Thứ tư 22/04/2026 11:42
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, bài viết phân tích các quy định pháp luật kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, như: thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.

Từ khóa: quyền tiếp cận thông tin; doanh nghiệp; công khai thông tin; phát triển bền vững.

ENSURING BUSINESSES' RIGHT TO ACCESS INFORMATION TOWARDS SUSTAINABLE DEVELOPMENT

Abstract: Ensuring businesses' right to access information plays a crucial role in building a rule-of-law state and achieving sustainable development in Vietnam. Based on the provisions of the 2013 Constitution, amended and supplemented in 2025 (the 2013 Constitution), and the 2016 Law on Access to Information, this article analyzes legal provisions and assesses practical implementation to clarify the role of the right to access information in production, business operations and the competitiveness of enterprises. The study reveals several limitations in the exercise of this right, such as: information is not fully and promptly disclosed; procedures for requesting information are complex; public data is fragmented and lacks interconnectedness, particularly hindering small and medium-sized enterprises (SMEs). Therefore, the study proposes several recommendations to improve the mechanism for ensuring businesses' right to access information, contributing to sustainable development.

Keywords: Right of access to information; businesses; information disclosure; sustainable development.

Đặt vấn đề

Quyền tiếp cận thông tin được Hiến pháp năm 2013 ghi nhận là quyền cơ bản của công dân và được cụ thể hóa tại Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, qua đó, đặt nền tảng pháp lý cho việc xây dựng nền quản trị công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình. Đối với doanh nghiệp, quyền tiếp cận thông tin giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc bảo đảm tuân thủ pháp luật, giảm chi phí giao dịch, nâng cao năng lực dự báo và khả năng cạnh tranh trong môi trường kinh doanh hiện đại.

Tuy nhiên, thực tiễn thi hành cho thấy, còn tồn tại khoảng cách đáng kể giữa quy định của pháp luật và khả năng tiếp cận thông tin của doanh nghiệp. Tình trạng thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông và chưa thân thiện với người sử dụng đã làm gia tăng chi phí tuân thủ, hạn chế năng lực ra quyết định và cản trở đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp.

Trong bối cảnh Việt Nam thúc đẩy phát triển bền vững gắn với chuyển đổi số, xây dựng Chính phủ số và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường, yêu cầu bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp ngày càng trở nên cấp thiết. Quyền này không chỉ là công cụ hỗ trợ hoạt động sản xuất, kinh doanh, mà còn là yếu tố nền tảng góp phần hình thành môi trường kinh doanh minh bạch, công bằng và có khả năng chống chịu trước các rủi ro kinh tế, xã hội và môi trường.

Xuất phát từ yêu cầu đó, nghiên cứu tập trung: làm rõ cơ sở lý luận về quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp; phân tích thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện quyền tiếp cận thông tin ở Việt Nam; đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp, hướng tới mục tiêu phát triển bền vững trong giai đoạn hiện nay.

1. Quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp

Thông tin và quyền tiếp cận thông tin đóng vai trò quan trọng trong hoạt động của doanh nghiệp.

1.1. Thông tin và quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp

Thông tin được hiểu là những kiến thức được truyền đạt, đóng vai trò trung tâm trong xã hội đương đại[1]. Thông tin là yếu tố quyết định cơ hội phát triển của mỗi quốc gia, nhất là trong quá trình hội nhập và hợp tác quốc tế ngày càng sâu, rộng như hiện nay, thông tin vừa đóng vai trò nguồn lực phát triển kinh tế - xã hội, vừa là phương tiện hợp tác và cạnh tranh với các nền kinh tế khác[2]. Thông tin phản ánh sự vật, hiện tượng, quá trình hoặc hoạt động quản lý nhà nước, được ghi nhận và lưu giữ dưới những hình thức nhất định, có khả năng được tiếp nhận, xử lý và sử dụng nhằm phục vụ nhu cầu nhận thức, quản lý và ra quyết định của các chủ thể.

Thông tin được thể hiện dưới dạng dữ liệu, ký hiệu, chữ viết, hình ảnh, âm thanh hoặc dạng khác, có thể tạo ra, lưu trữ, truyền đưa và khai thác. Các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp tiếp nhận thông tin bằng các hoạt động như đọc, xem, nghe, ghi chép, sao chép và chụp các thông tin. Quá trình tiếp nhận thông tin không chỉ đơn thuần là hành vi tiếp nhận thông tin thụ động, mà còn là quá trình nhận thức có mục đích, trong đó, chủ thể lựa chọn, sàng lọc và tiếp thu thông tin phù hợp với nhu cầu, lợi ích và bối cảnh cụ thể.

Tiếp cận thông tin là quyền căn bản của công dân được quy định trong nhiều văn kiện quốc tế mà Việt Nam đã ký kết, tham gia[3]. Doanh nghiệp có quyền “được tiếp cận những thông tin được ban hành và lưu giữ tại các cơ quan, tổ chức công quyền, đặc biệt là các cơ quan hành chính nhà nước”[4]. Việc tiếp nhận thông tin cần thiết, quan trọng kịp thời, đầy đủ, sẽ góp phần bảo đảm hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, mang lại lợi thế cạnh tranh, phát triển bền vững cho doanh nghiệp. Quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp thể hiện thông qua các quyền như: quyền tìm kiếm thông tin, quyền yêu cầu cung cấp thông tin, quyền tiếp nhận thông tin bằng các hình thức hợp pháp, quyền sử dụng và khai thác thông tin cho hoạt động kinh doanh của mình.

Như vậy, quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp là việc doanh nghiệp được đọc, xem, nghe, ghi chép, sao chép và chụp các thông tin, gồm các loại tin, dữ liệu được chứa đựng trong văn bản, hồ sơ, tài liệu có sẵn, tồn tại dưới dạng bản viết, bản in, bản điện tử, tranh, ảnh, bản vẽ, băng, đĩa, bản ghi hình, ghi âm hoặc các dạng khác do cơ quan nhà nước tạo ra. Thông tin mà doanh nghiệp có quyền tiếp cận có thể được phân chia thành:

- Thông tin do cơ quan nhà nước phải công khai cho doanh nghiệp: là những thông tin thuộc phạm vi quản lý của cơ quan nhà nước, không thuộc bí mật nhà nước và không bị hạn chế tiếp cận theo quy định pháp luật, mà cơ quan nhà nước có nghĩa vụ chủ động công bố hoặc cung cấp, nhằm bảo đảm doanh nghiệp thực hiện quyền tiếp cận thông tin, phục vụ hoạt động sản xuất, kinh doanh, đầu tư và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Các cơ quan nhà nước công khai các thông tin một cách chủ động bằng việc niêm yết, đăng tải hoặc công bố rộng rãi.

- Thông tin yêu cầu cơ quan nhà nước cung cấp cho doanh nghiệp: là những thông tin do cơ quan nhà nước tạo ra hoặc đang nắm giữ, không thuộc bí mật nhà nước hoặc bị cấm tiếp cận, mà pháp luật không buộc phải công khai rộng rãi, nhưng cơ quan nhà nước có nghĩa vụ cung cấp khi doanh nghiệp có yêu cầu hợp pháp, nhằm phục vụ hoạt động sản xuất, kinh doanh, đầu tư và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp. Trong đó, cơ quan nhà nước phát sinh nghĩa vụ cung cấp thông tin khi có yêu cầu hợp pháp từ doanh nghiệp.

1.2. Vai trò của việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp

Quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp không chỉ là công cụ giảm chi phí, hạn chế rủi ro và tạo lợi thế cạnh tranh trước mắt, mà còn là hạ tầng thể chế cốt lõi giúp định hình tăng trưởng chất lượng cao và bền vững. Khi thông tin được cung cấp kịp thời, đầy đủ, minh bạch và ở định dạng mở, doanh nghiệp có thể lượng hóa rủi ro, chủ động tuân thủ, nâng sức chống chịu và đáp ứng các chuẩn mực ESG (Environmental - Social - Governance) trong chuỗi giá trị toàn cầu. Vai trò này thể hiện ở các khía cạnh sau:

Một là, chủ động tuân thủ pháp luật, giảm chi phí tuân thủ và rủi ro pháp lý. Tiếp cận kịp thời các văn bản, tiêu chuẩn kỹ thuật, thủ tục và lộ trình áp dụng giúp doanh nghiệp chuẩn bị điều kiện thực thi, hạn chế sai sót và khiếu kiện. Đây là nền tảng của quản trị rủi ro và tuân thủ bền vững.

Hai là, nâng cao hiệu quả kinh doanh, thu hút đầu tư và tạo việc làm. Thông tin đầy đủ giúp ổn định, tối ưu hóa kế hoạch và chiến lược ngắn hạn, dài hạn, tăng doanh thu và chất lượng đầu tư của doanh nghiệp. Mức minh bạch thông tin cao là tín hiệu tích cực đối với nhà đầu tư chú trọng tiêu chí ESG, từ đó, thúc đẩy tăng trưởng việc làm bền vững.

Ba là, minh bạch hóa, nguồn tin đáng tin cậy, giảm chi phí tìm kiếm và tranh chấp. Việc thông tin được minh bạch hóa và bảo đảm quyền tiếp cận thông tin giúp doanh nghiệp giảm các chi phí tìm hiểu, nghiên cứu pháp luật nhờ tạo được nguồn thông tin duy nhất, bảo đảm độ tin cậy[5]. Qua đó, giảm rủi ro cho hoạt động sản xuất, kinh doanh nhờ giảm rủi ro phát sinh từ việc nhầm lẫn và không chắc chắn về các nghĩa vụ pháp lý liên quan, giảm các hành vi vi phạm pháp luật và khiếu nại, khởi kiện. Việc tiếp cận thông tin dễ dàng sẽ khắc phục những thiệt hại và chi phí cơ hội cho doanh nghiệp.

Bốn là, thúc đẩy môi trường kinh doanh công bằng, liêm chính, tạo nền tảng phát triển bền vững. Công khai, minh bạch thông tin Nhà nước nắm giữ bảo đảm công bằng tiếp cận, hạn chế đặc quyền và lợi ích nhóm, củng cố quản trị tốt, giảm rủi ro tham nhũng và nâng cao chất lượng thể chế là các điều kiện tiên quyết của phát triển bền vững.

Năm là, bảo đảm bình đẳng tiếp cận trong đấu thầu, dự án, chính sách hỗ trợ. Việc không minh bạch, kịp thời trong cung cấp thông tin của các cơ quan nhà nước cũng tạo sự bất bình đẳng trong tiếp cận thông tin. Khi mọi doanh nghiệp có quyền tiếp cận thông tin công bằng, các dự án, đấu thầu, chính sách hỗ trợ được phân phối minh bạch, qua đó, tạo môi trường kinh doanh công bằng, hạn chế tham nhũng và lợi ích nhóm.

Sáu là, tham gia chính sách và tuân thủ “xanh” - đáp ứng yêu cầu ESG và chuỗi cung ứng quốc tế. Đối với các dự thảo văn bản pháp luật, dự thảo dự án đầu tư công, khi được tiếp cận thông tin, doanh nghiệp được tham gia góp ý, phản biện chính sách, giúp hoàn thiện khung pháp lý, nâng cao chất lượng quản lý, điều hành công vụ, từ đó, tăng tính khả thi của chính sách và giảm thiểu sai sót từ giai đoạn xây dựng. Chẳng hạn, khi doanh nghiệp tiếp cận quy hoạch đất đai, tiêu chuẩn môi trường, đánh giá tác động môi trường giúp doanh nghiệp tuân thủ quy định xanh, tránh vi phạm và hướng tới sản xuất “xanh - sạch”. Ngoài ra, cung cấp dữ liệu nền giúp doanh nghiệp lập báo cáo phát triển bền vững, tăng tính minh bạch trong hoạt động quản trị doanh nghiệp.

Bảy là, chuẩn hóa cơ chế công khai của cơ quan nhà nước, tăng trách nhiệm giải trình và tương tác số. Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp giúp điều chỉnh cơ chế công khai thông tin của cơ quan nhà nước như: danh mục thông tin, thời hạn cung cấp theo yêu cầu, bảo đảm cập nhật. Cơ quan nhà nước phải có trách nhiệm minh bạch, đồng bộ hệ thống thông tin, giúp doanh nghiệp dễ tra cứu, tương tác thường xuyên với cơ quan nhà nước và giám sát tiến độ thực hiện, phản hồi kịp thời. Qua đó, giúp tăng cường sự tham gia của người dân vào hoạt động quản lý nhà nước, quản lý xã hội, đồng thời, tạo sự đồng thuận giữa người dân và Nhà nước[6].

Như vậy, bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp vừa là “đòn bẩy” giảm chi phí và rủi ro, vừa là nền tảng thể chế cho tăng trưởng bền vững. Các SME được tiếp cận bình đẳng sẽ giúp thu hẹp khoảng cách năng lực, mở rộng cơ hội tham gia các chuỗi cung ứng đòi hỏi chuẩn ESG, gia tăng khả năng huy động vốn, kết nối mục tiêu phát triển của doanh nghiệp với lợi ích cộng đồng, đóng góp trực tiếp vào mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội bền vững.

2. Thực trạng pháp luật và thực hiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp

Mặc dù quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đã được ghi nhận trong Hiến pháp và pháp luật hiện hành, song mức độ bảo đảm quyền này trên thực tế phụ thuộc nhiều vào chất lượng quy định và hiệu quả của quá trình tổ chức thực hiện. Do đó, việc phân tích thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện là cần thiết nhằm làm rõ những hạn chế, bất cập đang cản trở doanh nghiệp tiếp cận, khai thác và sử dụng thông tin.

2.1. Thực trạng pháp luật về quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp

Điều 25 Hiến pháp năm 2013 khẳng định: “Công dân có quyền tự do… tiếp cận thông tin”. Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã thể chế hóa bằng các nguyên tắc: mọi công dân đều bình đẳng, không bị phân biệt đối xử trong việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin. Thông tin được cung cấp phải chính xác, đầy đủ, kịp thời, minh bạch, thuận lợi cho công dân; đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. Việc hạn chế quyền tiếp cận thông tin phải do luật định trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng. Bên cạnh đó, Luật còn quy định về việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của công dân, trình tự, thủ tục thực hiện, trách nhiệm, nghĩa vụ của cơ quan nhà nước trong bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân.

Tuy vậy, trong quá trình thực hiện các quy định của pháp luật, phát sinh một số bất cập, chồng chéo giữa các quy định về quyền tiếp cận thông tin, hình thức cung cấp và tiếp cận thông tin của doanh nghiệp. Việc cung cấp thông tin “còn chậm, mang tính hình thức, thiếu hiệu quả”[7], chưa chú trọng bảo đảm doanh nghiệp có thể khai thác và sử dụng hiệu quả thông tin, đặc biệt, trong bối cảnh chuyển đổi số và nhu cầu tiếp cận thông tin ngày càng lớn. Cụ thể:

Một là, Điều 4 Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 quy định chủ thể thực hiện quyền là “công dân”, mà không đề cập đến “tổ chức” hay “doanh nghiệp”; cơ chế cung cấp thông tin gồm công khai và cung cấp theo yêu cầu cho công dân. Luật chỉ quy định “công dân” có quyền tiếp cận thông tin, nên doanh nghiệp thường phải yêu cầu thông qua người đại diện là cá nhân, làm gia tăng thủ tục và rủi ro bị từ chối với lý do không đúng chủ thể quyền. Trong thực tiễn, doanh nghiệp có nhu cầu rất lớn về việc tiếp cận thông tin của cơ quan nhà nước nhằm lập kế hoạch, quyết định trong đầu tư, kinh doanh.

Hai là, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 liệt kê danh mục thông tin bắt buộc công khai theo hướng hạn chế. Nhiều loại thông tin mà doanh nghiệp cần khi quyết định đầu tư hay kinh doanh nhưng không nằm trong danh mục công khai, làm cho doanh nghiệp không tìm kiếm được thông tin để ra quyết định đầu tư, kinh doanh. Chẳng hạn, thông tin về quy hoạch chi tiết, phân khu, điều chỉnh quy hoạch; thông tin về điều tra, thanh tra, kết luận kiểm toán liên quan đến các lĩnh vực doanh nghiệp sắp đầu tư; thông tin về tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật mới trong các ngành công nghiệp; thông tin về tác động môi trường, cảnh báo môi trường của địa phương.

Ba là, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 quy định hình thức cung cấp thông tin, gồm: đọc, xem, nghe, ghi chép, sao chép, chụp thông tin; cung cấp trực tiếp, qua bưu chính, fax, thư điện tử, cổng/trang thông tin điện tử của cơ quan nhà nước. Quy định này mang tính liệt kê hình thức mà không thiết lập nguyên tắc ưu tiên áp dụng, như ưu tiên cung cấp dưới dạng điện tử; ưu tiên hình thức thuận tiện nhất cho người yêu cầu hay ưu tiên hình thức có chi phí thấp và khả năng tái sử dụng cao. Các cơ quan nhà nước thường cung cấp thông tin bằng hình thức thuận tiện cho mình, nhưng chưa thuận tiện và làm giảm hiệu quả của việc tiếp cận thông tin đối với doanh nghiệp. Trong khi Điều 4 và Điều 6 Nghị định số 47/2020/NĐ-CP ngày 09/4/2020 của Chính phủ về quản lý, kết nối và chia sẻ dữ liệu số của cơ quan nhà nước (Nghị định số 47/2020/NĐ-CP) đã xác lập nguyên tắc chia sẻ dữ liệu số, dữ liệu mở và khuyến khích khai thác qua môi trường điện tử, dẫn đến sự chưa thống nhất giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và các quy định triển khai Chính phủ số hiện nay.

Bốn là, hình thức cung cấp thông tin chưa bảo đảm khả năng khai thác, sử dụng của doanh nghiệp. Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 chỉ yêu cầu thông tin được cung cấp “chính xác, đầy đủ”, mà không đặt ra yêu cầu về định dạng cung cấp. Nghị định số 47/2020/NĐ-CP định nghĩa dữ liệu mở là dữ liệu được công bố để tổ chức, cá nhân tự do sử dụng, tái sử dụng, chia sẻ. Điều này có thể gây khó khăn cho doanh nghiệp trong phân tích, xử lý dữ liệu và ra quyết định kinh doanh. Mặt khác, do thiếu quy định về tiêu chuẩn kỹ thuật tối thiểu, các cơ quan có thể công bố thông tin rời rạc, không đồng nhất, thậm chí không phù hợp để sử dụng trong phân tích dữ liệu.

Năm là, chưa phân biệt rõ về hình thức cung cấp thông tin chủ động và theo yêu cầu của doanh nghiệp. Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 phân biệt công khai thông tin và cung cấp thông tin theo yêu cầu, nhưng chưa quy định rõ sự khác biệt về hình thức cung cấp giữa hai cơ chế này. Thực tế cho thấy, thông tin công khai vẫn có thể chỉ được niêm yết vật lý hoặc đăng tải phân tán, làm cho doanh nghiệp gặp khó khăn khi tiếp cận. Còn thông tin cung cấp theo yêu cầu không được bảo đảm hình thức tương đương với thông tin công khai. Như vậy, cùng một loại thông tin, nếu tiếp cận công khai có thể nhận thông tin chậm, khó tra cứu hoặc yêu cầu trực tiếp lại phải thực hiện thêm thủ tục, chi phí.

Sáu là, thiếu cơ chế bảo đảm việc lựa chọn hình thức cung cấp thông tin phù hợp. Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 chưa ghi nhận quyền của doanh nghiệp được lựa chọn hình thức cung cấp thông tin hoặc yêu cầu cung cấp thông tin dưới dạng điện tử hoặc dữ liệu số. Các cơ quan nhà nước có thể cung cấp theo hình thức như: đọc bản giấy; cung cấp bản photo mờ; yêu cầu đến trực tiếp xem tài liệu. Điều này làm tăng chi phí và thời gian của doanh nghiệp, đi ngược xu hướng hiện đại hóa quản trị công.

Bảy là, quy định về bảo mật thông tin quá rộng, dẫn đến nhiều dữ liệu quy hoạch, môi trường và tài nguyên bị từ chối cung cấp với lý do “bí mật nhà nước”. Việc thiếu tiêu chí phân loại rõ ràng và không áp dụng nguyên tắc “chỉ bảo mật phần thật sự mật” làm cho nhiều cơ quan từ chối toàn bộ hồ sơ, dẫn đến doanh nghiệp không thể tiếp cận dữ liệu cần thiết để đánh giá rủi ro, thiếu căn cứ pháp lý và thông tin đáng tin cậy để đưa ra quyết định đầu tư dài hạn.

Tám là, thiếu cơ chế đủ mạnh để buộc cơ quan nhà nước phải minh bạch thông tin. Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 chưa có điều khoản chế tài riêng với hành vi không hoặc chậm công khai, từ chối trái luật. Biện pháp phổ biến là kỷ luật công chức hoặc người đứng đầu theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức hoặc quy định nội bộ, dẫn đến khó áp dụng trong thực tế do thiếu mốc thời hạn, chuẩn dữ liệu, cơ chế giám sát độc lập và trách nhiệm cá nhân. Các chế tài chưa đủ sức răn đe, chưa có quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi thông tin sai hoặc chậm cung cấp.

Những bất cập trên không chỉ làm giảm hiệu lực bảo đảm quyền tiếp cận thông tin trên thực tế, mà còn tạo rào cản đối với hoạt động đầu tư, kinh doanh, ra quyết định của doanh nghiệp, nhất là trong bối cảnh chuyển đổi số, dữ liệu mở và yêu cầu minh bạch gia tăng. Đồng thời, đặt ra yêu cầu hoàn thiện pháp luật nhằm “bảo đảm quyền tiếp cận thông tin một cách thực chất, đồng bộ và phù hợp với yêu cầu quản trị hiện đại, tạo nền tảng cho môi trường kinh doanh minh bạch, cạnh tranh và phát triển bền vững”[8].

2.2. Thực trạng thực hiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp

Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là công cụ pháp lý rất quan trọng, bảo đảm quyền được biết của người dân, quyền quan trọng nhất trong các quyền con người, nhưng đến nay, đa số người dân Việt Nam chưa biết rõ quyền tiếp cận thông tin của mình theo quy định của pháp luật. Nhiều người không biết mình có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước cung cấp thông tin quan trọng, thiết thực theo quy định của Luật Tiếp cận thông tin năm 2016[9].

Đối với doanh nghiệp, việc tiếp cận thông tin là nhu cầu rất cấp thiết và đóng vai trò quan trọng trong hoạt động sản xuất, kinh doanh. Tuy nhiên, các doanh nghiệp, đặc biệt là SMEs, thường khó tiếp cận thông tin cần thiết, tình trạng này có thể nhìn nhận ở một số khía cạnh sau:

Một là, sự tiếp cận thông tin không bình đẳng, không công bằng giữa các doanh nghiệp. Các SME, hiện gặp rất nhiều khó khăn trong tiếp cận nguồn lực về đất đai, vốn, khoa học, công nghệ, năng lực tài chính và quy mô đầu tư nhỏ lẻ, thiếu thông tin chính thức để xem xét, quyết định đầu tư, sản xuất, kinh doanh. Chưa có cơ chế công bố thời điểm tất cả doanh nghiệp cùng được tiếp cận thông tin quan trọng, không yêu cầu báo cáo đánh giá công bằng thông tin giữa SMEs và doanh nghiệp lớn.

Hai là, việc công khai và cung cấp thông tin của các cơ quan nhà nước thiếu chủ động, mới chỉ đáp ứng được một phần, chưa đầy đủ, nhất là các thông tin liên quan đến kế hoạch (như ngân sách, quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất, các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng, chính sách ưu đãi đầu tư…), dẫn đến việc doanh nghiệp bị động trong lập kế hoạch, dễ bị rủi ro do thay đổi chính sách, khó khai thác tối ưu các hỗ trợ từ Nhà nước.

Ba là, một số quy định về xác định thông tin không được tiếp cận dẫn đến lúng túng trong thực hiện; trình tự, thủ tục cung cấp thông tin theo yêu cầu còn phức tạp, chưa đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính, đặc biệt, trong điều kiện đẩy mạnh xây dựng các cơ sở dữ liệu, liên thông dữ liệu và chuyển đổi số.

Bốn là, thiếu khuôn khổ pháp lý về tiếp cận thông tin phục vụ phát triển xanh và kinh tế tuần hoàn.

Hoạt động của doanh nghiệp hướng đến mục tiêu phát triển bền vững hiện nay gắn chặt với tiêu chuẩn môi trường, phát thải, chuyển đổi năng lượng, nhưng chưa quy định nhóm thông tin “xanh” (carbon, môi trường, biến đổi khí hậu) là thông tin bắt buộc công khai. Nhiều địa phương coi những thông tin vi phạm môi trường hoặc phát thải là “nhạy cảm”, nên không công khai. Bên cạnh đó, chưa có quy định yêu cầu công khai tiêu chuẩn kỹ thuật môi trường mới hoặc dữ liệu lịch sử về chất lượng môi trường của khu vực/địa phương dự kiến triển khai hoạt động đầu tư của doanh nghiệp.

Năm là, quy định pháp luật, chính sách của các cơ quan hành chính thường thay đổi, có độ phức tạp cao, gây khó khăn cho doanh nghiệp trong việc cập nhật và hiểu đúng, đầy đủ nội dung. Hệ thống cơ sở dữ liệu pháp luật, văn bản hướng dẫn chưa đầy đủ hoặc không được cập nhật định kỳ, làm cho doanh nghiệp khó theo dõi các chỉnh sửa, bổ sung quan trọng. Ngoài ra, cơ chế thủ tục hành chính phức tạp, thiếu minh bạch, dẫn đến thời gian và chi phí hành chính tăng cao.

Sáu là, các doanh nghiệp, đặc biệt là SMEs, gặp khó khăn trong bố trí nhân lực chuyên trách, có trình độ để theo dõi, phân tích và đánh giá nhằm chọn lọc thông tin liên quan. Điều này dẫn đến, trường hợp thông tin không được chọn lọc, phân tích trước thì trong kho thông tin khác nhau, doanh nghiệp rất khó tiếp cận với những thông tin cần thiết có giá trị, liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp.

Những hạn chế trên không chỉ làm giảm chất lượng thực thi pháp luật, mà còn tạo khoảng cách giữa yêu cầu minh bạch của nền kinh tế số và khả năng đáp ứng của hệ thống cơ quan nhà nước.

3. Một số kiến nghị nhằm bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng đến phát triển bền vững

Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân (Nghị quyết số 68-NQ/TW) nhận định “tăng cường cơ hội tiếp cận đất đai, mặt bằng sản xuất kinh doanh cho kinh tế tư nhân: thực hiện giao dịch điện tử trong lĩnh vực đất đai; công khai, minh bạch và chủ động cung cấp thông tin tới doanh nghiệp. Hoàn thiện hệ thống pháp luật, xóa bỏ các rào cản tiếp cận thị trường, đảm bảo môi trường kinh doanh thông thoáng, minh bạch, rõ ràng, nhất quán, ổn định lâu dài, dễ tuân thủ, chi phí thấp”. Qua đó, quyền tiếp cận thông tin không chỉ là quyền hiến định, mà còn là giải pháp chính trị trọng tâm nhằm xây dựng môi trường kinh doanh bền vững, minh bạch, công bằng, không rào cản tiếp cận nguồn lực. Mô hình chủ động cung cấp thông tin gắn với tư duy Chính phủ mở và chuyển đổi số đang diễn ra mạnh mẽ hiện nay.

Thứ nhất, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 cần quy định rõ quyền tiếp cận thông tin của “tổ chức/ doanh nghiệp”. Việc tiếp cận thông tin cần phải chuyển từ “cung cấp theo yêu cầu” sang “chủ động công khai” các thông tin cần thiết cho hoạt động của doanh nghiệp. Thay vì chờ yêu cầu, các cơ quan nhà nước phải chủ động đăng tải, công khai các thông tin về ngân sách, quy hoạch, đầu tư công, đất đai, môi trường, giáo dục, y tế… Thông tin phải được phân loại, đánh giá, giải thích để phù hợp với từng doanh nghiệp. Qua đó, doanh nghiệp dễ tiếp cận các thông tin chính thống, dễ tra cứu, dễ hiểu và dễ thực hiện. Việc tiếp cận thông tin không bị cản trở, dẫn đến những cách thức tốt hơn để công dân có thể buộc Chính phủ chịu trách nhiệm[10]. Doanh nghiệp được tiếp cận thông tin pháp luật, quy hoạch, đấu thầu, đầu tư công, thủ tục hành chính, chính sách hỗ trợ, các thay đổi pháp lý một cách kịp thời, làm giảm chi phí tuân thủ, tránh rủi ro bị xử phạt vì “không biết luật”.

Thứ hai, sửa đổi Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 theo hướng đa dạng hóa các hình thức cung cấp thông tin, gắn với đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ và chuyển đổi số; chi phí tiếp cận thông tin[11]. Trường hợp có nhiều hình thức cung cấp, phải lựa chọn hình thức thuận tiện nhất, chi phí thấp nhất cho người yêu cầu. Việc xây dựng cơ chế pháp lý cho dữ liệu mở không chỉ tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp tiếp cận thông tin, mà còn kích hoạt các dịch vụ số mới, nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp[12].

Thứ ba, sửa đổi Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 theo hướng, mở rộng trách nhiệm cung cấp thông tin cho cả đơn vị sự nghiệp công lập cơ bản, thiết yếu, gồm các tuyên bố, dữ liệu sản phẩm, dịch vụ ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Mở rộng danh mục thông tin phải công khai, đặc biệt, liên quan đến doanh nghiệp nhà nước, dự án đầu tư công, thẩm quyền của các cơ quan nhà nước sau khi tái cấu trúc tổ chức chính quyền địa phương, bộ, ngành. Làm rõ trách nhiệm cung cấp thông tin của cơ quan theo cấp, liên thông dữ liệu giữa các cấp ở trung ương và địa phương để tránh bỏ sót thông tin quan trọng đối với doanh nghiệp. Nâng cao vai trò của doanh nghiệp trong việc tham gia phản biện chính sách, góp phần hoàn thiện pháp luật, làm tăng niềm tin xã hội và thúc đẩy trách nhiệm cộng đồng. Quyền tiếp cận thông tin khu vực công là “nền tảng của Chính phủ cởi mở và toàn diện, đồng thời, là yếu tố quan trọng để phòng, chống tham nhũng và củng cố lòng tin giữa công dân và Chính phủ”[13].

Thứ tư, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 cần bổ sung quy định về “thời hạn” công bố đối với nhóm thông tin quan trọng, ảnh hưởng lớn đến quyết định đầu tư (quy hoạch, đầu tư công, môi trường, đất đai) của doanh nghiệp. Đồng thời, phải bảo đảm chính sách, pháp luật đến với doanh nghiệp một cách kịp thời, đầy đủ làm cơ sở, tiền đề pháp lý cho doanh nghiệp phát triển bền vững.

Thứ năm, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 cần bổ sung quy định về việc “người yêu cầu cung cấp thông tin có quyền đề xuất hình thức cung cấp thông tin; cơ quan nhà nước chỉ được từ chối hình thức đó khi có căn cứ pháp luật rõ ràng”. Cơ quan nhà nước phải “chủ động cung cấp dữ liệu và thông tin khu vực công rõ ràng, đầy đủ, kịp thời, đáng tin cậy và phù hợp, miễn phí, có sẵn ở định dạng mở và không độc quyền, dễ đọc bằng máy tính, dễ tìm kiếm, hiểu, sử dụng và tái sử dụng và được phổ biến thông qua nhiều kênh”[14]. Đồng thời, phải nỗ lực bảo đảm thông tin được tiếp cận với nhiều doanh nghiệp nhất có thể.

Thứ sáu, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 cần quy định cụ thể các thông tin “được cung cấp dưới dạng điện tử phải bảo đảm khả năng khai thác, xử lý và tái sử dụng; hạn chế cung cấp thông tin dưới dạng hình ảnh, bản quét khi đã có dữ liệu gốc”. Đẩy mạnh phát triển hơn nữa Chính phủ điện tử, Chính phủ số để giúp doanh nghiệp tiếp cận thông tin và các dịch vụ công thuận lợi, nhanh chóng, góp phần nâng cao mức độ tin cậy vào môi trường kinh doanh và bộ máy quản lý nhà nước. Mở rộng hơn nữa phạm vi tiếp cận thông tin qua cổng dữ liệu quốc gia, hệ thống chính quyền điện tử và dịch vụ công trực tuyến. Các cơ quan nhà nước cần có đủ nguồn lực tài chính, nhân lực và kỹ thuật để thực hiện hiệu quả việc cung cấp thông tin, tham vấn và tham gia của cộng đồng doanh nghiệp.

Thứ bảy, doanh nghiệp phải hiểu rõ nội dung quyền tiếp cận thông tin, chủ động chuyển từ tư duy thụ động chờ thông tin sang chủ động tiếp cận, quản trị và khai thác thông tin cần thiết bằng cách kết hợp với quyền pháp luật trao cho, ứng dụng công nghệ và tạo ra văn hóa minh bạch thông tin. Doanh nghiệp chủ động đăng ký tài khoản trên các cổng dịch vụ công, sử dụng chữ ký số để gửi yêu cầu và nhận thông tin. Chủ động tham gia góp ý chính sách, phản hồi về chất lượng thông tin được tiếp cận để các cơ quan nhà nước có trách nhiệm, thẩm quyền thay đổi phù hợp với quy định của pháp luật.

Như vậy, việc hoàn thiện quyền tiếp cận thông tin theo hướng dữ liệu mở, thời hạn rõ ràng, chế tài đủ mạnh và giám sát độc lập không chỉ giúp doanh nghiệp giảm chi phí, tăng dự báo nhằm đáp ứng ESG, mà còn tạo nền quản trị công minh bạch, liêm chính, đúng tinh thần Nghị quyết số 68-NQ/TW và phù hợp mục tiêu phát triển bền vững của Việt Nam.

Kết luận

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp là một trong những trụ cột của Nhà nước pháp quyền, đồng thời, là hạ tầng thể chế quan trọng thúc đẩy tăng trưởng chất lượng cao và phát triển bền vững. Trong bối cảnh chuyển đổi số, kinh tế xanh và yêu cầu minh bạch ngày càng cao, việc hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin theo hướng công khai chủ động, dữ liệu mở, hình thức cung cấp thuận tiện và tăng cường trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước là yêu cầu cấp thiết. Khi các chuẩn mực này được thực thi nhất quán, quyền tiếp cận thông tin sẽ thực sự trở thành công cụ hỗ trợ hiệu quả cho hoạt động đầu tư, kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và đóng góp thiết thực vào mục tiêu phát triển bền vững của nền kinh tế./.

PGS. TS. Nguyễn Văn Lâm

Giảng viên cao cấp Trường Kinh tế, Đại học Bách khoa Hà Nội

Ảnh: internet

[1]. Rafael Capurro, Birger Hjorland (2005), Annual Review of Information Science and Technology, Chapter 8: The Concept of Information, p.343, https://www.capurro.de/Capurro_Hjoerland.pdf, truy cập ngày 25/02/2026.

[2]. Nguyễn Trung Thành (2015), Quyền tiếp cận thông tin: từ lý luận đến thực tiễn tại Việt Nam, Tạp chí Khoa học & Công nghệ Việt Nam, 2(12), tr. 49 - 56.

[3]. Mai Quang Thắng (2024), Bảo đảm về chính trị, pháp lý về quyền tiếp cận thông tin của đồng bào dân tộc thiểu số, Tạp chí Quản lý nhà nước, (344), tr. 51 - 55.

[4]. Thái Vĩnh Thắng (2009), Quyền tiếp cận thông tin - Điều kiện thực hiện các quyền con người và quyền công dân, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 17 (154), tr. 3 - 9.

[5]. Xem tại: https://moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/van-ban-chinh-sach-moi.aspx?ItemID=2870, truy cập ngày 25/02/2026.

[6]. Vũ Công Giao (2010), Luật tiếp cận thông tin: Một số vấn đề lý luận, pháp lý và thực tiễn trên thế giới, VNU Tạp chí khoa học: Luật học, 26 (3), tr.180-192, https://js.vnu.edu.vn/LS/article/view/1814.

[7]. Nguyễn Trung Thành (2015), tlđd, tr. 49 - 56.

[8]. OECD (2016), Open Government: The Global Context and the Way Forward, OECD Publishing, Paris, http://dx.doi.org/10.1787/9789264268104-en.

[9]. Đinh Văn Liêm, Đinh Ngọc Thắng & Dương Văn Quý (2024), Exercising the Right to Access Information in Vietnam, International Journal of Religion, 5(10), pp.1361-1378, DOI:https://doi.org/10.61707/a2p2nk77.

[10]. OECD (2016), tlđd, p. 25.

[11]. Quý Nguyễn, Sửa đổi Luật Tiếp cận thông tin để bảo đảm tốt hơn quyền của người dân, https://lsvn.vn/sua-doi-luat-tiep-can-thong-tin-de-bao-dam-tot-hon-quyen-cua-nguoi-dan-a164915.html, truy cập ngày 25/02/2026.

[12]. Vụ Pháp chế - Bộ Khoa học và Công nghệ, Một số góp ý từ góc nhìn khoa học, công nghệ và chuyển đổi số đối với hồ sơ chính sách dự án Luật Tiếp cận thông tin, https://cspl.mic.gov.vn/Pages/TinTuc/tinchitiet.aspx?tintucid=139009, truy cập ngày 25/02/2026.

[13]. OECD (2016), tlđd, p. 58.

[14]. OECD (2023), Open Government for Stronger Democracies: A Global Assessment, OECD Publishing, Paris, https://doi.org/10.1787/5478db5b-en.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Đinh Văn Liêm, Đinh Ngọc Thắng & Dương Văn Quý (2024), Exercising the Right to Access Information in Vietnam, International Journal of Religion, 5(10), https://doi.org/10.61707/a2p2nk77.

2. Dự thảo Luật Tiếp cận thông tin 2025, https://vibonline.com.vn/du_thao/du-thao-ho-chinh-sach-luat-tiep-can-thong-tin-sua-doi, truy cập ngày 25/02/2026.

3. Mai Quang Thắng (2024), Bảo đảm về chính trị, pháp lý về quyền tiếp cận thông tin của đồng bào dân tộc thiểu số, Tạp chí Quản lý nhà nước, (344).

4. Nguyễn Trung Thành (2015), Quyền tiếp cận thông tin: từ lý luận đến thực tiễn tại Việt Nam, Tạp chí Khoa học & Công nghệ Việt Nam, 2(12).

5. OECD (2016), Open Government: The Global Context and the Way Forward, OECD Publishing, Paris, http://dx.doi.org/10.1787/9789264268104-en.

6. OECD (2023), Open Government for Stronger Democracies: A Global Assessment, OECD Publishing, Paris, https://doi.org/10.1787/5478db5b-en.

7. Rafael Capurro, Birger Hjärland (2005), Annual Review of Information Science and Technology, Chapter 8: The Concept of Information, https://www.capurro.de/Capurro_Hjoerland.pdf, truy cập ngày 25/02/2026.

8. Thái Vĩnh Thắng (2009), Quyền tiếp cận thông tin - Điều kiện thực hiện các quyền con người và quyền công dân, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, 17 (154).

9. Trần Minh Luân (2025), Phát triển bền vững - Mục tiêu và giải pháp cụ thể, https://vietnamhoinhap.vn/vi/phat-trien-ben-vung-muc-tieu-va-giai-phap-cu-the-51028.htm, truy cập ngày 25/02/2026.

10. Vũ Công Giao (2010), Luật Tiếp cận thông tin: Một số vấn đề lý luận, pháp lý và thực tiễn trên thế giới, VNU Tạp chí Khoa học: Luật học, 26 (3), https://js.vnu.edu.vn/LS/article/view/1814, truy cập ngày 12/10/2025.

11. Vụ Pháp chế - Bộ Khoa học và Công nghệ, Một số góp ý từ góc nhìn khoa học, công nghệ và chuyển đổi số đối với hồ sơ chính sách dự án Luật Tiếp cận thông tin, https://cspl.mic.gov.vn/Pages/TinTuc/tinchitiet.aspx?tintucid=139009, truy cập ngày 25/02/2026.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số Kỳ 1 (450) tháng 4/2026)

Tin bài có thể bạn quan tâm

Rào cản pháp lý và thực tiễn trong việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin tại Việt Nam

Rào cản pháp lý và thực tiễn trong việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin tại Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định quan trọng, góp phần bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của Nhà nước. Bài viết phân tích các rào cản pháp lý và thực tiễn trong thực hiện quyền tiếp cận thông tin tại Việt Nam, thông qua phân tích, so sánh giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và Dự thảo Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi). Nghiên cứu cho thấy, mặc dù khuôn khổ pháp lý đã bước đầu được thiết lập, nhưng tồn tại một số hạn chế liên quan đến phạm vi thông tin, chủ thể cung cấp, cơ chế phân loại thông tin, phương thức cung cấp và giám sát thực thi. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất các kiến nghị hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi trong bối cảnh chuyển đổi số.
Công khai thông tin theo Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Công khai thông tin theo Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã đặt nền móng pháp lý cho quyền tiếp cận thông tin của công dân, trong đó, công khai thông tin là công cụ quan trọng để thực thi quyền này. Tuy nhiên, sau 08 năm thực hiện, công tác công khai thông tin còn một số bất cập trong quy định và thực tiễn áp dụng, chưa đáp ứng yêu cầu đổi mới thể chế theo Nghị quyết Đại hội lần thứ XIV của Đảng. Nghiên cứu phân tích, luận giải một số vấn đề về công khai thông tin, đánh giá thực trạng, chỉ ra những bất cập, hạn chế, từ đó, kiến nghị hoàn thiện pháp luật, giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động công khai thông tin nhằm bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của người dân trong thời gian tới.
Tái định vị mối quan hệ giữa quyền tiếp cận thông tin và bảo vệ dữ liệu cá nhân trong pháp luật Việt Nam

Tái định vị mối quan hệ giữa quyền tiếp cận thông tin và bảo vệ dữ liệu cá nhân trong pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Pháp luật Việt Nam đang định hình ranh giới giữa minh bạch thông tin và quyền riêng tư với việc ban hành Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2025, cùng dự thảo Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi) (dự thảo Luật). Điều này dẫn đến nguy cơ xung đột giữa quyền được biết của công chúng với quyền riêng tư của cá nhân. Bài viết làm rõ về bản chất pháp lý giữa khái niệm “thông tin” và “dữ liệu cá nhân”, đồng thời, đánh giá quy định tại dự thảo Luật, đặc biệt là cơ chế “tiếp cận có điều kiện” đối với thông tin liên quan đến đời tư, bảo vệ dữ liệu cá nhân và so sánh với thông lệ quốc tế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nhằm tái định vị mối quan hệ giữa quyền tiếp cận thông tin và bảo vệ dữ liệu cá nhân trong pháp luật Việt Nam thông qua giới hạn ngoại lệ, xây dựng quy trình đánh giá lợi ích công và biện pháp hài hòa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 với Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2025 trong kỷ nguyên số.
Kinh nghiệm của Thụy Điển, Nhật Bản trong cung cấp thông tin theo yêu cầu của người dân, doanh nghiệp và gợi mở đối với Việt Nam

Kinh nghiệm của Thụy Điển, Nhật Bản trong cung cấp thông tin theo yêu cầu của người dân, doanh nghiệp và gợi mở đối với Việt Nam

Tóm tắt: Chế định cung cấp thông tin theo yêu cầu của người dân, doanh nghiệp là cơ chế pháp lý quan trọng để bảo đảm thực thi quyền tiếp cận thông tin. Nghiên cứu phân tích nội dung chế định này theo Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, chỉ ra một số hạn chế trong quá trình triển khai thi hành, trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm pháp luật của Thụy Điển và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện quy định trong dự thảo Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi) ở Việt Nam.
Cung cấp thông tin theo yêu cầu của người dân và doanh nghiệp - Kinh nghiệm từ một số quốc gia, khuyến nghị của Article 19 và giá trị tham khảo đối với Việt Nam

Cung cấp thông tin theo yêu cầu của người dân và doanh nghiệp - Kinh nghiệm từ một số quốc gia, khuyến nghị của Article 19 và giá trị tham khảo đối với Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin, đặc biệt là thông tin do cơ quan nhà nước nắm giữ trở thành chuẩn mực quan trọng của quản trị dân chủ và Nhà nước pháp quyền trên thế giới. Nội dung và cũng là yêu cầu cốt lõi trong bảo đảm quyền này là cung cấp thông tin theo yêu cầu của người dân và doanh nghiệp, bên cạnh nghĩa vụ chủ động công bố thông tin của các cơ quan công quyền. Nghiên cứu phân tích quy định về cung cấp thông tin theo yêu cầu của người dân và doanh nghiệp ở một số quốc gia trên thế giới và theo Luật mẫu của ARTICLE 19, làm rõ những ưu điểm về bảo đảm tính minh bạch, trách nhiệm giải trình và hiệu quả thực thi. Kết quả nghiên cứu cho thấy, cơ chế cung cấp thông tin hiệu quả theo yêu cầu của người dân, doanh nghiệp không chỉ gồm quy định về chủ thể có quyền và trách nhiệm, mà còn gắn với các yếu tố như cơ chế giám sát độc lập, chuẩn hóa quy trình xử lý yêu cầu và ứng dụng công nghệ số trong quản lý, cung cấp thông tin. Trên cơ sở đó, nghiên cứu, đề xuất Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc một số kinh nghiệm có giá trị trong việc hoàn thiện khung pháp luật về cung cấp thông tin theo yêu cầu, đặc biệt, trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền, thúc đẩy quản trị minh bạch và phát triển Chính phủ số.
Đại biểu Quốc hội: Tăng lương ở mức nào vừa bảo đảm đời sống, vừa phù hợp với khả năng ngân sách?

Đại biểu Quốc hội: Tăng lương ở mức nào vừa bảo đảm đời sống, vừa phù hợp với khả năng ngân sách?

Tiếp tục Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI, sáng 21/4, Quốc hội thảo luận tại hội trường, về đánh giá bổ sung kết quả thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội và ngân sách nhà nước năm 2025; tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội và ngân sách nhà nước những tháng đầu năm 2026. Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Hồng điều hành Phiên họp.
Đề xuất thực hiện thí điểm chế định luật sư công tại 8 bộ và 10 địa phương

Đề xuất thực hiện thí điểm chế định luật sư công tại 8 bộ và 10 địa phương

Việc thực hiện thí điểm tại 8 bộ và 10 địa phương. Thời gian thí điểm là từ ngày 01/10/2026 đến hết ngày 30/9/2028, có cơ chế xử lý chuyển tiếp đối với các vụ, việc đang thực hiện.
Đánh giá, xếp loại chất lượng đơn vị sự nghiệp công lập và viên chức gắn với chức năng, nhiệm vụ, mục tiêu, kế hoạch công tác và kết quả thực hiện

Đánh giá, xếp loại chất lượng đơn vị sự nghiệp công lập và viên chức gắn với chức năng, nhiệm vụ, mục tiêu, kế hoạch công tác và kết quả thực hiện

Chiều ngày 20/4/2026, đồng chí Nguyễn Thị Hạnh, Cục trưởng Cục Pháp luật hình sự - hành chính và Quản lý xử lý vi phạm hành chính, Bộ Tư pháp chủ trì cuộc họp Hội đồng thẩm định hồ sơ dự thảo Nghị định của Chính phủ quy định khung tiêu chí đánh giá, xếp loại chất lượng đối với đơn vị sự nghiệp công lập và viên chức (dự thảo Nghị định). Tham dự cuộc họp có sự tham gia của đại diện Bộ Nội vụ; Bộ Công an; Bộ Quốc phòng; Bộ Khoa học và Công nghệ; Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Bộ Giáo dục và Đào tạo; Bộ Tài chính; Bộ Ngoại giao; Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nôi;… và đại diện một số đơn vị thuộc Bộ Tư pháp.
Xử lý kỷ luật viên chức bảo đảm khách quan, công bằng, công khai, nghiêm minh

Xử lý kỷ luật viên chức bảo đảm khách quan, công bằng, công khai, nghiêm minh

Thực hiện Quyết định số 304/QĐ-TTg ngày 13/02/2026 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật Viên chức, Bộ Nội vụ đang chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan xây dựng dự thảo Nghị định quy định về xử lý kỷ luật viên chức (dự thảo Nghị định) theo trình tự, thủ tục rút gọn quy định tại Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 để thay thế các quy định về xử lý kỷ luật viên chức tại Nghị định số 112/2020/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Nghị định số 71/2023/NĐ-CP.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Pháp luật một số quốc gia về bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, quản lý hoạt động tôn giáo và khuyến nghị đối với Việt Nam

Pháp luật một số quốc gia về bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, quản lý hoạt động tôn giáo và khuyến nghị đối với Việt Nam

Tóm tắt: Tín ngưỡng và tôn giáo là yếu tố cấu thành cơ bản trong đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi cá nhân, gồm các lễ nghi truyền thống và tập tục. Từ góc độ pháp lý, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được ghi nhận là quyền cơ bản của con người được quy định trong Hiến pháp và pháp luật của các quốc gia. Bài viết nghiên cứu, phân tích, so sánh khung pháp lý về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của một số quốc gia trong hệ thống dân luật và cách thức quản trị sự đa dạng tôn giáo của các quốc gia này. Trên cơ sở đó, đề xuất giải pháp bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo và quản lý hoạt động của các tôn giáo tại Việt Nam nhằm hài hòa và thúc đẩy công bằng xã hội.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Tăng cường công khai, minh bạch trong trình tự, thủ tục đấu giá tài sản

Tăng cường công khai, minh bạch trong trình tự, thủ tục đấu giá tài sản

Đây là 01 trong 05 chính sách được đề xuất tại phiên họp Hội đồng thẩm định chính sách Luật Đấu giá tài sản (sửa đổi) (chính sách Luật) do Vụ trưởng Vụ Công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (Bộ Tư pháp) Nguyễn Quốc Hoàn chủ trì ngày 16/4. Tham dự phiên họp có đại diện Văn phòng Chính phủ, Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Bộ Tài chính, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Nội vụ, Bộ Nông nghiệp và Môi trường… cùng đại diện một số đơn vị thuộc Bộ Tư pháp.

Theo dõi chúng tôi trên: