Thứ tư 22/04/2026 00:12
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Giải pháp hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại điện tử ở Việt Nam

Cách mạng công nghiệp 4.0 với nền tảng công nghệ thông tin khiến thương mại điện tử phát triển mạnh mẽ, trong khi đó, pháp luật về lĩnh vực này chưa theo kịp thực tiễn đã tạo cơ hội để các đối tượng lợi dụng buôn bán hàng giả, hàng nhập lậu, hàng hóa không rõ nguồn gốc, xuất xứ… Do vậy, kịp thời hoàn thiện pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại điện tử được xem là một trong những giải pháp tối ưu nhằm bảo đảm hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống các vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại điện tử tại Việt Nam hiện nay.

Theo đại biểu Quốc hội Nguyễn Minh Hoàng (Đoàn Đại biểu Quốc hội Thành phố Hồ Chí Minh), hoạt động thương mại điện tử thời gian qua đã và đang bị các đối tượng lợi dụng để kinh doanh, buôn bán hàng giả, hàng cấm, hàng không rõ xuất xứ và lợi dụng thương mại điện tử để lừa đảo chiếm đoạt tài sản với các hành vi ngày càng tinh vi, khó lường cả về quy mô lẫn địa bàn hoạt động; việc kiểm tra hàng hóa của các doanh nghiệp kinh doanh trên môi trường thương mại điện tử gặp nhiều khó khăn, vì cần sự vào cuộc của nhiều ngành, nhiều cấp. Bộ trưởng Bộ Công Thương Nguyễn Hồng Diên cũng đã chỉ ra 03 thách thức lớn trong giao dịch thương mại điện tử, đó là: (i) người tiêu dùng phải đối mặt với mất an toàn dữ liệu cá nhân; (ii) nạn hàng giả, hàng kém chất lượng, tính an toàn thấp chưa được kiểm soát chặt chẽ đã và đang bao vây, sẵn sàng đổ bộ vào nước ta, ảnh hưởng tới cả doanh nghiệp sản xuất cũng như người tiêu dùng; (iii) thất thu thuế của Nhà nước. Giải pháp được Bộ trưởng Bộ Công Thương đưa ra là: triển khai cơ chế trực tuyến 24/7 để tiếp nhận phản ánh của người tiêu dùng cả nước; tăng cường kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ về nguồn gốc xuất xứ, tránh hàng giả, hàng kém chất lượng qua thương mại điện tử; tiếp tục hoàn thiện cơ sở dữ liệu dùng chung về thương mại điện tử, chia sẻ liên thông với các bộ, ngành liên quan để phục vụ công tác quản lý thuế và hải quan; tăng cường phối hợp với Bộ Công an trong áp dụng định danh điện tử cho người bán trên sàn giao dịch để tăng cường hiệu quả quản lý, chống thất thu thuế; tích cực thanh kiểm tra, xử lý vi phạm các doanh nghiệp, hộ kinh doanh và cá nhân hoạt động trên thương mại điện tử không kê khai thuế… Bên cạnh những giải pháp nâng cao công tác quản lý, kiểm soát thương mại điện tử nêu trên, cần có giải pháp hoàn thiện pháp luật xử lý vi phạm hành chính về thương mại điện tử để góp phần bảo đảm hiệu quả công tác đấu tranh, phòng, chống các vi phạm hành chính trong lĩnh vực này.

1. Thực trạng pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính về thương mại điện tử ở Việt Nam hiện nay

Hệ thống pháp luật của Việt Nam về hoạt động thương mại điện tử được điều chỉnh bởi: Bộ luật Dân sự năm 2015; Luật Thương mại năm 2005; Luật Giao dịch điện tử năm 2023 và Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023. Ngoài ra, ở hoạt động này còn chịu sự điều chỉnh bởi một số luật, bộ luật có liên quan như: Luật Công nghệ thông tin năm 2006; Luật Viễn thông năm 2023; Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Luật Quảng cáo năm 2012; Luật Đầu tư năm 2020; Luật Doanh nghiệp năm 2020. Trực tiếp quy định về hoạt động thương mại điện tử có Nghị định số 52/2013/NĐ-CP ngày 16/5/2013 của Chính phủ, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 85/2021/NĐ-CP ngày 25/9/2021 (Nghị định số 52/2013/NĐ-CP). Theo đó, có 02 (hai) hình thức hoạt động thương mại điện tử (khoản 1, khoản 2 Điều 25 Nghị định số 52/2013/NĐ-CP được sửa đổi bởi khoản 7 Điều 1 Nghị định số 85/2021/NĐ-CP), gồm: (i) website thương mại điện tử bán hàng là website thương mại điện tử do các thương nhân, tổ chức, cá nhân thiết lập để phục vụ hoạt động xúc tiến thương mại, bán hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ của mình; (ii) website cung cấp dịch vụ thương mại điện tử là website thương mại điện tử do thương nhân, tổ chức thiết lập để cung cấp môi trường cho các thương nhân, tổ chức, cá nhân khác tiến hành hoạt động thương mại. Website cung cấp dịch vụ thương mại điện tử bao gồm các loại sau: sàn giao dịch thương mại điện tử; website đấu giá trực tuyến; website khuyến mại trực tuyến và các loại website khác do Bộ Công Thương quy định.

Văn bản pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại điện tử có Nghị định số 98/2020/NĐ-CP ngày 26/8/2020 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (Nghị định số 98/2020/NĐ-CP), được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 17/2022/NĐ-CP ngày 31/01/2022 (Nghị định số 17/2022/NĐ-CP). Theo đó, việc xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại điện tử tập trung vào các nhóm hành vi cụ thể như: (i) nhóm hành vi vi phạm về thiết lập website thương mại điện tử hoặc ứng dụng thương mại điện tử trên nền tảng di động; (ii) nhóm hành vi vi phạm về thông tin và giao dịch trên website thương mại điện tử hoặc ứng dụng di động; (iii) nhóm hành vi vi phạm về cung cấp dịch vụ thương mại điện tử; (iv) nhóm hành vi vi phạm về bảo vệ thông tin cá nhân trong hoạt động thương mại điện tử; (v) nhóm hành vi vi phạm về hoạt động đánh giá, giám sát và chứng thực trong thương mại điện tử.

Qua nghiên cứu cho thấy, pháp luật xử phạt vi phạm hành chính về thương mại điện tử còn một số bất cập, gây khó khăn trong việc áp dụng. Cụ thể:

Thứ nhất, hành vi bị cấm trong hoạt động thương mại điện tử được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 4 Nghị định số 52/2013/NĐ-CP ngày 16/5/2013 của Chính phủ về thương mại điện tử: “tổ chức mạng lưới kinh doanh, tiếp thị cho dịch vụ thương mại điện tử, trong đó mỗi người tham gia phải đóng một khoản tiền ban đầu để mua dịch vụ và được nhận tiền hoa hồng, tiền thưởng hoặc lợi ích kinh tế khác từ việc vận động người khác tham gia mạng lưới” đã được sửa đổi bởi khoản 4 Điều 1 Nghị định số 85/2021/NĐ-CP ngày 25/9/2021 như sau: “lợi dụng hoạt động thương mại điện tử để kinh doanh theo phương thức đa cấp nhưng chưa được cấp giấy chứng nhận đăng ký hoạt động bán hàng đa cấp theo quy định của pháp luật về quản lý hoạt động kinh doanh theo phương thức đa cấp”, tuy nhiên, trong Nghị định số 98/2020/NĐ-CP ngày 26/8/2020 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng vẫn còn áp dụng để xử phạt. Cụ thể, tại khoản 6 Điều 64 Nghị định số 98/2020/NĐ-CP vẫn quy định phạt tiền từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với hành vi “tổ chức mạng lưới kinh doanh, tiếp thị cho dịch vụ thương mại điện tử trong đó mỗi người tham gia phải đóng một khoản tiền ban đầu để mua dịch vụ và được nhận tiền hoa hồng, tiền thưởng hoặc lợi ích kinh tế khác từ việc vận động người khác tham gia mạng lưới” là không phù hợp với hành vi bị cấm trong các văn bản quản lý nhà nước về thương mại điện tử. Do vậy, cần sớm sửa đổi, bổ sung Nghị định số 98/2020/NĐ-CP theo hướng cập nhật các quy định đã được sửa đổi tại Nghị định số 85/2021/NĐ-CP.

Thứ hai, về biện pháp khắc phục hậu quả, tại khoản 8 Điều 63 Nghị định số 98/2020/NĐ-CP quy định: “buộc cải chính thông tin sai sự thật hoặc gây nhầm lẫn đối với hành vi vi phạm quy định tại điểm a khoản 3, điểm a, b và c khoản 4 và điểm a khoản 5 Điều này”, tuy nhiên đến nay chưa có văn bản pháp luật hướng dẫn về thủ tục áp dụng đối với biện pháp khắc phục hậu quả. Do vậy, các cơ quan chức năng bị “lúng túng” khi áp dụng pháp luật; các cơ quan chức năng thường chỉ áp dụng điểm a khoản 4 Điều 63 về “sử dụng các đường dẫn, biểu trưng hoặc công nghệ khác để gây nhầm lẫn về mối liên hệ với thương nhân, tổ chức, cá nhân khác” để xử phạt, dẫn đến việc xử lý vi phạm hành chính chưa triệt để đối với hành vi đăng thông tin sai sự thật hoặc gây nhầm lẫn trên website.

Thứ ba, hiện chưa có quy định xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi “lợi dụng hoạt động thương mại điện tử để kinh doanh theo phương thức đa cấp nhưng chưa được cấp giấy chứng nhận đăng ký hoạt động bán hàng đa cấp theo quy định của pháp luật về quản lý hoạt động kinh doanh theo phương thức đa cấp” quy định tại khoản 4 Điều 1 Nghị định số 85/2021/NĐ-CP.

Thứ tư, hành vi vi phạm về thương mại điện tử tại Điều 62 và Điều 63 Nghị định số 98/2020/NĐ-CP chủ yếu áp dụng đối với đối tượng là tổ chức, cá nhân có hành vi thiết lập website thương mại điện tử hoặc ứng dụng di động. Tuy nhiên, trên thực tế có nhiều chủ sở hữu website không phải là đối tượng thiết lập website (có thể thuê người thiết lập) hoặc có website được thiết lập để sử dụng chung cho nhiều đối tượng tại nhiều nơi khác nhau (như chi nhánh, điểm kinh doanh, hộ kinh doanh... ở nhiều địa phương khác nhau), dẫn đến việc kiểm tra và xử lý vi phạm hành chính rất khó khăn, thậm chí không thể thực hiện được.

Bên cạnh đó, thực tiễn thi hành pháp luật xử phạt vi phạm hành chính về thương mại điện tử đã bộc lộ một số khó khăn, như: các đối tượng vi phạm có nhiều thủ đoạn tinh vi, khó quản lý, điển hình là: lập nhiều tài khoản trên mạng xã hội (Facebook, Zalo, TikTok…), bán hàng theo hình thức livestream (trực tiếp) hoặc đăng bán nhưng không cho biết địa chỉ cơ sở kinh doanh cụ thể, khi khách mua chốt đơn trực tiếp hoặc thông qua inbox (đối tượng giao dịch bằng nhắn tin riêng), cơ quan chức năng khó phát hiện kịp thời. Ngoài ra, các đối tượng còn tìm mọi cách để “lách” qua các bộ lọc kỹ thuật của sàn thương mại điện tử, cố tình thay đổi tên sản phẩm khi đăng bán để tránh bị cơ quan chức năng kiểm soát. Ví dụ, sản phẩm Dior, Chanel, Gucci được các đối tượng viết thành D.I.O.R, Cha nel, DIO, gu.ci... Khi bị phát hiện vi phạm, các đối tượng lại tiếp tục đổi thành tên khác, gây khó khăn cho các cơ quan chức năng khi kiểm soát người bán hàng trên môi trường thương mại điện tử. Mặt khác, các trang bán hàng (online) thường không thông tin cụ thể địa chỉ hoặc khi cơ quan chức năng phát hiện ra thì trang đã xóa và lập trang mới. Một số đối tượng thường sử dụng nơi bán hàng, nơi quảng cáo, chốt đơn và kho hàng ở các khu vực khác nhau, địa phương khác nhau, gây khó khăn trong việc theo dõi, phát hiện và xử lý, tốn nhiều thời gian và nguồn nhân lực của các lực lượng chức năng, thậm chí không đủ nguồn nhân lực để thực hiện.

2. Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại điện tử ở Việt Nam hiện nay

Để hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại điện tử, cần có giải pháp cụ thể như sau:

Thứ nhất, sớm đánh giá tổng thể hệ thống các chính sách, pháp luật về kiểm tra, xử lý vi phạm hành chính, tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng sản phẩm, hàng hóa, nhãn hàng hóa trong hoạt động thương mại điện tử để tiếp tục nghiên cứu và sửa đổi, bổ sung pháp luật trong giao dịch thương mại điện tử, như Luật Giao dịch điện tử năm 2023, Luật Bảo vệ người tiêu dùng năm 2023, Nghị định số 13/2023/NĐ-CP ngày 17/4/2023 của Chính phủ về bảo vệ dữ liệu cá nhân, Nghị định số 91/2022/NĐ-CP ngày 30/10/2022 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 126/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Quản lý thuế… theo hướng tăng chế tài xử phạt đủ mạnh đối với những hành vi làm lộ thông tin cá nhân của người tiêu dùng, những hành vi lừa đảo, mua, bán hàng gian, hàng giả, hàng hóa không rõ nguồn gốc, hàng hóa vi phạm sở hữu trí tuệ… nhằm lành mạnh hóa môi trường kinh doanh thương mại điện tử.

Thứ hai, trên cơ sở các bất cập gây khó khăn trong việc áp dụng quy định pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại điện tử, cần tiếp tục nghiên cứu và ban hành nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 98/2020/NĐ-CP nhằm tiếp tục tăng cường chế tài xử lý hành vi vi phạm về lưu trữ và cung cấp thông tin đối với các chủ thể hoạt động thương mại điện tử.

Thứ ba, tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến các quy định pháp luật, lồng ghép với việc hướng dẫn doanh nghiệp nâng cao tinh thần tuân thủ pháp luật và bảo vệ người tiêu dùng trên không gian mạng; đặc biệt là môi trường thương mại điện tử. Các cơ quan chức năng cần phối hợp chặt chẽ để kiểm tra, kiểm soát và xử lý kịp thời các hành vi vi phạm; sử dụng lực lượng quản lý thị trường để phát hiện, đấu tranh làm rõ những hành vi sai phạm, nhất là tìm các địa điểm mà đối tượng tập kết hàng hóa, thường xuyên giao dịch nhằm phát hiện và xử lý vi phạm trong hoạt động thương mại điện tử theo quy định của pháp luật đối với các doanh nghiệp, hộ kinh doanh, cá nhân theo quy định pháp luật, đồng thời, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại, hàng giả, hàng kém chất lượng và vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội của đất nước trong tình hình mới.

Thứ tư, tiếp tục bồi dưỡng, nâng cao năng lực, trình độ, chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ, công chức thực thi công vụ về chống hàng giả và bảo vệ người tiêu dùng trong hoạt động thương mại điện tử. Nâng cao hiệu quả trong công tác phối hợp, thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm giữa các cơ quan, lực lượng chức năng có liên quan như: quản lý thị trường, công an, thuế, hải quan,… Đề cao yếu tố con người trong công tác đào tạo, bồi dưỡng theo hướng thực chất, hiệu quả hơn; lựa chọn, sử dụng và đánh giá nhân sự phải hợp lý, khoa học gắn với năng lực thực thi nhiệm vụ, công vụ. Cần có chính sách đãi ngộ, trọng dụng, khen thưởng và tôn vinh các giá trị nghề nghiệp, tính chuyên nghiệp của công chức thực thi nhiệm vụ về chống hàng giả và bảo vệ người tiêu dùng trong hoạt động thương mại điện tử, đặc biệt là công chức thuộc lực lượng quản lý thị trường.

Kết luận

Bối cảnh công nghệ số đang chiếm lĩnh thị trường, thương mại điện tử bùng nổ đã mang lại nhiều tiện ích cho người tiêu dùng và cả doanh nghiệp, cá nhân kinh doanh trên môi trường thương mại điện tử. Tuy nhiên, kéo theo đó là các đối tượng lợi dụng kinh doanh thương mại điện tử để kinh doanh hàng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, hàng không rõ nguồn gốc, xuất xứ, hàng nhập lậu… gây thiệt hại cho người tiêu dùng và cho các doanh nghiệp, cá nhân kinh doanh chân chính. Để hạn chế tình trạng này, bên cạnh công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật trong lĩnh vực thương mại điện tử, cần có những chế tài xử phạt đủ mạnh để răn đe các đối tượng vi phạm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Do đó, việc hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại điện tử, cụ thể, sửa đổi, bổ sung một số quy định của Nghị định số 98/2020/NĐ-CP và Nghị định số 17/2022/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính đối với hoạt động thương mại điện tử là rất cần thiết và “cấp bách”. Đây là một nội dung quan trọng trong Công điện số 56/CĐ-TTg ngày 06/6/2024 của Thủ tướng Chính phủ về tiếp tục tăng cường công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực thương mại điện tử, kinh doanh trên nền tảng số.

ThS. Lê Quang Kiệm

Cục Quản lý thị trường tỉnh Đồng Nai

Ảnh: internet

Tài liệu tham khảo

1. Giang Thị Thu Huyền (2023), Nghiên cứu thuế giá trị gia tăng đối với hoạt động thương mại điện tử ở Việt Nam, Luận án Tiến sĩ kinh tế.

2. Dương Thị Mai Ngọc (2009), Pháp luật về thương mại điện tử ở Việt Nam - Thực trạng và phương hướng hoàn thiện, Luận văn Thạc sĩ Luật học.

3. Lê Văn Thiệp (2016), Pháp luật thương mại điện tử ở Việt Nam hiện nay, Luận án tiến sĩ Luật học.

4. Phí Mạnh Cường (2022), Pháp luật về thương mại điện tử ở Việt Nam, Luận án Tiến sĩ Luật học.

5. PGS.TS. Nguyễn Cửu Việt (2013), Giáo trình Luật Hành chính Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.

6. Đặng Thanh Sơn (2008), Vụ Pháp luật hình sự - hành chính, Bộ Tư pháp, Vi phạm hành chính và xử lý vi phạm hành chính, Hà Nội.

6. Trường Đại học Luật Hà Nội (2017), Giáo trình Luật Hành chính Việt Nam, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội.

7. https://dangcongsan.vn/thoi-su/can-co-che-tai-xu-ly-vi-pham-trong-thuong-mai-dien-tu-666424.html.

8. https://daibieunhandan.vn/nghi-vien-the-gioi-viet-nam-va-the-gioi/Phan-dinh-ro-xu-ly-hanh-chinh-va-hinh-su-i209455/.

9. https://www.mof.gov.vn/webcenter/portal/ttpltc/pages_r/l/chi-tiet-tin-ttpltc?dDocName=MOFUCM274942.

10. https://vioit.org.vn/vn/chien-luoc-chinh-sach/thuong-mai-dien-tu---mot-chang-duong-nhin-lai-5829.4050.html.

11. OECD Guide to Measuriing the Information Society. Paris.

12. US Census Bureau. E-commerce statistics (E-STATS), https://www.census.gov/programs-surveys/e-stats/about/faqs.html. 2018.

13.https://www.wto.org/english/thewto_e/minist_e/mc11_e/briefing_notes_e/bfecom_e.htm.

14. https://www.adb.org/sites/default/files/publication/185050/adbi-pb2016-2.pdf.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Công khai thông tin theo Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Công khai thông tin theo Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã đặt nền móng pháp lý cho quyền tiếp cận thông tin của công dân, trong đó, công khai thông tin là công cụ quan trọng để thực thi quyền này. Tuy nhiên, sau 08 năm thực hiện, công tác công khai thông tin còn một số bất cập trong quy định và thực tiễn áp dụng, chưa đáp ứng yêu cầu đổi mới thể chế theo Nghị quyết Đại hội lần thứ XIV của Đảng. Nghiên cứu phân tích, luận giải một số vấn đề về công khai thông tin, đánh giá thực trạng, chỉ ra những bất cập, hạn chế, từ đó, kiến nghị hoàn thiện pháp luật, giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động công khai thông tin nhằm bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của người dân trong thời gian tới.
Rà soát văn bản quy phạm pháp luật: Yêu cầu tiến độ và chất lượng đồng bộ

Rà soát văn bản quy phạm pháp luật: Yêu cầu tiến độ và chất lượng đồng bộ

Chiều 21/4, tại Trụ sở Chính phủ, Phó Thủ tướng Lê Tiến Châu chủ trì cuộc họp về tình hình triển khai tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL). Nhấn mạnh đây là nhiệm vụ hệ trọng, Phó Thủ tướng yêu cầu thực hiện khẩn trương, nghiêm túc, trước mắt tập trung xử lý các “điểm nghẽn” nhằm tạo động lực cho phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
9 định hướng lớn và nhiệm vụ của cấp ủy, tổ chức Đảng trong Kết luận của Bộ Chính trị về định hướng lập pháp nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI

9 định hướng lớn và nhiệm vụ của cấp ủy, tổ chức Đảng trong Kết luận của Bộ Chính trị về định hướng lập pháp nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI

Tạp chí Dân chủ và Pháp luật trân trọng giới thiệu infographic 9 định hướng lớn và nhiệm vụ của cấp ủy, tổ chức Đảng trong Kết luận của Bộ Chính trị về định hướng lập pháp nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI
Đề xuất thực hiện thí điểm chế định luật sư công tại 8 bộ và 10 địa phương

Đề xuất thực hiện thí điểm chế định luật sư công tại 8 bộ và 10 địa phương

Việc thực hiện thí điểm tại 8 bộ và 10 địa phương. Thời gian thí điểm là từ ngày 01/10/2026 đến hết ngày 30/9/2028, có cơ chế xử lý chuyển tiếp đối với các vụ, việc đang thực hiện.
Đánh giá, xếp loại chất lượng đơn vị sự nghiệp công lập và viên chức gắn với chức năng, nhiệm vụ, mục tiêu, kế hoạch công tác và kết quả thực hiện

Đánh giá, xếp loại chất lượng đơn vị sự nghiệp công lập và viên chức gắn với chức năng, nhiệm vụ, mục tiêu, kế hoạch công tác và kết quả thực hiện

Chiều ngày 20/4/2026, đồng chí Nguyễn Thị Hạnh, Cục trưởng Cục Pháp luật hình sự - hành chính và Quản lý xử lý vi phạm hành chính, Bộ Tư pháp chủ trì cuộc họp Hội đồng thẩm định hồ sơ dự thảo Nghị định của Chính phủ quy định khung tiêu chí đánh giá, xếp loại chất lượng đối với đơn vị sự nghiệp công lập và viên chức (dự thảo Nghị định). Tham dự cuộc họp có sự tham gia của đại diện Bộ Nội vụ; Bộ Công an; Bộ Quốc phòng; Bộ Khoa học và Công nghệ; Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Bộ Giáo dục và Đào tạo; Bộ Tài chính; Bộ Ngoại giao; Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nôi;… và đại diện một số đơn vị thuộc Bộ Tư pháp.
10 nhiệm vụ, giải pháp về công tác pháp luật trong Kết luận số 18-KL/TW

10 nhiệm vụ, giải pháp về công tác pháp luật trong Kết luận số 18-KL/TW

Tạp chí Dân chủ và Pháp luật trân trọng giới thiệu inforgraphic 10 nhiệm vụ, giải pháp về công tác pháp luật trong Kết luận số 18-KL/TW của Hội nghị lần thứ 2 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV.
Xử lý kỷ luật viên chức bảo đảm khách quan, công bằng, công khai, nghiêm minh

Xử lý kỷ luật viên chức bảo đảm khách quan, công bằng, công khai, nghiêm minh

Thực hiện Quyết định số 304/QĐ-TTg ngày 13/02/2026 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật Viên chức, Bộ Nội vụ đang chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan xây dựng dự thảo Nghị định quy định về xử lý kỷ luật viên chức (dự thảo Nghị định) theo trình tự, thủ tục rút gọn quy định tại Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 để thay thế các quy định về xử lý kỷ luật viên chức tại Nghị định số 112/2020/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Nghị định số 71/2023/NĐ-CP.
Quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc theo dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) và kiến nghị hoàn thiện

Quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc theo dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nội dung quan trọng nhất của Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (Luật năm 2016), cũng như dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) (dự thảo Luật). Bài viết phân tích, so sánh các quy định về quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc trong dự thảo Luật với Luật năm 2016, tính tương thích với điều ước quốc tế có liên quan và so sánh pháp luật của một số quốc gia có mô hình quản lý khác nhau. Từ đó, chỉ ra những điểm mới căn bản của dự thảo Luật so với Luật năm 2016 và một số vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu về quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc, như: ranh giới giữa “đăng ký” và “xin phép”, tiền kiểm và hậu kiểm, quyền quản lý tài sản, tài chính… Trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng bảo đảm cân bằng giữa yêu cầu quản lý và quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, đặc biệt, trong bối cảnh thực hiện chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số, hội nhập quốc tế…
Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo theo dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) và kiến nghị hoàn thiện

Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo theo dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là quyền cơ bản được ghi nhận trong pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam. Trong bối cảnh Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đang được sửa đổi, việc đánh giá hiệu quả bảo đảm quyền trở nên cần thiết. Bài viết tiếp cận theo hướng dựa trên quyền con người, phân tích nội dung quyền theo Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và pháp luật hiện hành, đồng thời, đánh giá thực tiễn thi hành giai đoạn 2018 - 2025. Nghiên cứu cho thấy, bên cạnh những tiến bộ, thành công, kết quả đạt được, còn tồn tại khoảng cách giữa ghi nhận và thụ hưởng quyền, thể hiện qua thủ tục hành chính, sự không đồng đều trong thực thi và khoảng trống pháp lý trong bối cảnh mới. Trên cơ sở đó, bài viết đánh giá dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) và đề xuất hoàn thiện theo hướng tăng cường tính minh bạch, giảm điều kiện hóa quyền và nâng cao cơ chế bảo vệ quyền.
Pháp luật một số quốc gia về bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, quản lý hoạt động tôn giáo và khuyến nghị đối với Việt Nam

Pháp luật một số quốc gia về bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, quản lý hoạt động tôn giáo và khuyến nghị đối với Việt Nam

Tóm tắt: Tín ngưỡng và tôn giáo là yếu tố cấu thành cơ bản trong đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi cá nhân, gồm các lễ nghi truyền thống và tập tục. Từ góc độ pháp lý, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được ghi nhận là quyền cơ bản của con người được quy định trong Hiến pháp và pháp luật của các quốc gia. Bài viết nghiên cứu, phân tích, so sánh khung pháp lý về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của một số quốc gia trong hệ thống dân luật và cách thức quản trị sự đa dạng tôn giáo của các quốc gia này. Trên cơ sở đó, đề xuất giải pháp bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo và quản lý hoạt động của các tôn giáo tại Việt Nam nhằm hài hòa và thúc đẩy công bằng xã hội.
Diễn đàn “Luật học Mùa Xuân”: Dấu ấn học thuật của Trường Đại học Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội

Diễn đàn “Luật học Mùa Xuân”: Dấu ấn học thuật của Trường Đại học Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội

Đây là chủ đề của Diễn đàn khoa học trẻ "Luật học Mùa Xuân" lần thứ III năm 2026 do Trường Đại học Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội phối hợp với Trường Đại học Kinh tế - Luật, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức trong 02 ngày 17/4 và 18/4/2026. Tham dự Diễn đàn có các chuyên gia, nhà khoa học, học giả cùng các sinh viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh.
Đổi mới đào tạo luật trong bối cảnh mới: Yêu cầu tất yếu từ thực tiễn

Đổi mới đào tạo luật trong bối cảnh mới: Yêu cầu tất yếu từ thực tiễn

Ngày 16/4, ba cơ sở đào tạo luật gồm Trường Đại học Luật Hà Nội, Trường Đại học Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội và Trường Đại học Kinh tế - Luật - Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh phối hợp tổ chức Hội thảo quốc gia “Đổi mới chương trình đào tạo và phương pháp giảng dạy luật tại các cơ sở đào tạo luật ở Việt Nam trong bối cảnh mới”. Hội thảo có sự tham gia đông đảo các giáo sư, chuyên gia, nhà khoa học đầu ngành, cùng đại diện lãnh đạo, giảng viên của nhiều cơ sở đào tạo luật trên cả nước.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Phát huy vai trò nòng cốt của Bộ Tư pháp trong tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Phát huy vai trò nòng cốt của Bộ Tư pháp trong tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Ngày 16/4, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh chủ trì cuộc họp với các đơn vị thuộc Bộ có liên quan về dự thảo Kế hoạch triển khai tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) tại Bộ Tư pháp (dự thảo Kế hoạch) và kết quả rà soát các chủ trương, đường lối của Đảng liên quan đến ngành, lĩnh vực do Bộ Tư pháp phụ trách.

Theo dõi chúng tôi trên: