Công tác phòng, chống tham nhũng luôn được Đảng và Nhà nước khẳng định là nhiệm vụ chính trị trọng tâm, thường xuyên, là yêu cầu cấp thiết để giữ vững niềm tin của Nhân dân đối với Đảng và chế độ. Vì vậy, trong những năm gần đây, công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực được triển khai đồng bộ, có hiệu quả, với nhiều chủ trương, giải pháp đột phá, đi vào chiều sâu, đạt nhiều kết quả tích cực. Công tác phát hiện và xử lý tham nhũng được chỉ đạo và thực hiện bài bản, đồng bộ, quyết liệt; từ đó tham nhũng được kiềm chế, từng bước được ngăn chặn và có chiều hướng thuyên giảm. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, công tác phòng, chống tham nhũng còn tồn tại một số hạn chế, đặc biệt là có những chủ trương, chính sách của Đảng về phòng, chống tham nhũng chưa được thể chế hóa kịp thời thành pháp luật; cơ chế, chính sách, pháp luật còn thiếu đồng bộ; một số quy định của pháp luật chưa theo kịp sự phát triển của xã hội gây khó khăn cho công tác phát hiện, xử lý tham nhũng, thu hồi tài sản tham nhũng. Bên cạnh đó, các quy định về kê khai tài sản, thu nhập chưa đầy đủ, quy định về kiểm soát tài sản, thu nhập còn có nhiều cách hiểu, thực hiện chưa thống nhất và còn lúng túng, gặp nhiều vướng mắc trong thực hiện, hiệu quả chưa cao. Công tác giám sát, thanh tra, kiểm toán, điều tra còn có khâu chưa hiệu quả, dẫn đến việc phát hiện, xử lý tham nhũng chưa đáp ứng yêu cầu.
Do vậy, việc ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2025 (Luật năm 2025) là cần thiết, khách quan, kịp thời đáp ứng yêu cầu về đấu tranh phòng, chống tham nhũng trong tình hình mới. Luật năm 2025 có nhiều sửa đổi, bổ sung quan trọng, cụ thể:
Bổ sung các hành vi bị nghiêm cấm nhằm bảo vệ người phản ánh, tố cáo, báo cáo về hành vi tham nhũng
Luật năm 2025 đã sửa đổi, bổ sung một số khoản của Điều 8 Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 (Luật năm 2018) để bảo đảm thể chế hóa kịp thời các yêu cầu tại Quy định số 231-QĐ/TW ngày 17/01/2025 của Bộ Chính trị về bảo vệ người đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; đồng thời, bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ với quy định của pháp luật có liên quan. Luật đã bổ sung 05 nhóm hành vi vào khoản 2 và bổ sung khoản 3a tại Điều 8, cụ thể là:
"2. Thực hiện các hành vi sau đây đối với người phản ánh, tố cáo, báo cáo về hành vi tham nhũng:
a) Đe dọa, dùng bạo lực, gây áp lực, vu khống, cô lập, xúc phạm hoặc xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của người phản ánh, tố cáo, báo cáo về hành vi tham nhũng;
b) Xâm phạm bất hợp pháp nhà ở, chỗ ở, chiếm giữ, hủy hoại tài sản, xúc phạm nhân phẩm, danh dự hoặc có hành vi ảnh hưởng đến sức khỏe, an toàn cá nhân của người phản ánh, tố cáo, báo cáo về hành vi tham nhũng;
c) Trả thù hoặc thuê, nhờ, xúi giục người khác uy hiếp tinh thần, trả thù người phản ánh, tố cáo, báo cáo về hành vi tham nhũng;
d) Thực hiện không đúng quy định, phân biệt đối xử, đề ra tiêu chí, điều kiện, nhận xét, đánh giá mang tính áp đặt gây bất lợi trong công tác cán bộ, khen thưởng, kỷ luật đối với người phản ánh, tố cáo, báo cáo về hành vi tham nhũng; luân chuyển, điều động, biệt phái người phản ánh, tố cáo, báo cáo về hành vi tham nhũng khi đang giải quyết vụ việc;
đ) Gây khó khăn, cản trở khi thực hiện chế độ, chính sách của Đảng, Nhà nước, giải quyết các thủ tục hành chính, các dịch vụ công theo quy định của pháp luật, các hoạt động sản xuất, kinh doanh, nghề nghiệp, việc làm, lao động, học tập hoặc thực thi nhiệm vụ của người phản ánh, tố cáo, báo cáo về hành vi tham nhũng".
“3a. Ngăn chặn, hủy bỏ thông tin, tài liệu, chứng cứ về phản ánh, tố cáo, báo cáo về hành vi tham nhũng; che giấu, không báo cáo, trì hoãn hoặc xử lý, xác minh đề nghị, yêu cầu được bảo vệ không đúng quy định; tiết lộ các thông tin cần được giữ bí mật trong quá trình bảo vệ; không kịp thời chỉ đạo, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc của tổ chức, cá nhân trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ; không thay đổi người thực hiện nhiệm vụ bảo vệ khi có căn cứ xác định người đó thiếu trách nhiệm, không khách quan trong thực hiện nhiệm vụ”.
Nâng cao trách nhiệm giải trình của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân
Để bảo đảm thể chế hóa Chỉ thị số 53-CT/TW ngày 26/10/2025 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với việc thực hiện trách nhiệm giải trình của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động công vụ, Luật năm 2025 quy định: “Cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có trách nhiệm giải trình về quyết định, hành vi của mình trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ được giao khi có yêu cầu của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân bị tác động trực tiếp bởi quyết định, hành vi đó”. Qua đó tăng cường trách nhiệm giải trình trực tiếp của cá nhân đối với hoạt động công vụ, chức trách, nhiệm vụ được giao thực hiện.
Luật năm 2025 giao Chính phủ quy định chi tiết các nội dung về nguyên tắc, đối tượng, nội dung, hình thức, trình tự, thủ tục, quyền và nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân về thực hiện trách nhiệm giải trình trong hoạt động công vụ.
Sửa đổi nội dung liên quan đến báo cáo, công khai báo cáo về công tác phòng, chống tham nhũng
Luật năm 2025 điều chỉnh bổ sung trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức có liên quan phối hợp với Chính phủ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong việc xây dựng báo cáo về công tác phòng, chống tham nhũng cùng cấp trong phạm vi cả nước và ở địa phương; đồng thời lược bỏ trách nhiệm báo cáo phòng, chống tham nhũng của cấp huyện để phù hợp mô hình tổ chức chính quyền 02 cấp. Bên cạnh đó, điều chỉnh bố cục, nội dung báo cáo về công tác phòng, chống tham nhũng bảo đảm tính khoa học, rõ ràng, cụ thể hơn, phù hợp với phạm vi, chức năng quản lý nhà nước của Chính phủ, bộ, ngành, địa phương.
Nâng mức giá trị tài sản, thu nhập phải kê khai và kê khai bổ sung
Để phù hợp với điều kiện thực tế hiện nay, khi điều kiện kinh tế xã hội phát triển, quy định về mức lương và thu nhập hợp pháp của công chức, người có chức vụ, quyền hạn tăng khoảng 03 lần so với thời điểm năm 2018, Luật năm 2025 quy định giá trị mỗi loại tài sản phải kê khai (kim khí quý, đá quý, tiền, giấy tờ có giá trị và tài sản khác) từ 150.000.000 đồng trở lên (thay vì 50.000.000 đồng trở lên như Luật năm 2018) và giá trị tài sản, thu nhập phải kê khai bổ sung khi có biến động tài sản, thu nhập trong năm từ 1.000.000.000 đồng trở lên (thay vì 300.000.000 trở lên như Luật năm 2018) .
Bên cạnh đó, Luật năm 2025 quy định về theo dõi biến động tài sản, thu nhập và căn cứ xác minh tài sản, thu nhập của người có nghĩa vụ kê khai, cụ thể: “Trường hợp phát hiện có biến động tài sản, thu nhập trong năm từ 1.000.000.000 đồng trở lên mà người có nghĩa vụ kê khai không kê khai thì cơ quan kiểm soát tài sản, thu nhập yêu cầu người đó cung cấp, bổ sung thông tin có liên quan; trường hợp tài sản, thu nhập có biến động tăng thì phải giải trình về nguồn gốc của tài sản, thu nhập tăng thêm”; cơ quan kiểm soát tài sản, thu nhập xác minh tài sản, thu nhập của người kê khai khi “có biến động tăng về tài sản, thu nhập trong năm từ 1.000.000.000 đồng trở lên mà người có nghĩa vụ kê khai giải trình không hợp lý về nguồn gốc”.
Bổ sung người có nghĩa vụ kê khai tài sản, thu nhập
Luật năm 2025 sửa đổi, bổ sung để phù hợp với Quy định số 296-QĐ/TW ngày 30/5/2025 của Ban Chấp hành Trung ương về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng, quy định nghĩa vụ kê khai tài sản, thu nhập liên quan đến đảng viên, người thuộc diện cấp ủy cùng cấp quản lý và đảng viên chuyên trách công tác đảng hoặc có vị trí việc làm ở các cơ quan tham mưu, giúp việc của cấp ủy thực hiện việc kê khai hằng năm theo quy định của Đảng và quy định của pháp luật.
Ngoài ra, để đáp ứng yêu cầu công tác phòng, chống tham nhũng trong điều kiện hiện nay và phù hợp với quy định của Luật Doanh nghiệp sửa đổi năm 2025 và Luật Quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp năm 2025, Luật năm 2025 quy định người được giao tham gia quản lý, điều hành doanh nghiệp nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ có nghĩa vụ kê khai tài sản, thu nhập. Chính phủ quy định các trường hợp phải kê khai tài sản, thu nhập tại doanh nghiệp nhà nước là những người đại diện chủ sở hữu trực tiếp, người đại diện phần vốn nhà nước và một số chức danh, chức vụ tại doanh nghiệp nhà nước mà không bao gồm người nước ngoài hoặc người thuộc khu vực ngoài nhà nước. Chính phủ quy định các trường hợp phải kê khai tài sản, thu nhập tại doanh nghiệp nhà nước là những người đại diện chủ sở hữu trực tiếp, người đại diện phần vốn nhà nước và một số chức danh, chức vụ tại doanh nghiệp nhà nước mà không bao gồm người nước ngoài hoặc người thuộc khu vực ngoài nhà nước.
Điều chỉnh quy định về trình tự, thủ tục xác minh tài sản, thu nhập
Để tăng cường hiệu quả hoạt động xác minh tài sản, thu nhập khắc phục những hạn chế, khó khăn do số lượng người thuộc diện phải xác minh tài sản thu nhập là rất lớn, Luật năm 2025 điều chỉnh quy định trình tự, thủ tục xác minh tài sản, thu nhập theo hướng bổ sung yêu cầu cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân cung cấp thông tin về tài sản, thu nhập của người có nghĩa vụ kê khai và yêu cầu người được xác minh giải trình về tài sản, thu nhập của mình.
Quy định cụ thể về cơ quan kiểm soát tài sản, thu nhập
Để khắc phục những khó khăn, vướng mắc khi thực hiện các quy định về cơ quan kiểm soát tài sản, thu nhập tại Điều 30 Luật năm 2018 và thể chế hóa các chủ trương, chính sách, quy định của Đảng về công tác kiểm soát tài sản, thu nhập, đặc biệt là Quyết định số 56-QĐ/TW ngày 08/02/2022 của Bộ Chính trị về Quy chế phối hợp giữa các cơ quan kiểm soát tài sản, thu nhập và Quy định số 296-QĐ/TW ngày 30/5/2025 của Ban Chấp hành Trung ương về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng, Luật năm 2025 quy định cụ thể các cơ quan kiểm soát tài sản, thu nhập gồm: (i) Ủy ban kiểm tra cấp ủy cấp trên trực tiếp cơ sở trở lên; (ii) Thanh tra Chính phủ; (iii) Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; (iv) Văn phòng Quốc hội; (v) Toà án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm toán Nhà nước; (vi) Cơ quan Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; (vii) Thanh tra tỉnh, thành phố. Đồng thời, quy định rõ ràng, đầy đủ hơn về thẩm quyền kiểm soát tài sản, thu nhập của các cơ quan kiểm soát tài sản, thu nhập.
Ngoài những sửa đổi, bổ sung nêu trên, Luật năm 2025 còn sửa đổi, bổ sung một số nội dung liên quan đến: tiêu chí đánh giá công tác phòng, chống tham nhũng; ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số trong quản lý hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị; thẩm quyền của cơ quan thanh tra trong thanh tra vụ việc có dấu hiệu tham nhũng; tiếp nhận, xử lý phản ánh về hành vi tham nhũng; tiếp nhận, phân loại, xử lý đơn tố cáo và giải quyết tố cáo về hành vi tham nhũng; bổ sung thẩm quyền, trách nhiệm xét xử phúc thẩm các vụ án tham nhũng của Tòa án nhân dân tối cao…
Như vậy, với việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng chống, tham nhũng đã góp phần kịp thời thể chế hóa các chủ trương, đường lối của Đảng; bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành; đáp ứng yêu cầu đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị; thực hiện hiệu quả mô hình chính quyền địa phương 02 cấp; đồng thời nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, tăng cường tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình trong hoạt động của các cơ quan, tổ chức, đơn vị; góp phần xây dựng nền hành chính nhà nước liêm chính, hiện đại, phục vụ người dân và doanh nghiệp./.