Từ khóa: tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo; đất tín ngưỡng, tôn giáo; pháp nhân phi thương mại; dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi).
Đặt vấn đề
Tài sản hợp pháp của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo được Nhà nước bảo hộ theo khoản 3 Điều 3 Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (Luật năm 2016), tương ứng khoản 3 Điều 4 dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) (dự thảo Luật), trên nền tảng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo quy định tại Điều 24 Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013). Chế định tài sản này nằm ở giao điểm giữa pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo với pháp luật dân sự, đất đai và di sản văn hóa, đang bộc lộ những vấn đề cần giải quyết như: 26,9% diện tích đất tôn giáo chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; không tách bạch được tài sản giữa tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc[1]. Trong khi, Điều 213 Luật Đất đai năm 2024 đã có hiệu lực với nhiều thay đổi quan trọng, nhưng Chương VII dự thảo Luật gần như giữ nguyên nội dung Luật năm 2016. Nghiên cứu phân tích những vấn đề pháp lý của chế định tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo từ góc độ liên thông với Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật Đất đai năm 2024, đồng thời, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo.
1. Khung pháp lý về tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo
Để đánh giá tính phù hợp của Chương VII dự thảo Luật, trước hết, cần nhận diện khung pháp lý hiện hành điều chỉnh tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo gồm hai trụ cột chính: chế độ sở hữu theo Bộ luật Dân sự năm 2015 và chế độ sử dụng đất theo Luật Đất đai năm 2024.
1.1. Chế độ sở hữu tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo theo Bộ luật Dân sự năm 2015
Bộ luật Dân sự năm 2015 chưa có chế định riêng về tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo, nhưng cung cấp khung pháp lý nền tảng thông qua hai chế định: (i) pháp nhân phi thương mại (Điều 76) - tổ chức tôn giáo được công nhận theo Luật năm 2016 có tư cách pháp nhân phi thương mại, do đó, tài sản của tổ chức là tài sản thuộc sở hữu pháp nhân (Điều 81), tách biệt với tài sản cá nhân thành viên; (ii) sở hữu chung (Điều 207 - Điều 220), trong đó sở hữu chung của cộng đồng (Điều 211) được viện dẫn bởi Luật năm 2016 để điều chỉnh tài sản cơ sở tín ngưỡng, cơ sở tôn giáo hình thành theo tập quán, từ đóng góp, quyên góp, tặng cho của cộng đồng.
Điểm đáng lưu ý là Bộ luật Dân sự năm 2015 phân biệt rõ sở hữu pháp nhân (tài sản do pháp nhân sở hữu, quản lý theo điều lệ) tại Điều 81 với sở hữu chung của cộng đồng (tài sản do cộng đồng cùng quản lý, sử dụng theo tập quán) tại Điều 211. Hai chế độ sở hữu này có hệ quả pháp lý khác nhau: tài sản pháp nhân được chuyển nhượng, thế chấp, góp vốn theo quy định pháp luật; tài sản sở hữu chung của cộng đồng chỉ được sử dụng, bảo quản theo tập quán, không được phân chia cho các thành viên cộng đồng. Việc phân biệt này có ý nghĩa quan trọng khi xác định chế độ pháp lý áp dụng cho tài sản của từng loại cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo - tùy thuộc vào nguồn gốc hình thành và tư cách chủ thể quản lý.
1.2. Đất tín ngưỡng, đất tôn giáo theo Luật Đất đai năm 2024
Luật Đất đai năm 2024 tách bạch hai loại đất: đất tín ngưỡng và đất tôn giáo. Cụ thể, Điều 213 Luật Đất đai năm 2024 quy định: (i) đất tôn giáo bao gồm đất xây dựng cơ sở tôn giáo, trụ sở của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc và công trình tôn giáo hợp pháp khác; (ii) Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất đối với đất xây dựng cơ sở tôn giáo, trụ sở của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc; (iii) Nhà nước cho thuê đất thu tiền thuê đất hằng năm đối với các trường hợp sử dụng đất không thuộc khoản 2; (iv) Ủy ban nhân dân (UBND) cấp tỉnh căn cứ nhu cầu thực tế và khả năng quỹ đất để quy định hạn mức và quyết định diện tích đất giao; (v) trường hợp Nhà nước thu hồi đất tôn giáo thì được bố trí địa điểm mới phù hợp với quỹ đất địa phương và sinh hoạt tôn giáo của tín đồ.
Điểm mới quan trọng khác là Điều 218 Luật Đất đai năm 2024 cho phép đất tôn giáo, đất tín ngưỡng được sử dụng kết hợp đa mục đích, gồm mục đích thương mại, dịch vụ. Quy định này mở ra khả năng tổ chức tôn giáo khai thác giá trị kinh tế từ quỹ đất, nhưng đồng thời đặt ra yêu cầu phải đồng bộ với pháp luật tín ngưỡng, tôn giáo, tuy nhiên, Điều 76 Bộ luật Dân sự năm 2015 đang quy định tổ chức tôn giáo là pháp nhân phi thương mại. Điểm chưa rõ ràng là ở chỗ: dự thảo Luật chưa quy định rõ tổ chức tôn giáo có được thực hiện hoạt động thương mại, dịch vụ trên đất được giao hay không; đồng thời, không có cơ chế giám sát để bảo đảm phần thu nhập từ hoạt động thương mại không được phân phối cho thành viên, vốn là điều kiện cốt lõi để duy trì tư cách pháp nhân phi thương mại.
2. Thực tiễn thi hành và bất cập nhận diện
Trên cơ sở Báo cáo tổng kết việc thi hành Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 của Bộ Dân tộc và Tôn giáo từ ngày 01/01/2018 đến hết ngày 30/9/2025 (báo cáo tổng kết) và các nguồn tài liệu liên quan, phần này nhận diện bốn nhóm vấn đề chính trong thực tiễn thi hành Chương VII Luật năm 2016: cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; tách bạch tài sản giữa tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc; xây dựng công trình tôn giáo; di dời công trình tín ngưỡng, tôn giáo.
2.1. Cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo
Báo cáo tổng kết chỉ ra, trong gần 08 năm thực hiện, việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc ở một số địa phương còn chậm. Cả nước có 117.889.259/161.243.154m2 (73,1%) đất tôn giáo đang sử dụng được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; còn 43.353.895/161.243.154m2 (26,9%) đất chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất[2]. Tỷ lệ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho cơ sở tín ngưỡng còn thấp hơn đáng kể. Nguyên nhân chính là: một số cơ sở có diện tích nằm trong rừng phòng hộ, rừng đặc dụng; chưa xác định rõ được ranh giới đất; tranh chấp với nhân dân địa phương chưa được giải quyết[3].
Bên cạnh đó, nhiều địa phương chưa có quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất tôn giáo để bố trí giao đất, trong khi nhu cầu xây dựng cơ sở thờ tự ngày càng tăng dẫn đến chính quyền địa phương lúng túng, bị động khi giải quyết. Theo báo cáo tổng kết, thực trạng này tạo kẽ hở để một số người đại diện cơ sở tôn giáo lợi dụng lấn chiếm, mua đất, thậm chí một số nơi tạo sức ép buộc tín đồ hiến nhượng nhằm mở rộng khuôn viên cơ sở tôn giáo. Quy hoạch tổng thể về sử dụng đất tín ngưỡng, tôn giáo chưa được cơ quan chức năng hướng dẫn và quan tâm đúng mức; trong khi Bộ Nội vụ từ năm 2018 đến đầu năm 2025 phải thực hiện đôn đốc, giải quyết nhà đất liên quan đến tôn giáo tại 10 tỉnh, thành phố, điều này cho thấy tính chất phức tạp và kéo dài của vấn đề[4].
Đặc biệt, Điều 145 Luật Đất đai năm 2024 quy định cụ thể về thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất (sau đây gọi tắt là Giấy chứng nhận) cho tổ chức tôn giáo: tổ chức tôn giáo phải tự rà soát, kê khai việc sử dụng đất và báo cáo UBND cấp tỉnh; UBND cấp tỉnh kiểm tra thực tế, xác định ranh giới cụ thể và cấp Giấy chứng nhận khi đáp ứng đủ 03 điều kiện (được Nhà nước cho phép hoạt động; đất không có tranh chấp; không phải đất nhận chuyển nhượng, tặng cho từ 01/7/2004). Quy định này tạo cơ sở pháp lý để đẩy nhanh tiến độ cấp Giấy chứng nhận, song, dự thảo Luật chưa có quy định liên thông bổ trợ tương ứng như ghi nhận trách nhiệm của tổ chức tôn giáo phối hợp rà soát theo pháp luật đất đai.
2.2. Tách bạch tài sản giữa tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc
Theo Điều 23 Luật năm 2016, một trong những nội dung cần quy định trong hiến chương của tổ chức tôn giáo là vấn đề về tài chính, tài sản. Phần lớn các tổ chức tôn giáo có sự phân định tài sản giữa tổ chức tôn giáo với các tổ chức tôn giáo trực thuộc. Tuy nhiên, báo cáo tổng kết nhận định: “Một số tổ chức khác liên quan đến nội dung này lại quy định rất chung chung, dẫn đến khó thực hiện. Việc không tách bạch được tài sản dẫn đến những khó khăn cho các tổ chức tôn giáo khi đăng ký pháp nhân phi thương mại cho tổ chức tôn giáo trực thuộc”[5]. Theo báo cáo tổng kết, trong thực tiễn, có tổ chức tôn giáo giao quyền quản lý tài sản cho tổ chức tôn giáo trực thuộc (một số hệ phái Tin Lành), trong khi một số tổ chức tôn giáo khác quy định tài sản đều do tổ chức tôn giáo quản lý[6]. Sự đa dạng này phản ánh đặc thù tổ chức của từng tôn giáo và không phải là vấn đề cần Nhà nước can thiệp trực tiếp. Tuy nhiên, pháp luật cần có cơ chế tạo thuận lợi để tổ chức tôn giáo tự xác định rõ chế độ tài sản trong hiến chương.
2.3. Xây dựng công trình tôn giáo
Báo cáo tổng kết ghi nhận, đa số tổ chức tôn giáo thực hiện nghiêm túc quy định pháp luật về xây dựng khi cải tạo, nâng cấp, xây dựng mới công trình tín ngưỡng, công trình tôn giáo. Tuy nhiên, còn tồn tại một số tổ chức vi phạm. Nguyên nhân một phần do sự chồng chéo trong thủ tục hành chính. Đối với các công trình sửa chữa, cải tạo làm thay đổi kết cấu chịu lực, đặc biệt là công trình gắn với di tích, thủ tục cấp phép phải qua quy trình tham vấn của nhiều cơ quan (cơ quan quản lý xây dựng, cơ quan quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo và cơ quan quản lý văn hóa)[7]. Việc thiếu cơ chế “một cửa liên thông” làm cho thời gian thẩm định bị kéo dài, không đáp ứng kịp thời nhu cầu tu sửa cấp thiết khi cơ sở thờ tự bị xuống cấp nghiêm trọng, đe dọa an toàn của tín đồ. Sự ách tắc thủ tục này đối ngược với nhu cầu sinh hoạt tâm linh cấp bách, chính là một phần nguyên nhân dẫn đến hệ quả còn hàng chục công trình tôn giáo buộc phải tự ý xây dựng, cải tạo không phép trong thời gian qua như báo cáo tổng kết đã chỉ ra[8].
2.4. Di dời công trình tín ngưỡng, tôn giáo
Điều 59 Luật năm 2016 chỉ quy định ngắn gọn: “Việc di dời công trình tín ngưỡng, công trình tôn giáo vì mục đích quốc phòng, an ninh, phát triển kinh tế - xã hội, vì lợi ích quốc gia, công cộng thực hiện theo quy định của pháp luật về đất đai và pháp luật về xây dựng”. Quy định dẫn chiếu hoàn toàn này không đáp ứng được tính đặc thù của tài sản cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo, vốn có giá trị tâm linh, văn hóa, lịch sử bên cạnh giá trị vật chất. Dự thảo Luật đã nhận diện hạn chế này nên Điều 55 bổ sung thêm cụm từ “và pháp luật về di sản văn hóa” bên cạnh pháp luật về đất đai, pháp luật về xây dựng, mở rộng phạm vi dẫn chiếu so với Luật năm 2016.
Thực tiễn cho thấy, việc di dời công trình tín ngưỡng, tôn giáo luôn nhạy cảm, dễ phát sinh khiếu kiện kéo dài nếu không có quy trình bồi thường, tái định cư đặc thù, bảo tồn giá trị tâm linh. Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được ghi nhận tại Điều 24 Hiến pháp năm 2013 và Điều 18 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR) gồm quyền thực hành tôn giáo, trong đó có quyền sử dụng nơi thờ tự. Trong khoa học pháp lý so sánh, tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo có tính chất kép: vừa là tài sản vật chất, vừa là không gian thiêng gắn với quyền tự do tôn giáo. Do vậy, cơ chế di dời đối với công trình tín ngưỡng, công trình tôn giáo cần quy định rõ trách nhiệm phối hợp của các cơ quan chức năng liên quan[9].
3. Điểm mới của dự thảo Luật về tài sản và những vấn đề cần tiếp tục hoàn thiện
Đối chiếu cụ thể từng điều khoản của Chương VII dự thảo Luật (Điều 52 - Điều 55) với Chương VII Luật năm 2016 (Điều 56 - Điều 59) để đánh giá mức độ thay đổi và nhận diện những vấn đề cần tiếp tục hoàn thiện. Việc đối chiếu cho thấy, mặc dù, các bất cập đã được nhận diện qua gần 08 năm thi hành (như phân tích tại Mục 2), Chương VII dự thảo Luật chủ yếu bổ sung kỹ thuật lập pháp mà chưa giải quyết hết các vấn đề mang tính hệ thống, đặc biệt là liên thông với Luật Đất đai năm 2024.
3.1. So sánh Chương VII dự thảo Luật với Chương VII Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016
Chương VII dự thảo Luật gồm 04 điều (Điều 52 - Điều 55), tương ứng với 04 điều của Chương VII Luật năm 2016 (Điều 56 - Điều 59).
Điều 52 dự thảo Luật giữ nguyên nội dung Điều 56 Luật năm 2016, chỉ thay đổi cách viết tại khoản 5. Về cơ bản, Điều 52 đã phân biệt tài sản hình thành từ cộng đồng (khoản 3) với tài sản thuộc tổ chức tôn giáo có tư cách pháp nhân (khoản 4). Tuy nhiên, dự thảo Luật chưa quy định rõ nguyên tắc xác định chế độ sở hữu tài sản theo loại hình chủ thể, dẫn đến khó khăn trong thực tiễn áp dụng, đặc biệt, đối với tổ chức tôn giáo trực thuộc khi đăng ký pháp nhân phi thương mại. Quyền sở hữu tài sản hợp pháp của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo được Nhà nước bảo hộ theo khoản 3 Điều 3 Luật năm 2016[10], do đó, việc xác định rõ ràng chủ thể sở hữu tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo là nền tảng để bảo vệ quyền tài sản một cách hiệu quả.
Điều 53 dự thảo Luật giữ nguyên Điều 57 Luật năm 2016, dẫn chiếu “theo quy định của pháp luật về đất đai”.
Điều 54 dự thảo Luật bổ sung cụm từ “bảo quản”, “tu bổ, phục hồi” và “công trình phụ trợ” vào tên điều luật. Đây là điểm bổ sung quan trọng, phản ánh nhu cầu đồng bộ với các luật chuyên ngành liên quan. Cụ thể, Luật Xây dựng năm 2014, sửa đổi, bổ sung năm 2020 (Luật Xây dựng năm 2014) quy định đặc thù cho công trình tôn giáo về thủ tục lập dự án, yêu cầu ý kiến cơ quan chuyên môn về tín ngưỡng, tôn giáo trong hồ sơ cấp phép và chấp thuận của cơ quan quản lý văn hóa đối với di tích. Luật Di sản văn hóa năm 2024 cũng yêu cầu bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích phải giữ gìn tối đa yếu tố gốc và phải có ý kiến cơ quan chuyên môn về văn hóa cấp tỉnh. Tuy nhiên, khoản 2 Điều 54 dự thảo Luật chỉ dẫn chiếu chung “theo pháp luật về di sản văn hóa, pháp luật về xây dựng và pháp luật khác có liên quan” mà không chỉ rõ quy trình phối hợp giữa cơ quan quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo với cơ quan quản lý văn hóa và cơ quan quản lý xây dựng, đồng thời, chưa giao Chính phủ quy định chi tiết cơ chế phối hợp liên ngành, tạo nguy cơ “đùn đẩy” trách nhiệm trong thực tiễn thực hiện.
Điều 55 dự thảo Luật bổ sung thêm “pháp luật về di sản văn hóa” bên cạnh pháp luật về đất đai và pháp luật về xây dựng, mở rộng phạm vi dẫn chiếu so với Điều 59 Luật năm 2016. Việc bổ sung này có ý nghĩa, bởi nhiều cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo đồng thời là di tích lịch sử - văn hóa được xếp hạng. Tuy nhiên, hiện, chưa có văn bản dưới luật nào cụ thể hóa trình tự, thủ tục di dời đặc thù cho công trình tôn giáo, trong khi điểm c khoản 3 Điều 89 Luật Xây dựng năm 2014 chỉ ghi chung “Giấy phép di dời công trình” mà không có thủ tục tham vấn tổ chức tôn giáo hay cộng đồng tín đồ.
3.2. Một số vấn đề chưa được giải quyết qua cơ chế dẫn chiếu tại Điều 53 dự thảo Luật
Điều 53 dự thảo Luật giữ nguyên Điều 57 Luật năm 2016 quy định: “Đất cơ sở tín ngưỡng, đất cơ sở tôn giáo được quản lý và sử dụng theo quy định của pháp luật về đất đai”. Cơ chế dẫn chiếu này có ưu điểm là bảo đảm tính đồng bộ tự động khi pháp luật đất đai thay đổi. Tuy nhiên, vấn đề phát sinh ở giao điểm giữa pháp luật đất đai và pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo mà pháp luật đất đai không thể tự giải quyết, đòi hỏi pháp luật tín ngưỡng, tôn giáo phải có quy định nội dung:
Thứ nhất, Điều 218 Luật Đất đai năm 2024 cho phép đất tôn giáo sử dụng kết hợp đa mục đích, gồm thương mại, dịch vụ. Quy định này thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật đất đai, song, hệ quả pháp lý phụ thuộc vào tư cách chủ thể do pháp luật tín ngưỡng, tôn giáo xác định - tổ chức tôn giáo là pháp nhân phi thương mại, vậy được thực hiện hoạt động thương mại trên đất được giao trong phạm vi nào, với điều kiện gì? Đây là vấn đề pháp luật đất đai không thể giải quyết và dự thảo Luật cũng chưa quy định.
Cụ thể, Điều 76 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định pháp nhân phi thương mại không có mục tiêu chính là tìm kiếm lợi nhuận; nếu có lợi nhuận thì không được phân chia cho các thành viên. Như vậy, pháp nhân phi thương mại không bị cấm thực hiện hoạt động thương mại - cốt lõi là lợi nhuận không được phân chia. Điều 218 Luật Đất đai năm 2024 cho phép đất tôn giáo sử dụng kết hợp đa mục đích, gồm thương mại, dịch vụ. Vấn đề không nằm ở quyền kinh doanh (đã được pháp luật cho phép), mà nằm ở cơ chế kiểm soát tài chính: thu nhập từ hoạt động thương mại, dịch vụ trên đất tôn giáo phải được quản lý như thế nào để bảo đảm không vi phạm điều kiện pháp nhân phi thương mại. Dự thảo Luật chưa quy định về hạch toán, báo cáo tài chính đối với nguồn thu này, tạo khoảng trống pháp lý cần được bổ sung nhằm bảo đảm tính minh bạch trong quản lý, sử dụng đất tôn giáo, đồng thời, bảo vệ tài sản hợp pháp của tổ chức tôn giáo theo khoản 3 Điều 3 Luật năm 2016.
Thứ hai, khoản 6 Điều 213 Luật Đất đai năm 2024 quy định khi thu hồi đất tôn giáo thì “được bố trí địa điểm mới phù hợp với quỹ đất của địa phương và sinh hoạt tôn giáo của các tín đồ”. Tiêu chí “phù hợp” cần được pháp luật tín ngưỡng, tôn giáo cụ thể hóa, bởi pháp luật đất đai không xác định thế nào là “phù hợp” với sinh hoạt tôn giáo. Chẳng hạn, phù hợp về vị trí (thuận tiện giao thông, gần khu dân cư có tín đồ); về diện tích (tương đương hoặc không nhỏ hơn cơ sở cũ); về điều kiện sinh hoạt tôn giáo (đáp ứng nhu cầu hành lễ, số lượng tín đồ) và về bảo tồn giá trị tâm linh nếu cơ sở có giá trị lịch sử, văn hóa. Ủy ban Nhân quyền Liên hợp quốc trong Bình luận chung số 22 (1993) giải thích Điều 18 ICCPR đã khẳng định quyền thực hành tôn giáo bao gồm việc sử dụng nơi thờ tự[11]; do vậy, tiêu chí bố trí địa điểm mới khi thu hồi đất tôn giáo cần bảo đảm không làm gián đoạn hoặc hạn chế bất hợp lý quyền thực hành tôn giáo của tín đồ. Đây là nội dung thuộc phạm vi chuyên ngành tín ngưỡng, tôn giáo, không phải phạm vi điều chỉnh của pháp luật đất đai.
4. Kiến nghị hoàn thiện quy định về tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo
Trên cơ sở các vấn đề đã được phân tích, nhận diện trên, nghiên cứu đề xuất bốn nhóm kiến nghị cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo và đồng bộ với Bộ luật Dân sự năm 2015, Luật Đất đai năm 2024.
Một là, quy định chi tiết, cụ thể, rõ ràng về cơ chế chuyển đổi tài sản khi chủ thể thay đổi tư cách pháp lý.
Bộ luật Dân sự năm 2015 đã quy định rõ chế độ sở hữu pháp nhân (Điều 81) và sở hữu chung của cộng đồng (Điều 211), do đó, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo không cần lặp lại các quy phạm này. Tuy nhiên, thực tiễn thi hành cho thấy khi nhóm sinh hoạt tôn giáo tập trung trải qua quá trình hoạt động, được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo và cuối cùng phát triển thành tổ chức tôn giáo được Nhà nước công nhận (chính thức có tư cách pháp nhân phi thương mại), tài sản ban đầu thuộc sở hữu chung của cộng đồng cần được chuyển đổi sang sở hữu pháp nhân. Mặc dù vậy, hiện chưa có trình tự pháp lý nào quy định việc chuyển đổi này. Vì vậy, sau khi dự thảo Luật được thông qua, các văn bản hướng dẫn thi hành cần quy định cụ thể, chi tiết, rõ ràng về cơ chế và trình tự chuyển đổi tài sản từ hình thức sở hữu chung của cộng đồng sang sở hữu của pháp nhân khi chủ thể quản lý được cơ quan nhà nước công nhận tư cách tổ chức tôn giáo, nhằm bảo đảm tính liên tục trong quản lý, sử dụng tài sản và tạo thuận lợi cho tổ chức tôn giáo trực thuộc khi đăng ký pháp nhân phi thương mại[12].
Hai là, quy định quy định chi tiết, cụ thể, rõ ràng về tách bạch tài sản trong hiến chương tổ chức tôn giáo.
Sau khi dự thảo Luật được thông qua, văn bản hướng dẫn thi hành cần quy định cụ thể, chi tiết, rõ ràng về: (i) nguyên tắc phân định tài sản giữa tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc; (ii) cơ chế quản lý, sử dụng, định đoạt tài sản chung; (iii) trách nhiệm của người đại diện trong quản lý tài sản. Quy định này không can thiệp vào nội dung tự quản mà chỉ yêu cầu tổ chức phải có quy định nội dung cụ thể, do tổ chức tôn giáo tự quyết định. Điều này phù hợp với quan điểm được thừa nhận rộng rãi trong khoa học pháp lý quốc tế về tự do tôn giáo: quyền tự quản nội bộ của tổ chức tôn giáo cần được tôn trọng, song, Nhà nước có thể đặt ra các yêu cầu về minh bạch và trách nhiệm giải trình nhằm bảo vệ lợi ích công cộng[13].
Ba là, hoàn thiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo để phù hợp với Luật Đất đai năm 2024.
Sau khi dự thảo Luật được thông qua, văn bản hướng dẫn thi hành cần quy định cụ thể, chi tiết, rõ ràng các nội dung sau:
(i) Ghi nhận nguyên tắc đất tín ngưỡng, đất tôn giáo được quản lý và sử dụng theo pháp luật về đất đai, nhưng phải bảo đảm phục vụ nhu cầu tín ngưỡng, tôn giáo của cộng đồng. Nguyên tắc này tạo nền tảng giải thích và áp dụng pháp luật đất đai trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo, phù hợp với Điều 24 Hiến pháp năm 2013 về bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.
(ii) Bổ sung nguyên tắc về quản lý nguồn thu từ hoạt động sử dụng đất kết hợp đa mục đích theo Điều 218 Luật Đất đai năm 2024: nguồn thu từ hoạt động thương mại, dịch vụ trên đất tôn giáo phải được hạch toán độc lập và sử dụng toàn bộ cho hoạt động tôn giáo, từ thiện, nhân đạo, không được phân phối cho thành viên, phù hợp với tư cách pháp nhân phi thương mại theo Điều 76 Bộ luật Dân sự năm 2015. Chính phủ cần quy định chi tiết cơ chế giám sát, báo cáo tài chính đối với nguồn thu này[14].
Bốn là, hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền lợi của tổ chức tôn giáo khi di dời công trình tín ngưỡng, tôn giáo.
Mặc dù, Điều 55 dự thảo Luật đã sử dụng kỹ thuật dẫn chiếu sang pháp luật về đất đai, xây dựng và di sản văn hóa đối với việc di dời công trình tín ngưỡng, tôn giáo, tuy nhiên, để làm đậm nét nguyên tắc bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo theo Điều 24 Hiến pháp năm 2013, sau khi dự thảo Luật được thông qua, văn bản hướng dẫn thi hành cần quy định cụ thể, chi tiết, rõ ràng về việc lập phương án thu hồi đất và di dời công trình tín ngưỡng, công trình tôn giáo phải bảo đảm nguyên tắc tham vấn với tổ chức, cá nhân quản lý cơ sở đó.
Tuy nhiên, dưới góc độ kỹ thuật lập pháp hệ thống, trong khi việc di dời công trình kiến trúc chịu sự điều chỉnh đan xen của pháp luật về xây dựng và di sản văn hóa, thì toàn bộ chuỗi hành vi hành chính mang tính nền tảng từ thu hồi đất đến bồi thường, hỗ trợ và bố trí tái định cư lại thuộc phạm vi điều chỉnh chuyên biệt của pháp luật đất đai. Do đó, để nguyên tắc tham vấn tại Điều 55 dự thảo Luật đi vào thực tiễn, nghiên cứu kiến nghị phương án thực thi song song. Cụ thể: bổ sung vào nghị định hướng dẫn thi hành Luật Đất đai năm 2024 quy định khi thu hồi đất tín ngưỡng, đất tôn giáo, thành phần Hội đồng bồi thường, hỗ trợ, tái định cư (theo khoản 2 Điều 86 Luật Đất đai năm 2024) hoặc các buổi đối thoại, lấy ý kiến (theo khoản 3 Điều 87 Luật Đất đai năm 2024) bắt buộc phải có sự tham gia chính thức của người đại diện cơ sở tín ngưỡng, đại diện tổ chức tôn giáo bị ảnh hưởng[15].
Kết luận
Chương VII dự thảo Luật gần như giữ nguyên Chương VII Luật năm 2016 và còn một số nội dung cần làm rõ để tiếp tục hoàn thiện, khắc phục các bất cập đã bộc lộ qua 08 năm thi hành và đồng bộ hơn với Luật Đất đai năm 2024. Nghiên cứu đề xuất các kiến nghị hướng tới ba mục tiêu: (i) đồng bộ Luật Tín ngưỡng, tôn giáo với Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật Đất đai năm 2024, đặc biệt, bổ sung cơ chế chuyển đổi tài sản khi chủ thể thay đổi tư cách pháp lý, nguyên tắc quản lý nguồn thu từ sử dụng đất đa mục đích và tương thích hóa với mô hình chính quyền địa phương hai cấp; (ii) cụ thể hóa các điều khoản dẫn chiếu, nhất là về đất đai và di dời, thông qua ghi nhận nguyên tắc tham vấn cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo, đồng thời, đề xuất phương án thực thi qua pháp luật đất đai; (iii) bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và bảo vệ tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo khỏi bị xâm phạm, phù hợp với Điều 24 Hiến pháp năm 2013 và khoản 3 Điều 3 Luật năm 2016. Khoản 3 Điều 4 dự thảo Luật đã ghi nhận nguyên tắc bảo hộ tài sản hợp pháp của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo, nguyên tắc này cần được cụ thể hóa tại Chương VII bằng các quy định chi tiết, có tính khả thi.
(Ảnh: Internet)
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ Dân tộc và Tôn giáo (2025), Báo cáo số 3257/BC-BDTTG ngày 31/12/2025 tổng kết việc thi hành Luật tín ngưỡng, tôn giáo (từ ngày 01/01/2018 đến hết ngày 30/9/2025).
2. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) trình Quốc hội khóa XVI.
3. Heiner Bielefeldt (2013), Misperceptions of Freedom of Religion or Belief, Human Rights Quarterly, Vol. 35, No. 1, pp. 33-68.
4. Rex Ahdar, Ian Leigh (2013), Religious Freedom in the Liberal State, 2nd ed., Oxford University Press, Oxford.
5. W. Cole Durham Jr., Brett G. Scharffs (2019), Law and Religion: National, International, and Comparative Perspectives, 2nd ed., Wolters Kluwer, New York.
Bộ Dân tộc và Tôn giáo (2025), Báo cáo số 3257/BC-BDTTG ngày 31/12/2025 tổng kết việc thi hành Luật tín ngưỡng, tôn giáo (từ ngày 01/01/2018 đến hết ngày 30/9/2025), tr.22-23.
Bộ Dân tộc và Tôn giáo (2025), tlđd, tr.21.
Bộ Dân tộc và Tôn giáo (2025), tlđd, tr.22.
Bộ Dân tộc và Tôn giáo (2025), tlđd, tr.21-22.
Bộ Dân tộc và Tôn giáo (2025), tlđd, tr.23.
Bộ Dân tộc và Tôn giáo (2025), tlđd, tr.23.
Điểm b khoản 4 Điều 95 và khoản 4 Điều 96 Luật Xây dựng năm 2014; Khoản 2 Điều 36 Luật Di sản văn hóa năm 2024.
Bộ Dân tộc và Tôn giáo (2025), tlđd, tr.23
Ủy ban Nhân quyền Liên hợp quốc (1993), Bình luận chung số 22: Quyền tự do tư tưởng, tín ngưỡng và tôn giáo (Điều 18 ICCPR), đoạn 4; W. Cole Durham Jr., Brett G. Scharffs (2019), Law and Religion: National, International, and Comparative Perspectives, 2nd ed., Wolters Kluwer, New York; Rex Ahdar, Ian Leigh (2013), Religious Freedom in the Liberal State, 2nd ed., Oxford University Press, Oxford.
Khoản 3 Điều 3 Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016; khoản 3 Điều 4 dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi).
Ủy ban Nhân quyền Liên hợp quốc (1993), Bình luận chung số 22: Quyền tự do tư tưởng, tín ngưỡng và tôn giáo (Điều 18 ICCPR), đoạn 4.
Điều 81, Điều 211 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 27, khoản 3 Điều 52 dự thảo Luật.
Heiner Bielefeldt (2013), Misperceptions of Freedom of Religion or Belief, Human Rights Quarterly, Vol. 35, No. 1, pp.33-68; W. Cole Durham Jr., Brett G. Scharffs (2019), Law and Religion: National, International, and Comparative Perspectives, 2nd ed., Wolters Kluwer, New York.
Điều 213, Điều 218 Luật Đất đai năm 2024; Điều 76 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 53 dự thảo Luật.
Khoản 6 Điều 213 Luật Đất đai năm 2024; Điều 55 dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi); Điều 24 Hiến pháp năm 2013.