Thứ tư 23/09/2026 14:17
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện chế định tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Tóm tắt: Chương VII dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) quy định về tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo gần như giữ nguyên nội dung Chương VII Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016. Tuy nhiên, phân tích từ góc độ liên thông giữa Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 với Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật Đất đai năm 2024, cho thấy có một số bất cập, nếu được hoàn thiện trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) sẽ giúp hệ thống pháp luật liên quan đến chế định này được hoàn thiện, đồng bộ hơn.

Từ khóa: tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo; đất tín ngưỡng, tôn giáo; pháp nhân phi thương mại; dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi).

Đặt vấn đề

Tài sản hợp pháp của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo được Nhà nước bảo hộ theo khoản 3 Điều 3 Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (Luật năm 2016), tương ứng khoản 3 Điều 4 dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) (dự thảo Luật), trên nền tảng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo quy định tại Điều 24 Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013). Chế định tài sản này nằm ở giao điểm giữa pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo với pháp luật dân sự, đất đai và di sản văn hóa, đang bộc lộ những vấn đề cần giải quyết như: 26,9% diện tích đất tôn giáo chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; không tách bạch được tài sản giữa tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc[1]. Trong khi, Điều 213 Luật Đất đai năm 2024 đã có hiệu lực với nhiều thay đổi quan trọng, nhưng Chương VII dự thảo Luật gần như giữ nguyên nội dung Luật năm 2016. Nghiên cứu phân tích những vấn đề pháp lý của chế định tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo từ góc độ liên thông với Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật Đất đai năm 2024, đồng thời, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo.

1. Khung pháp lý về tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo

Để đánh giá tính phù hợp của Chương VII dự thảo Luật, trước hết, cần nhận diện khung pháp lý hiện hành điều chỉnh tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo gồm hai trụ cột chính: chế độ sở hữu theo Bộ luật Dân sự năm 2015 và chế độ sử dụng đất theo Luật Đất đai năm 2024.

1.1. Chế độ sở hữu tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo theo Bộ luật Dân sự năm 2015

Bộ luật Dân sự năm 2015 chưa có chế định riêng về tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo, nhưng cung cấp khung pháp lý nền tảng thông qua hai chế định: (i) pháp nhân phi thương mại (Điều 76) - tổ chức tôn giáo được công nhận theo Luật năm 2016 có tư cách pháp nhân phi thương mại, do đó, tài sản của tổ chức là tài sản thuộc sở hữu pháp nhân (Điều 81), tách biệt với tài sản cá nhân thành viên; (ii) sở hữu chung (Điều 207 - Điều 220), trong đó sở hữu chung của cộng đồng (Điều 211) được viện dẫn bởi Luật năm 2016 để điều chỉnh tài sản cơ sở tín ngưỡng, cơ sở tôn giáo hình thành theo tập quán, từ đóng góp, quyên góp, tặng cho của cộng đồng.

Điểm đáng lưu ý là Bộ luật Dân sự năm 2015 phân biệt rõ sở hữu pháp nhân (tài sản do pháp nhân sở hữu, quản lý theo điều lệ) tại Điều 81 với sở hữu chung của cộng đồng (tài sản do cộng đồng cùng quản lý, sử dụng theo tập quán) tại Điều 211. Hai chế độ sở hữu này có hệ quả pháp lý khác nhau: tài sản pháp nhân được chuyển nhượng, thế chấp, góp vốn theo quy định pháp luật; tài sản sở hữu chung của cộng đồng chỉ được sử dụng, bảo quản theo tập quán, không được phân chia cho các thành viên cộng đồng. Việc phân biệt này có ý nghĩa quan trọng khi xác định chế độ pháp lý áp dụng cho tài sản của từng loại cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo - tùy thuộc vào nguồn gốc hình thành và tư cách chủ thể quản lý.

1.2. Đất tín ngưỡng, đất tôn giáo theo Luật Đất đai năm 2024

Luật Đất đai năm 2024 tách bạch hai loại đất: đất tín ngưỡng và đất tôn giáo. Cụ thể, Điều 213 Luật Đất đai năm 2024 quy định: (i) đất tôn giáo bao gồm đất xây dựng cơ sở tôn giáo, trụ sở của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc và công trình tôn giáo hợp pháp khác; (ii) Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất đối với đất xây dựng cơ sở tôn giáo, trụ sở của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc; (iii) Nhà nước cho thuê đất thu tiền thuê đất hằng năm đối với các trường hợp sử dụng đất không thuộc khoản 2; (iv) Ủy ban nhân dân (UBND) cấp tỉnh căn cứ nhu cầu thực tế và khả năng quỹ đất để quy định hạn mức và quyết định diện tích đất giao; (v) trường hợp Nhà nước thu hồi đất tôn giáo thì được bố trí địa điểm mới phù hợp với quỹ đất địa phương và sinh hoạt tôn giáo của tín đồ.

Điểm mới quan trọng khác là Điều 218 Luật Đất đai năm 2024 cho phép đất tôn giáo, đất tín ngưỡng được sử dụng kết hợp đa mục đích, gồm mục đích thương mại, dịch vụ. Quy định này mở ra khả năng tổ chức tôn giáo khai thác giá trị kinh tế từ quỹ đất, nhưng đồng thời đặt ra yêu cầu phải đồng bộ với pháp luật tín ngưỡng, tôn giáo, tuy nhiên, Điều 76 Bộ luật Dân sự năm 2015 đang quy định tổ chức tôn giáo là pháp nhân phi thương mại. Điểm chưa rõ ràng là ở chỗ: dự thảo Luật chưa quy định rõ tổ chức tôn giáo có được thực hiện hoạt động thương mại, dịch vụ trên đất được giao hay không; đồng thời, không có cơ chế giám sát để bảo đảm phần thu nhập từ hoạt động thương mại không được phân phối cho thành viên, vốn là điều kiện cốt lõi để duy trì tư cách pháp nhân phi thương mại.

2. Thực tiễn thi hành và bất cập nhận diện

Trên cơ sở Báo cáo tổng kết việc thi hành Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 của Bộ Dân tộc và Tôn giáo từ ngày 01/01/2018 đến hết ngày 30/9/2025 (báo cáo tổng kết) và các nguồn tài liệu liên quan, phần này nhận diện bốn nhóm vấn đề chính trong thực tiễn thi hành Chương VII Luật năm 2016: cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; tách bạch tài sản giữa tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc; xây dựng công trình tôn giáo; di dời công trình tín ngưỡng, tôn giáo.

2.1. Cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo

Báo cáo tổng kết chỉ ra, trong gần 08 năm thực hiện, việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc ở một số địa phương còn chậm. Cả nước có 117.889.259/161.243.154m2 (73,1%) đất tôn giáo đang sử dụng được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; còn 43.353.895/161.243.154m2 (26,9%) đất chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất[2]. Tỷ lệ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho cơ sở tín ngưỡng còn thấp hơn đáng kể. Nguyên nhân chính là: một số cơ sở có diện tích nằm trong rừng phòng hộ, rừng đặc dụng; chưa xác định rõ được ranh giới đất; tranh chấp với nhân dân địa phương chưa được giải quyết[3].

Bên cạnh đó, nhiều địa phương chưa có quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất tôn giáo để bố trí giao đất, trong khi nhu cầu xây dựng cơ sở thờ tự ngày càng tăng dẫn đến chính quyền địa phương lúng túng, bị động khi giải quyết. Theo báo cáo tổng kết, thực trạng này tạo kẽ hở để một số người đại diện cơ sở tôn giáo lợi dụng lấn chiếm, mua đất, thậm chí một số nơi tạo sức ép buộc tín đồ hiến nhượng nhằm mở rộng khuôn viên cơ sở tôn giáo. Quy hoạch tổng thể về sử dụng đất tín ngưỡng, tôn giáo chưa được cơ quan chức năng hướng dẫn và quan tâm đúng mức; trong khi Bộ Nội vụ từ năm 2018 đến đầu năm 2025 phải thực hiện đôn đốc, giải quyết nhà đất liên quan đến tôn giáo tại 10 tỉnh, thành phố, điều này cho thấy tính chất phức tạp và kéo dài của vấn đề[4].

Đặc biệt, Điều 145 Luật Đất đai năm 2024 quy định cụ thể về thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất (sau đây gọi tắt là Giấy chứng nhận) cho tổ chức tôn giáo: tổ chức tôn giáo phải tự rà soát, kê khai việc sử dụng đất và báo cáo UBND cấp tỉnh; UBND cấp tỉnh kiểm tra thực tế, xác định ranh giới cụ thể và cấp Giấy chứng nhận khi đáp ứng đủ 03 điều kiện (được Nhà nước cho phép hoạt động; đất không có tranh chấp; không phải đất nhận chuyển nhượng, tặng cho từ 01/7/2004). Quy định này tạo cơ sở pháp lý để đẩy nhanh tiến độ cấp Giấy chứng nhận, song, dự thảo Luật chưa có quy định liên thông bổ trợ tương ứng như ghi nhận trách nhiệm của tổ chức tôn giáo phối hợp rà soát theo pháp luật đất đai.

2.2. Tách bạch tài sản giữa tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc

Theo Điều 23 Luật năm 2016, một trong những nội dung cần quy định trong hiến chương của tổ chức tôn giáo là vấn đề về tài chính, tài sản. Phần lớn các tổ chức tôn giáo có sự phân định tài sản giữa tổ chức tôn giáo với các tổ chức tôn giáo trực thuộc. Tuy nhiên, báo cáo tổng kết nhận định: “Một số tổ chức khác liên quan đến nội dung này lại quy định rất chung chung, dẫn đến khó thực hiện. Việc không tách bạch được tài sản dẫn đến những khó khăn cho các tổ chức tôn giáo khi đăng ký pháp nhân phi thương mại cho tổ chức tôn giáo trực thuộc”[5]. Theo báo cáo tổng kết, trong thực tiễn, có tổ chức tôn giáo giao quyền quản lý tài sản cho tổ chức tôn giáo trực thuộc (một số hệ phái Tin Lành), trong khi một số tổ chức tôn giáo khác quy định tài sản đều do tổ chức tôn giáo quản lý[6]. Sự đa dạng này phản ánh đặc thù tổ chức của từng tôn giáo và không phải là vấn đề cần Nhà nước can thiệp trực tiếp. Tuy nhiên, pháp luật cần có cơ chế tạo thuận lợi để tổ chức tôn giáo tự xác định rõ chế độ tài sản trong hiến chương.

2.3. Xây dựng công trình tôn giáo

Báo cáo tổng kết ghi nhận, đa số tổ chức tôn giáo thực hiện nghiêm túc quy định pháp luật về xây dựng khi cải tạo, nâng cấp, xây dựng mới công trình tín ngưỡng, công trình tôn giáo. Tuy nhiên, còn tồn tại một số tổ chức vi phạm. Nguyên nhân một phần do sự chồng chéo trong thủ tục hành chính. Đối với các công trình sửa chữa, cải tạo làm thay đổi kết cấu chịu lực, đặc biệt là công trình gắn với di tích, thủ tục cấp phép phải qua quy trình tham vấn của nhiều cơ quan (cơ quan quản lý xây dựng, cơ quan quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo và cơ quan quản lý văn hóa)[7]. Việc thiếu cơ chế “một cửa liên thông” làm cho thời gian thẩm định bị kéo dài, không đáp ứng kịp thời nhu cầu tu sửa cấp thiết khi cơ sở thờ tự bị xuống cấp nghiêm trọng, đe dọa an toàn của tín đồ. Sự ách tắc thủ tục này đối ngược với nhu cầu sinh hoạt tâm linh cấp bách, chính là một phần nguyên nhân dẫn đến hệ quả còn hàng chục công trình tôn giáo buộc phải tự ý xây dựng, cải tạo không phép trong thời gian qua như báo cáo tổng kết đã chỉ ra[8].

2.4. Di dời công trình tín ngưỡng, tôn giáo

Điều 59 Luật năm 2016 chỉ quy định ngắn gọn: “Việc di dời công trình tín ngưỡng, công trình tôn giáo vì mục đích quốc phòng, an ninh, phát triển kinh tế - xã hội, vì lợi ích quốc gia, công cộng thực hiện theo quy định của pháp luật về đất đai và pháp luật về xây dựng”. Quy định dẫn chiếu hoàn toàn này không đáp ứng được tính đặc thù của tài sản cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo, vốn có giá trị tâm linh, văn hóa, lịch sử bên cạnh giá trị vật chất. Dự thảo Luật đã nhận diện hạn chế này nên Điều 55 bổ sung thêm cụm từ “và pháp luật về di sản văn hóa” bên cạnh pháp luật về đất đai, pháp luật về xây dựng, mở rộng phạm vi dẫn chiếu so với Luật năm 2016.

Thực tiễn cho thấy, việc di dời công trình tín ngưỡng, tôn giáo luôn nhạy cảm, dễ phát sinh khiếu kiện kéo dài nếu không có quy trình bồi thường, tái định cư đặc thù, bảo tồn giá trị tâm linh. Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được ghi nhận tại Điều 24 Hiến pháp năm 2013 và Điều 18 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR) gồm quyền thực hành tôn giáo, trong đó có quyền sử dụng nơi thờ tự. Trong khoa học pháp lý so sánh, tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo có tính chất kép: vừa là tài sản vật chất, vừa là không gian thiêng gắn với quyền tự do tôn giáo. Do vậy, cơ chế di dời đối với công trình tín ngưỡng, công trình tôn giáo cần quy định rõ trách nhiệm phối hợp của các cơ quan chức năng liên quan[9].

3. Điểm mới của dự thảo Luật về tài sản và những vấn đề cần tiếp tục hoàn thiện

Đối chiếu cụ thể từng điều khoản của Chương VII dự thảo Luật (Điều 52 - Điều 55) với Chương VII Luật năm 2016 (Điều 56 - Điều 59) để đánh giá mức độ thay đổi và nhận diện những vấn đề cần tiếp tục hoàn thiện. Việc đối chiếu cho thấy, mặc dù, các bất cập đã được nhận diện qua gần 08 năm thi hành (như phân tích tại Mục 2), Chương VII dự thảo Luật chủ yếu bổ sung kỹ thuật lập pháp mà chưa giải quyết hết các vấn đề mang tính hệ thống, đặc biệt là liên thông với Luật Đất đai năm 2024.

3.1. So sánh Chương VII dự thảo Luật với Chương VII Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016

Chương VII dự thảo Luật gồm 04 điều (Điều 52 - Điều 55), tương ứng với 04 điều của Chương VII Luật năm 2016 (Điều 56 - Điều 59).

Điều 52 dự thảo Luật giữ nguyên nội dung Điều 56 Luật năm 2016, chỉ thay đổi cách viết tại khoản 5. Về cơ bản, Điều 52 đã phân biệt tài sản hình thành từ cộng đồng (khoản 3) với tài sản thuộc tổ chức tôn giáo có tư cách pháp nhân (khoản 4). Tuy nhiên, dự thảo Luật chưa quy định rõ nguyên tắc xác định chế độ sở hữu tài sản theo loại hình chủ thể, dẫn đến khó khăn trong thực tiễn áp dụng, đặc biệt, đối với tổ chức tôn giáo trực thuộc khi đăng ký pháp nhân phi thương mại. Quyền sở hữu tài sản hợp pháp của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo được Nhà nước bảo hộ theo khoản 3 Điều 3 Luật năm 2016[10], do đó, việc xác định rõ ràng chủ thể sở hữu tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo là nền tảng để bảo vệ quyền tài sản một cách hiệu quả.

Điều 53 dự thảo Luật giữ nguyên Điều 57 Luật năm 2016, dẫn chiếu “theo quy định của pháp luật về đất đai”.

Điều 54 dự thảo Luật bổ sung cụm từ “bảo quản”, “tu bổ, phục hồi” và “công trình phụ trợ” vào tên điều luật. Đây là điểm bổ sung quan trọng, phản ánh nhu cầu đồng bộ với các luật chuyên ngành liên quan. Cụ thể, Luật Xây dựng năm 2014, sửa đổi, bổ sung năm 2020 (Luật Xây dựng năm 2014) quy định đặc thù cho công trình tôn giáo về thủ tục lập dự án, yêu cầu ý kiến cơ quan chuyên môn về tín ngưỡng, tôn giáo trong hồ sơ cấp phép và chấp thuận của cơ quan quản lý văn hóa đối với di tích. Luật Di sản văn hóa năm 2024 cũng yêu cầu bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích phải giữ gìn tối đa yếu tố gốc và phải có ý kiến cơ quan chuyên môn về văn hóa cấp tỉnh. Tuy nhiên, khoản 2 Điều 54 dự thảo Luật chỉ dẫn chiếu chung “theo pháp luật về di sản văn hóa, pháp luật về xây dựng và pháp luật khác có liên quan” mà không chỉ rõ quy trình phối hợp giữa cơ quan quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo với cơ quan quản lý văn hóa và cơ quan quản lý xây dựng, đồng thời, chưa giao Chính phủ quy định chi tiết cơ chế phối hợp liên ngành, tạo nguy cơ “đùn đẩy” trách nhiệm trong thực tiễn thực hiện.

Điều 55 dự thảo Luật bổ sung thêm “pháp luật về di sản văn hóa” bên cạnh pháp luật về đất đai và pháp luật về xây dựng, mở rộng phạm vi dẫn chiếu so với Điều 59 Luật năm 2016. Việc bổ sung này có ý nghĩa, bởi nhiều cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo đồng thời là di tích lịch sử - văn hóa được xếp hạng. Tuy nhiên, hiện, chưa có văn bản dưới luật nào cụ thể hóa trình tự, thủ tục di dời đặc thù cho công trình tôn giáo, trong khi điểm c khoản 3 Điều 89 Luật Xây dựng năm 2014 chỉ ghi chung “Giấy phép di dời công trình” mà không có thủ tục tham vấn tổ chức tôn giáo hay cộng đồng tín đồ.

3.2. Một số vấn đề chưa được giải quyết qua cơ chế dẫn chiếu tại Điều 53 dự thảo Luật

Điều 53 dự thảo Luật giữ nguyên Điều 57 Luật năm 2016 quy định: “Đất cơ sở tín ngưỡng, đất cơ sở tôn giáo được quản lý và sử dụng theo quy định của pháp luật về đất đai”. Cơ chế dẫn chiếu này có ưu điểm là bảo đảm tính đồng bộ tự động khi pháp luật đất đai thay đổi. Tuy nhiên, vấn đề phát sinh ở giao điểm giữa pháp luật đất đai và pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo mà pháp luật đất đai không thể tự giải quyết, đòi hỏi pháp luật tín ngưỡng, tôn giáo phải có quy định nội dung:

Thứ nhất, Điều 218 Luật Đất đai năm 2024 cho phép đất tôn giáo sử dụng kết hợp đa mục đích, gồm thương mại, dịch vụ. Quy định này thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật đất đai, song, hệ quả pháp lý phụ thuộc vào tư cách chủ thể do pháp luật tín ngưỡng, tôn giáo xác định - tổ chức tôn giáo là pháp nhân phi thương mại, vậy được thực hiện hoạt động thương mại trên đất được giao trong phạm vi nào, với điều kiện gì? Đây là vấn đề pháp luật đất đai không thể giải quyết và dự thảo Luật cũng chưa quy định.

Cụ thể, Điều 76 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định pháp nhân phi thương mại không có mục tiêu chính là tìm kiếm lợi nhuận; nếu có lợi nhuận thì không được phân chia cho các thành viên. Như vậy, pháp nhân phi thương mại không bị cấm thực hiện hoạt động thương mại - cốt lõi là lợi nhuận không được phân chia. Điều 218 Luật Đất đai năm 2024 cho phép đất tôn giáo sử dụng kết hợp đa mục đích, gồm thương mại, dịch vụ. Vấn đề không nằm ở quyền kinh doanh (đã được pháp luật cho phép), mà nằm ở cơ chế kiểm soát tài chính: thu nhập từ hoạt động thương mại, dịch vụ trên đất tôn giáo phải được quản lý như thế nào để bảo đảm không vi phạm điều kiện pháp nhân phi thương mại. Dự thảo Luật chưa quy định về hạch toán, báo cáo tài chính đối với nguồn thu này, tạo khoảng trống pháp lý cần được bổ sung nhằm bảo đảm tính minh bạch trong quản lý, sử dụng đất tôn giáo, đồng thời, bảo vệ tài sản hợp pháp của tổ chức tôn giáo theo khoản 3 Điều 3 Luật năm 2016.

Thứ hai, khoản 6 Điều 213 Luật Đất đai năm 2024 quy định khi thu hồi đất tôn giáo thì “được bố trí địa điểm mới phù hợp với quỹ đất của địa phương và sinh hoạt tôn giáo của các tín đồ”. Tiêu chí “phù hợp” cần được pháp luật tín ngưỡng, tôn giáo cụ thể hóa, bởi pháp luật đất đai không xác định thế nào là “phù hợp” với sinh hoạt tôn giáo. Chẳng hạn, phù hợp về vị trí (thuận tiện giao thông, gần khu dân cư có tín đồ); về diện tích (tương đương hoặc không nhỏ hơn cơ sở cũ); về điều kiện sinh hoạt tôn giáo (đáp ứng nhu cầu hành lễ, số lượng tín đồ) và về bảo tồn giá trị tâm linh nếu cơ sở có giá trị lịch sử, văn hóa. Ủy ban Nhân quyền Liên hợp quốc trong Bình luận chung số 22 (1993) giải thích Điều 18 ICCPR đã khẳng định quyền thực hành tôn giáo bao gồm việc sử dụng nơi thờ tự[11]; do vậy, tiêu chí bố trí địa điểm mới khi thu hồi đất tôn giáo cần bảo đảm không làm gián đoạn hoặc hạn chế bất hợp lý quyền thực hành tôn giáo của tín đồ. Đây là nội dung thuộc phạm vi chuyên ngành tín ngưỡng, tôn giáo, không phải phạm vi điều chỉnh của pháp luật đất đai.

4. Kiến nghị hoàn thiện quy định về tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo

Trên cơ sở các vấn đề đã được phân tích, nhận diện trên, nghiên cứu đề xuất bốn nhóm kiến nghị cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo và đồng bộ với Bộ luật Dân sự năm 2015, Luật Đất đai năm 2024.

Một là, quy định chi tiết, cụ thể, rõ ràng về cơ chế chuyển đổi tài sản khi chủ thể thay đổi tư cách pháp lý.

Bộ luật Dân sự năm 2015 đã quy định rõ chế độ sở hữu pháp nhân (Điều 81) và sở hữu chung của cộng đồng (Điều 211), do đó, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo không cần lặp lại các quy phạm này. Tuy nhiên, thực tiễn thi hành cho thấy khi nhóm sinh hoạt tôn giáo tập trung trải qua quá trình hoạt động, được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo và cuối cùng phát triển thành tổ chức tôn giáo được Nhà nước công nhận (chính thức có tư cách pháp nhân phi thương mại), tài sản ban đầu thuộc sở hữu chung của cộng đồng cần được chuyển đổi sang sở hữu pháp nhân. Mặc dù vậy, hiện chưa có trình tự pháp lý nào quy định việc chuyển đổi này. Vì vậy, sau khi dự thảo Luật được thông qua, các văn bản hướng dẫn thi hành cần quy định cụ thể, chi tiết, rõ ràng về cơ chế và trình tự chuyển đổi tài sản từ hình thức sở hữu chung của cộng đồng sang sở hữu của pháp nhân khi chủ thể quản lý được cơ quan nhà nước công nhận tư cách tổ chức tôn giáo, nhằm bảo đảm tính liên tục trong quản lý, sử dụng tài sản và tạo thuận lợi cho tổ chức tôn giáo trực thuộc khi đăng ký pháp nhân phi thương mại[12].

Hai là, quy định quy định chi tiết, cụ thể, rõ ràng về tách bạch tài sản trong hiến chương tổ chức tôn giáo.

Sau khi dự thảo Luật được thông qua, văn bản hướng dẫn thi hành cần quy định cụ thể, chi tiết, rõ ràng về: (i) nguyên tắc phân định tài sản giữa tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc; (ii) cơ chế quản lý, sử dụng, định đoạt tài sản chung; (iii) trách nhiệm của người đại diện trong quản lý tài sản. Quy định này không can thiệp vào nội dung tự quản mà chỉ yêu cầu tổ chức phải có quy định nội dung cụ thể, do tổ chức tôn giáo tự quyết định. Điều này phù hợp với quan điểm được thừa nhận rộng rãi trong khoa học pháp lý quốc tế về tự do tôn giáo: quyền tự quản nội bộ của tổ chức tôn giáo cần được tôn trọng, song, Nhà nước có thể đặt ra các yêu cầu về minh bạch và trách nhiệm giải trình nhằm bảo vệ lợi ích công cộng[13].

Ba là, hoàn thiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo để phù hợp với Luật Đất đai năm 2024.

Sau khi dự thảo Luật được thông qua, văn bản hướng dẫn thi hành cần quy định cụ thể, chi tiết, rõ ràng các nội dung sau:

(i) Ghi nhận nguyên tắc đất tín ngưỡng, đất tôn giáo được quản lý và sử dụng theo pháp luật về đất đai, nhưng phải bảo đảm phục vụ nhu cầu tín ngưỡng, tôn giáo của cộng đồng. Nguyên tắc này tạo nền tảng giải thích và áp dụng pháp luật đất đai trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo, phù hợp với Điều 24 Hiến pháp năm 2013 về bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.

(ii) Bổ sung nguyên tắc về quản lý nguồn thu từ hoạt động sử dụng đất kết hợp đa mục đích theo Điều 218 Luật Đất đai năm 2024: nguồn thu từ hoạt động thương mại, dịch vụ trên đất tôn giáo phải được hạch toán độc lập và sử dụng toàn bộ cho hoạt động tôn giáo, từ thiện, nhân đạo, không được phân phối cho thành viên, phù hợp với tư cách pháp nhân phi thương mại theo Điều 76 Bộ luật Dân sự năm 2015. Chính phủ cần quy định chi tiết cơ chế giám sát, báo cáo tài chính đối với nguồn thu này[14].

Bốn là, hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền lợi của tổ chức tôn giáo khi di dời công trình tín ngưỡng, tôn giáo.

Mặc dù, Điều 55 dự thảo Luật đã sử dụng kỹ thuật dẫn chiếu sang pháp luật về đất đai, xây dựng và di sản văn hóa đối với việc di dời công trình tín ngưỡng, tôn giáo, tuy nhiên, để làm đậm nét nguyên tắc bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo theo Điều 24 Hiến pháp năm 2013, sau khi dự thảo Luật được thông qua, văn bản hướng dẫn thi hành cần quy định cụ thể, chi tiết, rõ ràng về việc lập phương án thu hồi đất và di dời công trình tín ngưỡng, công trình tôn giáo phải bảo đảm nguyên tắc tham vấn với tổ chức, cá nhân quản lý cơ sở đó.

Tuy nhiên, dưới góc độ kỹ thuật lập pháp hệ thống, trong khi việc di dời công trình kiến trúc chịu sự điều chỉnh đan xen của pháp luật về xây dựng và di sản văn hóa, thì toàn bộ chuỗi hành vi hành chính mang tính nền tảng từ thu hồi đất đến bồi thường, hỗ trợ và bố trí tái định cư lại thuộc phạm vi điều chỉnh chuyên biệt của pháp luật đất đai. Do đó, để nguyên tắc tham vấn tại Điều 55 dự thảo Luật đi vào thực tiễn, nghiên cứu kiến nghị phương án thực thi song song. Cụ thể: bổ sung vào nghị định hướng dẫn thi hành Luật Đất đai năm 2024 quy định khi thu hồi đất tín ngưỡng, đất tôn giáo, thành phần Hội đồng bồi thường, hỗ trợ, tái định cư (theo khoản 2 Điều 86 Luật Đất đai năm 2024) hoặc các buổi đối thoại, lấy ý kiến (theo khoản 3 Điều 87 Luật Đất đai năm 2024) bắt buộc phải có sự tham gia chính thức của người đại diện cơ sở tín ngưỡng, đại diện tổ chức tôn giáo bị ảnh hưởng[15].

Kết luận

Chương VII dự thảo Luật gần như giữ nguyên Chương VII Luật năm 2016 và còn một số nội dung cần làm rõ để tiếp tục hoàn thiện, khắc phục các bất cập đã bộc lộ qua 08 năm thi hành và đồng bộ hơn với Luật Đất đai năm 2024. Nghiên cứu đề xuất các kiến nghị hướng tới ba mục tiêu: (i) đồng bộ Luật Tín ngưỡng, tôn giáo với Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật Đất đai năm 2024, đặc biệt, bổ sung cơ chế chuyển đổi tài sản khi chủ thể thay đổi tư cách pháp lý, nguyên tắc quản lý nguồn thu từ sử dụng đất đa mục đích và tương thích hóa với mô hình chính quyền địa phương hai cấp; (ii) cụ thể hóa các điều khoản dẫn chiếu, nhất là về đất đai và di dời, thông qua ghi nhận nguyên tắc tham vấn cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo, đồng thời, đề xuất phương án thực thi qua pháp luật đất đai; (iii) bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và bảo vệ tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo khỏi bị xâm phạm, phù hợp với Điều 24 Hiến pháp năm 2013 và khoản 3 Điều 3 Luật năm 2016. Khoản 3 Điều 4 dự thảo Luật đã ghi nhận nguyên tắc bảo hộ tài sản hợp pháp của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo, nguyên tắc này cần được cụ thể hóa tại Chương VII bằng các quy định chi tiết, có tính khả thi.

(Ảnh: Internet)

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Bộ Dân tộc và Tôn giáo (2025), Báo cáo số 3257/BC-BDTTG ngày 31/12/2025 tổng kết việc thi hành Luật tín ngưỡng, tôn giáo (từ ngày 01/01/2018 đến hết ngày 30/9/2025).

2. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) trình Quốc hội khóa XVI.

3. Heiner Bielefeldt (2013), Misperceptions of Freedom of Religion or Belief, Human Rights Quarterly, Vol. 35, No. 1, pp. 33-68.

4. Rex Ahdar, Ian Leigh (2013), Religious Freedom in the Liberal State, 2nd ed., Oxford University Press, Oxford.

5. W. Cole Durham Jr., Brett G. Scharffs (2019), Law and Religion: National, International, and Comparative Perspectives, 2nd ed., Wolters Kluwer, New York.


  1. Bộ Dân tộc và Tôn giáo (2025), Báo cáo số 3257/BC-BDTTG ngày 31/12/2025 tổng kết việc thi hành Luật tín ngưỡng, tôn giáo (từ ngày 01/01/2018 đến hết ngày 30/9/2025), tr.22-23.

  2. Bộ Dân tộc và Tôn giáo (2025), tlđd, tr.21.

  3. Bộ Dân tộc và Tôn giáo (2025), tlđd, tr.22.

  4. Bộ Dân tộc và Tôn giáo (2025), tlđd, tr.21-22.

  5. Bộ Dân tộc và Tôn giáo (2025), tlđd, tr.23.

  6. Bộ Dân tộc và Tôn giáo (2025), tlđd, tr.23.

  7. Điểm b khoản 4 Điều 95 và khoản 4 Điều 96 Luật Xây dựng năm 2014; Khoản 2 Điều 36 Luật Di sản văn hóa năm 2024.

  8. Bộ Dân tộc và Tôn giáo (2025), tlđd, tr.23

  9. Ủy ban Nhân quyền Liên hợp quốc (1993), Bình luận chung số 22: Quyền tự do tư tưởng, tín ngưỡng và tôn giáo (Điều 18 ICCPR), đoạn 4; W. Cole Durham Jr., Brett G. Scharffs (2019), Law and Religion: National, International, and Comparative Perspectives, 2nd ed., Wolters Kluwer, New York; Rex Ahdar, Ian Leigh (2013), Religious Freedom in the Liberal State, 2nd ed., Oxford University Press, Oxford.

  10. Khoản 3 Điều 3 Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016; khoản 3 Điều 4 dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi).

  11. Ủy ban Nhân quyền Liên hợp quốc (1993), Bình luận chung số 22: Quyền tự do tư tưởng, tín ngưỡng và tôn giáo (Điều 18 ICCPR), đoạn 4.

  12. Điều 81, Điều 211 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 27, khoản 3 Điều 52 dự thảo Luật.

  13. Heiner Bielefeldt (2013), Misperceptions of Freedom of Religion or Belief, Human Rights Quarterly, Vol. 35, No. 1, pp.33-68; W. Cole Durham Jr., Brett G. Scharffs (2019), Law and Religion: National, International, and Comparative Perspectives, 2nd ed., Wolters Kluwer, New York.

  14. Điều 213, Điều 218 Luật Đất đai năm 2024; Điều 76 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 53 dự thảo Luật.

  15. Khoản 6 Điều 213 Luật Đất đai năm 2024; Điều 55 dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi); Điều 24 Hiến pháp năm 2013.

ThS. LS. Khuất Tuấn Dương - Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thành nhiều nhiệm vụ quan trọng trong tổng rà soát văn bản tại Bộ Tư pháp

Hoàn thành nhiều nhiệm vụ quan trọng trong tổng rà soát văn bản tại Bộ Tư pháp

Từ ngày 01/9/2026 đến hết ngày 15/9/2026, công tác tổng rà soát văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) tại Bộ Tư pháp đã thực hiện, hoàn thành nhiều nhiệm vụ quan trọng. Đây là kết quả của sự nỗ lực, cố gắng của cơ quan Bộ Tư pháp và các Bộ, ngành, địa phương trong công tác tổng rà soát.
Hoàn thiện cơ chế quản lý thuốc, thiết bị y tế theo hướng chặt chẽ, khả thi

Hoàn thiện cơ chế quản lý thuốc, thiết bị y tế theo hướng chặt chẽ, khả thi

Chiều 21/9, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh chủ trì cuộc họp Hội đồng thẩm định bổ sung dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trẻ em, Luật Người khuyết tật, Luật Khám bệnh, chữa bệnh, Luật Dược, Luật Người cao tuổi và Luật Bảo hiểm y tế. Tham dự cuộc họp có Thứ trưởng Bộ Y tế Đỗ Xuân Tuyên cùng đại diện các đơn vị có liên quan và một số đơn vị thuộc Bộ Tư pháp. Tại cuộc họp, Hội đồng tập trung trao đổi, góp ý đối với các nội dung sửa đổi, bổ sung Luật Khám bệnh, chữa bệnh và Luật Dược.
Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Đất đai năm 2024 xác lập địa vị pháp lý riêng đối với người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài không có quốc tịch Việt Nam trong quan hệ sử dụng đất. Nghiên cứu phân tích quyền và nghĩa vụ của chủ thể này trong sử dụng đất để đầu tư, kinh doanh và sở hữu nhà ở tại Việt Nam; đồng thời, chỉ ra một số tồn tại, hạn chế, bất cập trong quyền tiếp cận, nhận chuyển nhượng và thừa kế quyền sử dụng đất. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính thống nhất của pháp luật đất đai, nhà ở, kinh doanh bất động sản và quyền, lợi ích hợp pháp của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài.
KPI trong xây dựng pháp luật: Phương thức quản trị dựa trên dữ liệu, rõ trách nhiệm, rõ kết quả

KPI trong xây dựng pháp luật: Phương thức quản trị dựa trên dữ liệu, rõ trách nhiệm, rõ kết quả

Ngày 21/9, Bộ Tư pháp tổ chức Hội thảo Công bố, triển khai Bộ Tài liệu hướng dẫn thực hiện đánh giá, chấm điểm (KPI) về công tác xây dựng pháp luật, trong khuôn khổ hợp tác giữa Bộ Tư pháp Việt Nam và Dự án “Tăng cường pháp luật và tư pháp tại Việt Nam giai đoạn II” (EU JULE) do Liên minh châu Âu tài trợ. Thứ trưởng Bộ Tư pháp Đặng Hoàng Oanh chủ trì Hội thảo.
Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Tóm tắt: Hồ sơ điện tử vụ án hình sự là một bước chuyển từ phương thức quản lý hồ sơ truyền thống sang quản lý và quản trị dữ liệu tố tụng trên môi trường số. Nghiên cứu phân tích sự hình thành hồ sơ điện tử vụ án hình sự trong bối cảnh chuyển đổi số trong tố tụng hình sự, trên cơ sở Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự và văn bản chỉ đạo của Chính phủ1, thông tư quy định chi tiết2. Từ góc độ quản trị dữ liệu tố tụng, nghiên cứu làm rõ sự chuyển dịch từ quản lý hồ sơ giấy sang quản trị dữ liệu tố tụng số; phân tích các chức năng pháp lý của hồ sơ điện tử vụ án hình sự và những vấn đề đặt ra trong quá trình triển khai, gồm chuẩn hóa dữ liệu, liên thông dữ liệu và xây dựng khung kiến trúc dữ liệu tố tụng hình sự. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện khung pháp luật và cơ chế quản trị dữ liệu nhằm triển khai thống nhất hồ sơ điện tử vụ án trong hoạt động tố tụng hình sự.
Đổi mới tư duy, đưa cuộc sống vào pháp luật

Đổi mới tư duy, đưa cuộc sống vào pháp luật

Phát biểu kết luận Hội thảo khoa học cấp quốc gia "Những giải pháp tạo đột phá nâng cao hiệu quả công tác tổ chức thi hành pháp luật, thúc đẩy việc xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật" tổ chức ngày 21/9/2026, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Khắc Định nhấn mạnh yêu cầu đổi mới tư duy, hoàn thiện cơ chế và nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành pháp luật; trong đó, muốn pháp luật nhanh chóng đi vào cuộc sống, phát huy hiệu quả thì trước hết phải đưa cuộc sống vào trong pháp luật.
Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Tóm tắt: Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)[1] (dự thảo Luật) đang xem xét bỏ công chứng bắt buộc đối với một số giao dịch về quyền sử dụng đất, đặt ra yêu cầu hài hòa giữa cải cách thủ tục hành chính với bảo vệ quyền tài sản, phòng ngừa tranh chấp và bảo đảm an toàn pháp lý cho thị trường quyền sử dụng đất. Trên cơ sở phương pháp phân tích pháp lý, kinh tế học pháp luật, pháp luật so sánh và thực tiễn xét xử, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết phải công chứng đối với quyền sử dụng đất - một loại tài sản và hàng hóa đặc biệt, có giá trị lớn, cần được nhìn nhận như chi phí phòng ngừa rủi ro, thay vì chỉ là chi phí thủ tục. Từ đó, nghiên cứu đề xuất duy trì công chứng bắt buộc đối với các giao dịch có rủi ro pháp lý cao hoặc liên quan đến chủ thể cần được bảo vệ đặc biệt; đối với giao dịch có rủi ro thấp hơn, có thể mở rộng quyền lựa chọn công chứng hoặc cơ chế xác thực khác khi hạ tầng dữ liệu, hệ thống đăng ký và cơ chế trách nhiệm thay thế bảo đảm đáp ứng yêu cầu an toàn pháp lý.
Phó Thủ tướng Lê Tiến Châu: Tạo môi trường để người dân, doanh nghiệp "dễ làm đúng, muốn làm đúng" pháp luật

Phó Thủ tướng Lê Tiến Châu: Tạo môi trường để người dân, doanh nghiệp "dễ làm đúng, muốn làm đúng" pháp luật

Ngày 21/9/2026, Hội thảo khoa học cấp quốc gia "Những giải pháp tạo đột phá nâng cao hiệu quả công tác tổ chức thi hành pháp luật, thúc đẩy việc xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật" được tổ chức tại trụ sở Bộ Tư pháp.
Đổi mới Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật trong kỷ nguyên số

Đổi mới Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật trong kỷ nguyên số

Ngày 18/9, ông Nguyễn Duy Thắng, Phó Cục trưởng Cục Kiểm tra văn bản và Tổ chức thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp chủ trì Hội thảo lấy ý kiến góp ý dự thảo Nghị định thay thế Nghị định số 52/2015/NĐ-CP về cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật. Tham dự cuộc họp có đại diện các đơn vị có liên quan và một số đơn vị thuộc Bộ Tư pháp.
Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Nâng cao năng lực, tính chuyên nghiệp cho đội ngũ cán bộ, công chức tư pháp xã, phường, đặc khu

Nâng cao năng lực, tính chuyên nghiệp cho đội ngũ cán bộ, công chức tư pháp xã, phường, đặc khu

Chương trình bồi dưỡng nghiệp vụ theo vị trí việc làm cho công chức thực hiện nhiệm vụ tư pháp xã, phường, đặc khu (Chương trình) tập trung vào tập huấn kỹ năng, đặc biệt các kỹ năng liên quan đến chuyển đổi số, quản lý, khai thác cơ sở dữ liệu và xử lý tình huống gắn với những khó khăn, vướng mắc trong thực tế triển khai thực hiện công việc.
Triển khai kịp thời, hiệu quả Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước

Triển khai kịp thời, hiệu quả Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước

Ngày 15/9/2026, Phó Thủ tướng Lê Tiến Châu ký Quyết định số 1788/QĐ-TTg ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
Đề xuất phương án xác định phạm vi hòa giải ở cơ sở

Đề xuất phương án xác định phạm vi hòa giải ở cơ sở

Sáng ngày 16/9, Bộ Tư pháp tổ chức Hội thảo góp ý dự thảo Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hòa giải ở cơ sở (dự thảo Nghị định). Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Ngọc, Tổ trưởng Tổ soạn thảo chủ trì Hội thảo. Đồng chủ trì Hội thảo có Phó Cục trưởng Cục Phổ biến, giáo dục pháp luật và Trợ giúp pháp lý Ngô Quỳnh Hoa.

Theo dõi chúng tôi trên: