hoạt động điều tra ban đầu và khởi tố, sự thiếu rõ ràng này có thể dẫn đến tình trạng lúng túng trong thực tiễn, thậm chí xung đột thẩm quyền khi phát sinh tình tiết mới hoặc phát hiện thêm tội danh. Từ góc độ lý luận về tính nhất quán thẩm quyền trong khoa học tổ chức hoạt động tư pháp, chủ thể ra quyết định khởi tố ban đầu phải là chủ thể đương nhiên có khả năng tốt nhất để đánh giá sự thay đổi của các tình tiết vụ án hình sự. Điều này vừa bảo đảm tính logic của hoạt động tố tụng hình sự, vừa tránh được sự gián đoạn trong quá trình đánh giá chứng cứ và xác định sự thật khách quan của vụ án hình sự. Do đó, cần sửa đổi, bổ sung Điều 180 Bộ luật này theo hướng:
- Xác lập nguyên tắc thẩm quyền thống nhất: cơ quan nào có thẩm quyền khởi tố bị can thì có quyền thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can. Nguyên tắc này phù hợp với cấu trúc tố tụng hình sự hiện đại và hạn chế nguy cơ giải thích pháp luật tùy tiện.
- Quy định bắt buộc thông báo ngay cho Viện kiểm sát về mọi quyết định thay đổi hoặc bổ sung khởi tố bị can, nhằm củng cố cơ chế kiểm sát tính hợp pháp của hoạt động tố tụng hình sự và tránh bỏ lọt tội phạm hoặc làm oan người vô tội.
- Làm rõ cơ chế chuyển giao thẩm quyền tố tụng hình sự khi việc bổ sung hoặc thay đổi tội danh dẫn đến thay đổi thẩm quyền điều tra theo cấp hoặc theo loại tội phạm. Các kiến nghị sửa đổi, bổ sung này không chỉ có giá trị về mặt lập pháp, mà còn mang ý nghĩa thực chứng, góp phần tạo môi trường tố tụng hình sự minh bạch, nhất quán và dựa trên bằng chứng, phù hợp với định hướng cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
2.2. Sửa đổi, bổ sung quy định của pháp luật tố tụng hình sự về hỏi cung bị can
Trên cơ sở những hạn chế đã phân tích trong quy định và thực tiễn áp dụng hoạt động hỏi cung bị can, cần hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng nâng cao chất lượng kỹ thuật lập pháp, xác định đầy đủ, rõ ràng thẩm quyền và làm rõ thời điểm tiến hành hỏi cung, đồng thời, bảo đảm hiệu quả cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng.
Thứ nhất, sửa đổi, bổ sung Điều 183 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 theo hướng ghi nhận đầy đủ thẩm quyền hỏi cung bị can.
Điều 183 Bộ luật này chỉ quy định thẩm quyền hỏi cung bị can cho điều tra viên của cơ quan điều tra và kiểm sát viên của Viện kiểm sát. Tuy nhiên, trong thực tiễn, các cơ quan như bộ đội biên phòng, hải quan, kiểm lâm, lực lượng cảnh sát biển, kiểm ngư thường là những chủ thể đầu tiên tiếp cận hiện trường, phát hiện hành vi phạm tội quả tang, thu giữ chứng cứ và lập hồ sơ ban đầu. Việc không được trao thẩm quyền hỏi cung làm cho các lực lượng này phải chờ cơ quan điều tra chuyên trách, dẫn đến chậm trễ trong quá trình ghi nhận lời khai, làm giảm tính kịp thời và hiệu quả của hoạt động tố tụng hình sự. Do đó, cần sửa đổi, bổ sung Điều 183 Bộ luật này theo hướng:
- Ghi nhận thẩm quyền hỏi cung bị can cho Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng và cán bộ điều tra của các cơ quan như bộ đội biên phòng, hải quan, kiểm lâm, lực lượng cảnh sát biển, kiểm ngư trong phạm vi nhiệm vụ được giao, nhằm bảo đảm khả năng thực hiện kịp thời các hoạt động tố tụng hình sự ban đầu.
- Quy định cơ chế kiểm sát và giám sát: mọi hoạt động hỏi cung bị can phải được ghi âm, ghi hình và thông báo kịp thời cho Viện kiểm sát để bảo đảm việc thực hiện theo đúng nguyên tắc pháp quyền, bảo vệ quyền con người và quyền tố tụng của bị can.
- Xác định phạm vi và điều kiện áp dụng thẩm quyền: hạn chế áp dụng trong các vụ án hình sự điển hình, tội phạm ít nghiêm trọng hoặc phạm tội quả tang, nơi thông tin nhân thân và chứng cứ cơ bản đã rõ ràng, nhằm tránh vượt thẩm quyền hoặc chồng chéo với cơ quan điều tra chuyên trách.
Việc sửa đổi, bổ sung này không chỉ bảo đảm tính hợp lý, thống nhất trong phân công thẩm quyền, mà còn phù hợp với nguyên tắc pháp lý cơ bản về tính liên tục và hợp lý trong hoạt động tố tụng hình sự.
Thứ hai, sửa đổi, bổ sung Điều 182 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 theo hướng ghi nhận đầy đủ thẩm quyền triệu tập bị can.
Hiện, quyền triệu tập bị can chủ yếu thuộc về cơ quan điều tra, chưa phản ánh đúng thực tiễn nghiệp vụ của các lực lượng được giao tiến hành một số hoạt động điều tra. Nhiều vụ việc cho thấy, bộ đội biên phòng, hải quan, kiểm lâm, lực lượng cảnh sát biển, kiểm ngư là chủ thể lập hồ sơ ban đầu và cần triệu tập bị can để làm rõ tình tiết nhưng không được pháp luật trao quyền, dẫn đến kéo dài thời gian xử lý vụ án hình sự. Do đó, cần quy định thẩm quyền triệu tập bị can cho cấp trưởng, cấp phó của các cơ quan trên trong các trường hợp: tội phạm ít nghiêm trọng, phạm tội quả tang hoặc khi nhân thân và chứng cứ đã rõ ràng. Đồng thời, phải quy định cơ chế phối hợp với cơ quan điều tra và Viện kiểm sát để bảo đảm tính hợp pháp, minh bạch, thống nhất trong quá trình triệu tập bị can.
Thứ ba, sửa đổi, bổ sung Điều 183 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 theo hướng làm rõ thời điểm tiến hành hỏi cung lần đầu đối với bị can. Theo đó, bổ sung một khoản trong Điều 183 Bộ luật này với nội dung: “Việc hỏi cung bị can lần đầu chỉ được thực hiện sau khi quyết định khởi tố bị can đã được Viện kiểm sát nhân dân phê chuẩn theo quy định tại Điều 179 của Bộ luật này, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”. Đồng thời, cần quy định rõ hệ quả pháp lý đối với lời khai và chứng cứ thu thập trong trường hợp quyết định khởi tố bị can không được phê chuẩn hoặc bị hủy bỏ. Việc hoàn thiện quy định theo hướng này sẽ góp phần khắc phục khoảng trống pháp lý, bảo đảm tính hợp pháp và minh bạch của hoạt động điều tra, đồng thời, tăng cường bảo vệ quyền của người bị buộc tội trong tố tụng hình sự.
Thứ tư, bổ sung quy định về trích xuất bị can.
Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 chưa thiết lập cơ chế pháp lý thống nhất, trực tiếp điều chỉnh hoạt động trích xuất bị can trong toàn bộ các giai đoạn của tố tụng hình sự. Trên thực tiễn, nhu cầu trích xuất bị can không chỉ phát sinh trong giai đoạn điều tra, mà còn xuất hiện ở các giai đoạn truy tố, xét xử và thi hành án. Việc thiếu quy định mang tính hệ thống trong Bộ luật này đã và đang gây ra những khó khăn nhất định trong tổ chức thực hiện, đồng thời, tiềm ẩn nguy cơ chồng lấn hoặc không rõ ràng về thẩm quyền giữa các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự.
Xét về mặt pháp lý, mặc dù Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 chưa có quy định cụ thể về trích xuất, song Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam năm 2015 đã xác lập nguyên tắc: việc trích xuất người đang bị tạm giữ, tạm giam chỉ được thực hiện khi có lệnh trích xuất của người có thẩm quyền theo Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017, 2021, 2024, 2025), Luật Thi hành án hình sự năm 2019 và Luật này. Bên cạnh đó, Thông tư số 119/2021/TT-BCA đã ban hành mẫu lệnh trích xuất, cho thấy hoạt động này trên thực tế vẫn đang được triển khai, song chủ yếu dựa vào các quy định phân tán và văn bản dưới luật. Cách tiếp cận này chưa bảo đảm đầy đủ yêu cầu về tính minh bạch, thống nhất và thứ bậc hiệu lực của hệ thống pháp luật.
Từ góc độ lập pháp, việc bổ sung quy định về trích xuất bị can trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 là cần thiết, song phải được thực hiện trên cơ sở tôn trọng cấu trúc thẩm quyền tố tụng hình sự hiện hành và phân định rõ theo từng giai đoạn tố tụng hình sự, nhằm tránh mở rộng thẩm quyền một cách dàn trải. Theo đó, có thể xác định thẩm quyền trích xuất bị can như sau: trong giai đoạn điều tra, thẩm quyền này thuộc về Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng cơ quan điều tra; trong giai đoạn truy tố, thuộc về Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát; trong giai đoạn xét xử, việc trích xuất bị can phục vụ hoạt động xét xử, tham gia phiên tòa hoặc thực hiện các hoạt động tố tụng khác cần được giao cho Chánh án, Phó Chánh án Tòa án hoặc Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, phù hợp với chức năng xét xử và nguyên tắc độc lập tư pháp. Đồng thời, quy định về trích xuất bị can cần được thiết kế kèm theo cơ chế phối hợp liên ngành, trong đó, xác định rõ trình tự, thủ tục, trách nhiệm thông báo giữa các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự, cũng như chế độ kiểm sát của Viện kiểm sát đối với việc ban hành và thực hiện lệnh trích xuất. Cách tiếp cận này không chỉ góp phần bảo đảm tính hợp pháp, minh bạch và kiểm soát quyền lực nhà nước trong tố tụng hình sự, mà còn hạn chế nguy cơ xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của bị can.
Như vậy, việc sửa đổi, bổ sung Điều 182 và Điều 183 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, đồng thời, thiết lập quy định riêng về trích xuất bị can, có ý nghĩa quan trọng trong hoàn thiện cơ chế pháp lý về hỏi cung bị can, quản lý và bảo đảm sự tham gia tố tụng hình sự của bị can. Đây là giải pháp nhằm tăng cường tính thống nhất, hợp lý, khả thi của hệ thống pháp luật tố tụng hình sự, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Kết luận
Nghiên cứu cho thấy, các quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can còn một số vướng mắc, bất cập nhất định, đặc biệt, trong phân định thẩm quyền, sự thiếu thống nhất giữa các văn bản pháp luật và thiếu cơ chế trích xuất bị can được chuẩn hóa, qua đó, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả điều tra cũng như bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự. Trên cơ sở phân tích lý luận và thực tiễn áp dụng pháp luật tố tụng hình sự, nghiên cứu đề xuất sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện quy định của pháp luật tố tụng hình sự theo ba hướng: mở rộng và xác định rõ thẩm quyền khởi tố bị can, thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can cho các lực lượng chuyên trách; hoàn thiện quy định về triệu tập bị can; xây dựng cơ chế pháp lý đầy đủ về trích xuất bị can với quy trình phối hợp liên ngành minh bạch, thống nhất. Các đề xuất này không chỉ góp phần tăng cường tính đồng bộ và hiệu quả của hệ thống tố tụng hình sự, mà còn củng cố mức độ bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị can, tạo nền tảng khoa học quan trọng cho tiến trình cải cách tư pháp và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
TS. Phạm Tuấn Anh
Học viện Kỹ thuật quân sự, Bộ Quốc phòng
Ảnh: Internet
[1]. Đỗ Minh Tuân (2016), Một số vướng mắc về quy định khởi tố bị can và hỏi cung bị can của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, https://vkshanoi.gov.vn/Th%C6%B0-vi%E1%BB%87n/T%C3%A0i-li%E1%BB%87u/mot-so-vuong-mac-ve-quy-dinh-khoi-to-bi-can-va-hoi-cung-bi-can-cua-bo-luat-tths-nam-2015, truy cập ngày 22/02/2026.
[2]. Đinh Thị Hải Yến (2015), Hỏi cung bị can trong luật tố tụng hình sự Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, tr.39.
[3]. Nguyễn Nam Hải (2022), Nâng cao hiệu quả công tác hỏi cung bị can, lấy lời khai trong điều kiện ghi âm ghi hình có âm thanh, Tạp chí Khoa học kiểm sát, số 2, tr.38.
[4]. Phùng Hoàng (2022), Hỏi cung bị can theo quy định của pháp luật tố tụng hiện hành, https://lsvn.vn/hoi-cung-bi-can-theo-quy-dinh-cua-phap-luat-to-tung-hien-hanh1650984673-a118065.html, truy cập ngày 22/02/2026.
[5]. Đỗ Minh Tuân (2016), tlđd.
[6]. Đỗ Minh Tuân (2016), tlđd.
[7]. Vy Quốc Phát (2024), Một số vướng mắc, bất cập của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về giai đoạn khởi tố, điều tra và đề xuất sửa đổi, bổ sung, Tạp chí Khoa học kiểm sát, số 7, tr.19.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Đinh Thị Hải Yến (2015), Hỏi cung bị can trong luật tố tụng hình sự Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội.
2. Đỗ Minh Tuân (2016), Một số vướng mắc về quy định khởi tố bị can và hỏi cung bị can của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, https://vkshanoi.gov.vn/Th%C6%B0-vi%E1%BB%87n/T%C3%A0i-li%E1%BB%87u/mot-so-vuong-mac-ve-quy-dinh-khoi-to-bi-can-va-hoi-cung-bi-can-cua-bo-luat-tths-nam-2015, truy cập ngày 22/02/2026.
3. Đoàn Thị Ngọc Hải (2016), Những quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về khởi tố, hỏi cung bị can, đối chất và nhận dạng, https://moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemID=1973, truy cập ngày 22/02/2026.
4. Nguyễn Nam Hải (2022), Nâng cao hiệu quả công tác hỏi cung bị can, lấy lời khai trong điều kiện ghi âm, ghi hình có âm thanh, Tạp chí Khoa học kiểm sát, số 2, Hà Nội.
5. Phùng Hoàng (2022), Hỏi cung bị can theo quy định của pháp luật tố tụng hiện hành, https://lsvn.vn/hoi-cung-bi-can-theo-quy-dinh-cua-phap-luat-to-tung-hien-hanh1650984673-a118065.html, truy cập ngày 22/02/2026.
6. Quốc hội (2015), Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam năm 2015, Nxb. Tư pháp, Hà Nội.
7. Quốc hội (2025), Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021, 2024, 2025), Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
8. Vy Quốc Phát (2024), Một số vướng mắc, bất cập của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về giai đoạn khởi tố, điều tra và đề xuất sửa đổi, bổ sung, Tạp chí Khoa học kiểm sát, số 7, Hà Nội.
(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số Kỳ 1 (448) tháng 3/2026)