Thứ ba 03/03/2026 09:19
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Phân định thẩm quyền của chính quyền địa phương 02 cấp trong lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp

Ngày 11/6/2025, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 120/2025/NĐ-CP quy định về phân định thẩm quyền của chính quyền địa phương 02 cấp trong lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp (Nghị định số 120/2025/NĐ-CP). Nghị định bảo đảm cơ sở pháp lý cho hoạt động bình thường, liên tục, thông suốt của các cơ quan; không để gián đoạn công việc, không để chồng chéo, trùng lặp hoặc bỏ sót chức năng, nhiệm vụ, lĩnh vực, địa bàn; không làm ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của xã hội, người dân, doanh nghiệp khi thực hiện chính quyền địa phương hai cấp từ ngày 01/7/2025 trong các lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp.

Nghị định số 120/2025/NĐ-CP quy định 02 nội dung: (i) Về việc phân định thẩm quyền của chính quyền địa phương theo mô hình tổ chức chính quyền địa phương 02 cấp trong lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp; (ii) Trình tự, thủ tục thực hiện các thủ tục hành chính khi phân định thẩm quyền từ thẩm quyền của cấp huyện cho cấp xã hoặc cấp tỉnh.

Việc phân định thẩm quyền được thực hiện trên nguyên tắc: (i) Bảo đảm phù hợp với quy định của Hiến pháp, phù hợp với các nguyên tắc, quy định về phân định thẩm quyền của Luật Tổ chức Chính phủ năm 2025, Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025; (ii) Bảo đảm phân định rõ nhiệm vụ, quyền hạn giữa các cấp chính quyền địa phương; bảo đảm phù hợp với nhiệm vụ, quyền hạn và năng lực của cơ quan, người có thẩm quyền thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được phân định; (iii) Bảo đảm phân định rõ thẩm quyền giữa Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân; phân định rõ thẩm quyền chung của Ủy ban nhân dân và thẩm quyền riêng của Chủ tịch Ủy ban nhân dân; (iv) Các định rõ nội dung và phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn mà chính quyền địa phương được quyết định, tổ chức thực hiện và chịu trách nhiệm về kết quả; không trùng lặp, chồng chéo về nhiệm vụ, quyền hạn giữa chính quyền địa phương các cấp và giữa các cơ quan, tổ chức thuộc chính quyền địa phương; (v) Bảo đảm cơ sở pháp lý cho hoạt động bình thường, liên tục, thông suốt của các cơ quan; không để gián đoạn công việc, không để chồng chéo, trùng lặp, bỏ sót chức năng, nhiệm vụ, lĩnh vực, địa bàn; đáp ứng yêu cầu quản trị địa phương; úng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; (vi) Bảo đảm quyền con người, quyền công dân; bảo đảm công khai, minh bạch, tạo điều kiện thuận lợi cho cá nhân, tổ chức trong việc tiếp cận thông tin, thực hiện các quyền, nghĩa vụ và các thủ tục theo quy định của pháp luật; không làm ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của xã hội, người dân, doanh nghiệp; (vii) Bảo đảm không ảnh hưởng đến việc thực hiện các điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên; (viii) Bảo đảm tính thống nhất trong tổ chức thi hành Hiến pháp và pháp luật; bảo đảm tính công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình và thực hiện có hiệu quả việc kiểm soát quyền lực gắn với trách nhiệm kiểm tra, thanh tra, giám sát của cơ quan nhà nước cấp trên; (ix) Kinh phí thực hiện nhiệm vụ chuyển giao do ngân sách nhà nước đảm bảo theo quy định.

Nghị định số 120/2025/NĐ-CP không bổ sung các nội dung mới mà chỉ phân định lại thẩm quyền của cấp huyện xuống cấp xã và chuyển lên cấp tỉnh về phân định thẩm quyền trong lĩnh vực hành chính tư pháp, bổ trợ tư pháp, phổ biến giáo dục pháp luật, trợ giúp pháp lý, hòa giải ở cơ sở, thừa phát lại và bồi thường nhà nước.

Phân định thẩm quyền triển khai các nghiệp vụ cụ thể

Hiện nay, trong lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp có 38 nhiệm vụ, thẩm quyền do cấp huyện thực hiện, trong đó, 05 nhiệm vụ chuyển từ huyện lên tỉnh; 29 nhiệm vụ chuyển từ huyện xuống xã và 04 nhiệm vụ không bị tác động do sắp xếp tổ chức bộ máy khi tổ chức chính quyền 02 cấp. Theo đó, Nghị định số 120/2025/NĐ-CP tập trung vào 04 nhóm quy định chính: Nhóm quy định về phân định thẩm quyền triển khai các nhiệm vụ cụ thể; nhóm phân định trách nhiệm quản lý nhà nước; nhóm trình tự, thủ tục thực hiện; quy định chuyển tiếp trong quá trình chuyển giao nhiệm vụ giữa các cơ quan.

Nhằm thể chế hóa các chủ trương của Đảng, chỉ đạo của Chính phủ về việc xây dựng và củng cố chính quyền địa phương theo hướng “phân cấp tối đa cho chính quyền địa phương”, “địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm”, chuyển đổi mô hình cấp xã từ “chính quyền quản lý” sang “chính quyền phục vụ”, lấy người dân là trung tâm, chủ động nắm bắt, giải quyết các vấn đề phát sinh và liên quan đến cá nhân, tổ chức ngay từ cơ sở; đồng thời, đảm bảo việc triển khai nhiệm vụ được thông suốt, hiệu quả, kịp thời, cải cách tối đa thủ tục hành chính, giảm chi phí, tạo thuận lợi cao nhất cho người dân, doanh nghiệp, Nghị định số 120/2025/NĐ-CP quy định theo hướng chuyển giao các nhiệm vụ liên quan đến nghiệp vụ cụ thể đang do Ủy ban nhân dân cấp huyện thực hiện cho Ủy ban nhân dân cấp xã tiếp tục thực hiện, các nhiệm vụ có tính chất phức tạp thì chuyển giao cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tiếp tục thực hiện. Cụ thể:

Đối với lĩnh vực hộ tịch: Thẩm quyền đăng ký hộ tịch của Ủy ban nhân dân cấp huyện được chuyển giao cho Ủy ban nhân dân cấp xã (Điều 4). Theo đó, Ủy ban nhân dân cấp xã tiếp tục thực hiện các nhiệm vụ về đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài và việc khai thác, sử dụng Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử của cơ quan đăng ký hộ tịch theo quy định tại Luật Hộ tịch và Nghị định số 123/2015/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch. Bên cạnh việc thực hiện đăng ký sự kiện hộ tịch theo thẩm quyền được quy định tại khoản 1 Điều 7 Luật Hộ tịch; Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện đăng ký hộ tịch đối với các trường hợp:

- Đăng ký khai sinh cho: (i) Trẻ em sinh ra tại Việt Nam có cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam còn người kia là người nước ngoài hoặc người không quốc tịch; có cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam cư trú ở trong nước còn người kia là công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài; có cha và mẹ là công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài; có cha và mẹ là người nước ngoài hoặc người không quốc tịch; (ii) Trẻ em được sinh ra ở nước ngoài chưa được đăng ký khai sinh về cư trú tại Việt Nam, có cha và mẹ là công dân Việt Nam; có cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam.

- Đăng ký kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài; giữa công dân Việt Nam cư trú ở trong nước với công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài; giữa công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài với nhau; giữa công dân Việt Nam đồng thời có quốc tịch nước ngoài với công dân Việt Nam hoặc với người nước ngoài; người nước ngoài cư trú tại Việt Nam có yêu cầu đăng ký kết hôn tại Việt Nam thì Ủy ban nhân dân xã nơi cư trú của một trong hai bên thực hiện đăng ký kết hôn.

- Đăng ký giám hộ, chấm dứt giám hộ: Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người được giám hộ hoặc người giám hộ thực hiện đăng ký giám hộ giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài cùng cư trú tại Việt Nam. Ủy ban nhân dân cấp xã nơi thực hiện việc đăng ký giám hộ thực hiện thủ tục đăng ký chấm dứt giám hộ.

- Đăng ký nhận cha, mẹ, con: Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người được nhận là cha, mẹ, con thực hiện đăng ký nhận cha, mẹ, con giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài; giữa công dân Việt Nam cư trú ở trong nước với công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài; giữa công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài với nhau; giữa công dân Việt Nam đồng thời có quốc tịch nước ngoài với công dân Việt Nam hoặc với người nước ngoài; giữa người nước ngoài với nhau mà một hoặc cả hai bên thường trú tại Việt Nam.

- Đăng ký thay đổi, cải chính, bổ sung hộ tịch, xác định lại dân tộc: Ủy ban nhân dân cấp xã nơi đã đăng ký hộ tịch trước đây hoặc nơi cư trú của người nước ngoài có thẩm quyền giải quyết việc cải chính, bổ sung hộ tịch đối với người nước ngoài đã đăng ký hộ tịch tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam.

- Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người Việt Nam định cư ở nước ngoài đã đăng ký hộ tịch trước đây có thẩm quyền giải quyết việc thay đổi, cải chính, bổ sung hộ tịch, xác định lại dân tộc.

- Ủy ban nhân dân cấp xã nơi đã đăng ký hộ tịch trước đây hoặc nơi cư trú của cá nhân có thẩm quyền giải quyết việc thay đổi, cải chính hộ tịch cho công dân Việt Nam từ đủ 14 tuổi trở lên cư trú ở trong nước; xác định lại dân tộc.

- Ghi vào Sổ hộ tịch việc hộ tịch của công dân Việt Nam đã được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài: Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của công dân Việt Nam ghi vào Sổ hộ tịch việc khai sinh; kết hôn; giám hộ; nhận cha, mẹ, con; xác định cha, mẹ, con; nuôi con nuôi; thay đổi hộ tịch đã được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài. Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cá nhân đã đăng ký kết hôn hoặc ghi chú việc kết hôn trước đây ghi vào Sổ hộ tịch việc ly hôn, hủy việc kết hôn của cá nhân đã thực hiện ở nước ngoài. Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người có trách nhiệm khai tử theo quy định của Luật Hộ tịch ghi vào Sổ hộ tịch việc khai tử đã được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài.

- Đăng ký khai tử: Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú cuối cùng của người chết thực hiện việc đăng ký khai tử cho người nước ngoài hoặc công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài chết tại Việt Nam. Trường hợp không xác định được nơi cư trú cuối cùng của người chết thì Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó chết hoặc nơi phát hiện thi thể người chết thực hiện việc đăng ký khai tử.

- Ủy ban nhân dân cấp xã khai thác, sử dụng Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử để đăng ký hộ tịch theo thẩm quyền; cấp bản sao trích lục hộ tịch; cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân; xác nhận thông tin hộ tịch đối với các trường hợp đã đăng ký hộ tịch tại các cơ quan đăng ký hộ tịch trên địa bàn hoặc người có yêu cầu đang cư trú trên địa bàn; thống kê số liệu đăng ký hộ tịch; thực hiện các hoạt động quản lý nhà nước khác trong lĩnh vực hộ tịch trên địa bàn theo quy định pháp luật.

Đối với lĩnh vực nuôi con nuôi: Chuyển giao hoàn toàn các nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp huyện cho cấp xã tiếp tục thực hiện như rà soát, tìm người thân (Điều 10), xác nhận công dân Việt Nam thường trú ở khu vực biên giới đủ điều kiện nhận trẻ em của nước láng giềng làm con nuôi (Điều 12).

Đối với lĩnh vực chứng thực: Nghị định số 120/2025/NĐ-CP quy định Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện một số việc do Ủy ban nhân dân cấp huyện trước đây thực hiện:

Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện việc chứng thực chữ ký của người dịch trong các giấy tờ, văn bản từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt, từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài. Đối với việc sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ, chấm dứt hợp đồng, giao dịch; sửa lỗi sai sót trong hợp đồng, giao dịch đã được chứng thực theo quy định tại Nghị định số 23/2015/NĐ-CP thì cả Ủy ban nhân dân cấp xã và Ủy ban nhân dân cấp huyện đều thực hiện. Do vậy, để bảo đảm các yêu cầu giải quyết thủ tục hành chính của người dân đều được đáp ứng, Điều 14 Nghị định số 120/2025/NĐ-CP quy định việc sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ, chấm dứt hợp đồng, giao dịch; sửa lỗi sai sót trong hợp đồng, giao dịch đã được Ủy ban nhân dân cấp huyện thực hiện trước đây thì Ủy ban nhân dân cấp xã sẽ thực hiện.

Đồng thời, khi phân định thẩm quyền, để rõ ràng trong việc tổ chức thực hiện, Điều 17 Nghị định số 120/2025/NĐ-CP quy định cụ thể trình tự thực hiện chứng thực chữ ký người dịch trong trường hợp người dịch là cộng tác viên của Ủy ban nhân dân cấp xã và người dịch không phải là cộng tác viên dịch thuật của Ủy ban nhân dân cấp xã.

Phân định thẩm quyền về trách nhiệm quản lý nhà nước

Về cơ bản, quy định về trách nhiệm quản lý nhà nước của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Ủy ban nhân dân cấp huyện trong các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành tương đối tương đồng nhau. Do đó, hầu hết các nhiệm vụ liên quan đến quản lý nhà nước của Ủy ban nhân dân cấp huyện trong các lĩnh vực tư pháp sẽ không bị tác động do sắp xếp tổ chức bộ máy khi tổ chức chính quyền 02 cấp. Đối với một số trách nhiệm quản lý nhà nước không tương đồng với Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp xã, không “tự tiêu” thì tiếp tục giao cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã. Để đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ và tạo thuận lợi cho quá trình triển khai Nghị định chỉ quy định những nhiệm vụ mới (nhiệm vụ được phân định thẩm quyền từ cấp huyện). Đối với những nhiệm vụ không thay đổi thì thực hiện theo quy định hiện hành để vừa bảo đảm tính kế thừa của văn bản quy phạm pháp luật chuyên ngành, vừa bổ sung các nhiệm vụ hiện đang do chính quyền cấp huyện thực hiện. Chẳng hạn: Trong lĩnh vực hộ tịch, Ủy ban nhân dân cấp xã được bổ sung nhiệm vụ bảo đảm trang thiết bị, cơ sở hạ tầng, kinh phí xây dựng, cập nhật, khai thác, sử dụng Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử trong phạm vi địa phương quản lý; tổng hợp, đánh giá tình hình thực hiện công tác đăng ký, quản lý hộ tịch và thống kê số liệu đăng ký hộ tịch báo cáo Ủy ban nhân dân cấp tỉnh (khoản 1 Điều 7).

Đồng thời, một số nhiệm vụ trong lĩnh vực hộ tịch được chuyển lên cấp tỉnh và phân định lại thẩm quyền (từ thẩm quyền của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh sang thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) như: Việc thu hồi, hủy bỏ giấy tờ hộ tịch, nội dung đăng ký hộ tịch do Ủy ban nhân dân cấp huyện, Ủy ban nhân dân cấp xã cấp, đăng ký trái quy định pháp luật và giấy tờ hộ tịch, nội dung đăng ký hộ tịch do Sở Tư pháp cấp, đăng ký trước đây trái quy định pháp luật, trừ trường hợp kết hôn trái pháp luật theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; trách nhiệm số hóa Sổ hộ tịch của Phòng Tư pháp cấp huyện.

Trong lĩnh vực nuôi con nuôi, Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện việc kiểm tra, theo dõi tình hình nuôi con nuôi ở địa phương; báo cáo Ủy ban nhân dân cấp tỉnh về tình hình giải quyết việc nuôi con nuôi và thực hiện pháp luật về nuôi con nuôi tại địa phương.

Trong lĩnh vực hòa giải ở cơ sở, Ủy ban nhân dân cấp xã được giao thêm các nhiệm vụ như đề nghị Ủy ban nhân dân cấp tỉnh khen thưởng tổ chức, cá nhân tham gia, đóng góp, hỗ trợ cho công tác hòa giải ở cơ sở của xã, phường, đặc khu khi cần thiết; xem xét, quyết định hỗ trợ khi hoà giải viên gặp tai nạn rủi ro ảnh hướng đến sức khoẻ, tính mạng trong khi thực hiện hoạt động hoà giải (khoản 2 Điều 18);...

Trình tự, thủ tục và hồ sơ thực hiện

Trình tự, thủ tục: Trên cơ sở nguyên tắc lấy người dân làm trung tâm, tạo thuận lợi nhất cho cá nhân, tổ chức khi thực hiện thủ tục hành chính, Nghị định số 120/2025/NĐ-CP đã quy định việc thực hiện thủ tục hành chính theo hướng “phi địa giới hành chính”, tức là người dân có quyền đến bất cứ Ủy ban nhân dân cấp xã nào để yêu cầu được giải quyết các thủ tục hành chính mà không phụ thuộc vào nơi cư trú; trường hợp cá nhân lựa chọn thực hiện thủ tục hành chính về hộ tịch không phải tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi thường trú hoặc nơi tạm trú thì Ủy ban nhân dân cấp xã nơi tiếp nhận yêu cầu có trách nhiệm hỗ trợ người dân nộp hồ sơ đăng ký hộ tịch trực tuyến đến đúng cơ quan có thẩm quyền theo quy định. Việc trả kết quả cũng được quy định theo hướng linh hoạt, thuận lợi hơn, theo đó, nhiều thủ tục hành chính (người yêu cầu đăng ký khai sinh, đăng ký khai tử, đăng ký nhận cha, mẹ, con, đăng ký giám hộ, đăng ký thay đổi, chấm dứt giám hộ, đăng ký giám sát việc giám hộ, chấm dứt giám sát việc giám hộ; đăng ký thay đổi, cải chính, bổ sung hộ tịch, xác định lại dân tộc không phải có mặt tại cơ quan đăng ký hộ tịch để ký vào Sổ hộ tịch) được trả kết quả qua bưu chính, trên môi trường điện tử mà không yêu cầu người dân phải có mặt tại cơ quan giải quyết thủ tục hành chính. Như vậy, trong lĩnh vực hộ tịch chỉ còn thủ tục hành chính đăng ký kết hôn là bắt buộc phải có mặt khi nhận Giấy chứng nhận kết hôn. Thời gian thực hiện và chi phí tuân thủ thủ tục hành chính cũng được giảm tối đa để bảo đảm mục tiêu cắt giảm, đơn giản hoá thủ tục hành chính. Tương tự, đối với thủ tục hành chính trong lĩnh vực nuôi con nuôi cũng quy định theo hướng “phi địa giới hành chính” và đơn giản thành phần hồ sơ, giấy tờ.

Hồ sơ thực hiện: Các thành phần hồ sơ giải quyết thủ tục hành chính được rà soát và quy định theo hướng thực thi các phương án đơn giản hóa thủ tục hành chính; đối với các thành phần hồ sơ còn phù hợp, Nghị định số 120/2025/NĐ-CP kế thừa các quy định pháp luật chuyên ngành; đồng thời, điều chỉnh để phù hợp với mô hình tổ chức chính quyền địa phương 02 cấp; ví dụ: Đối với hồ sơ nuôi con nuôi, giấy khám sức khỏe cấp huyện thì được điều chỉnh thành Giấy khám sức khoẻ do cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật cấp. Đối với thủ tục hành chính mà trong thành phần hồ sơ yêu cầu Phiếu lý lịch tư pháp thì quy định theo hướng cơ quan giải quyết thủ tục hành chính có trách nhiệm yêu cầu cơ quan quản lý dữ liệu lý lịch tư pháp cung cấp thông tin lý lịch tư pháp; cá nhân khi thực hiện các thủ tục hành chính này không phải nộp Phiếu lý lịch tư pháp trong hồ sơ (khoản 2 Điều 11 và tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định số 120/2025/NĐ-CP).

Trình tự, thủ tục thực hiện các thủ tục hành chính được quy định cụ thể tại các Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định số 120/2025/NĐ-CP.

Ảnh: internet

Minh Trí

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Cơ chế phối hợp đặc thù - chìa khóa nâng hiệu quả xử lý tranh chấp đầu tư quốc tế

Cơ chế phối hợp đặc thù - chìa khóa nâng hiệu quả xử lý tranh chấp đầu tư quốc tế

Dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về cơ chế phối hợp, chính sách đặc thù nâng cao hiệu quả phòng ngừa và giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế quy định cơ chế phối hợp, chính sách đặc thù trong phòng ngừa, giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế, việc hòa giải trong tranh chấp đầu tư quốc tế, tổ chức và hoạt động của Trung tâm phòng ngừa và giải quyết đầu tư quốc tế.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vai trò và giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động tư pháp địa phương trong bối cảnh thực hiện chính quyền địa phương hai cấp

Vai trò và giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động tư pháp địa phương trong bối cảnh thực hiện chính quyền địa phương hai cấp

Trong suốt tiến trình lịch sử cách mạng Việt Nam, ngành Tư pháp luôn song hành cùng sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Từ những ngày đầu thành lập Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (năm 1945) đến nay, trải qua 80 năm xây dựng và trưởng thành, ngành Tư pháp luôn khẳng định vị thế là cơ quan tham mưu nòng cốt trong xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và tổ chức thi hành pháp luật. Bước vào giai đoạn phát triển mới, trước yêu cầu đột phá về thể chế để đất nước phát triển bền vững, vai trò của công tác tư pháp tại địa phương càng quan trọng, đặc biệt, trong bối cảnh sắp xếp đơn vị hành chính và vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp.
Đột phá thể chế, pháp luật về giáo dục và đào tạo kiến tạo nguồn nhân lực cho kỷ nguyên mới

Đột phá thể chế, pháp luật về giáo dục và đào tạo kiến tạo nguồn nhân lực cho kỷ nguyên mới

Trong bối cảnh Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 71-NQ/TW về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết số 71-NQ/TW), ngành Giáo dục đã xây dựng và trình Quốc hội thông qua 4 luật gồm: Luật Nhà giáo; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục; Luật Giáo dục đại học (sửa đổi); Luật Giáo dục nghề nghiệp (sửa đổi); cùng 4 nghị quyết quan trọng về phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ từ 3 - 5 tuổi; miễn, hỗ trợ học phí; cơ chế, chính sách đặc thù phát triển giáo dục và đào tạo; chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia hiện đại hóa, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo giai đoạn 2026 - 2035. Đây là bước đột phá lớn về thể chế, pháp luật vừa tháo gỡ các “điểm nghẽn”, vừa tạo động lực mới cho phát triển giáo dục. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật (Tạp chí) có cuộc trao đổi với đồng chí Nguyễn Kim Sơn, Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về những điểm mới nổi bật của các luật cũng như định hướng triển khai trong thời gian tới.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Bộ, ngành Tư pháp: Kiến tạo thể chế thành lợi thế cạnh tranh đưa đất nước phát triển bền vững

Bộ, ngành Tư pháp: Kiến tạo thể chế thành lợi thế cạnh tranh đưa đất nước phát triển bền vững

Năm 2025 được xác định là năm có ý nghĩa “bản lề” để thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội và triển khai các nghị quyết quan trọng của Đảng. Trước bối cảnh đó, Bộ, ngành Tư pháp đóng vai trò then chốt trong công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế và tổ chức thi hành pháp luật. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc phỏng vấn đồng chí Lê Tiến Châu, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Thành ủy thành phố Hải Phòng về vai trò, những đóng góp nổi bật trong năm 2025 và kiến nghị đối với Bộ, ngành Tư pháp nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh, mạnh, bền vững của đất nước trong giai đoạn mới.
EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

Năng lượng không chỉ là “đầu vào” của sản xuất, mà còn là hạ tầng nền tảng quan trọng quyết định sức cạnh tranh quốc gia, chất lượng sống của người dân và năng lực tự chủ của nền kinh tế đất nước trong giai đoạn phát triển mới. Trong bối cảnh nhu cầu điện tăng cao, biến động nguồn cung nhiên liệu toàn cầu, áp lực chuyển dịch xanh và yêu cầu vận hành hệ thống an toàn, minh bạch, đặt ra bài toán lớn đối với ngành điện: vừa phải bảo đảm đủ điện cho phát triển nhanh và bền vững, vừa phải thiết kế lại cơ chế, chính sách để thu hút đầu tư, phát triển thị trường và tăng năng lực quản trị.
Vai trò của Bộ, ngành Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, pháp luật tạo lợi thế cạnh tranh đưa đất nước phát triển trong kỷ nguyên mới

Vai trò của Bộ, ngành Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, pháp luật tạo lợi thế cạnh tranh đưa đất nước phát triển trong kỷ nguyên mới

Thể chế, pháp luật và lợi thế cạnh tranh quốc gia có mối quan hệ mật thiết, tác động qua lại lẫn nhau. Hệ thống thể chế, pháp luật được xây dựng đồng bộ, thống nhất khả thi, phù hợp với thực tiễn sẽ góp phần tạo lập môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi, thông thoáng và có sức cạnh tranh trong hội nhập. Đồng thời, để giữ lợi thế cạnh tranh quốc gia trong hội nhập, hệ thống thể chế, pháp luật phải được quan tâm hoàn thiện để “đánh thức” mọi tiềm năng, thế mạnh, khơi thông và thu hút nguồn lực để thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Nhiều quốc gia trên thế giới đã và đang thực hiện những giải pháp hoàn thiện thể chế, pháp luật để nâng cao năng lực cạnh tranh của quốc gia mình trong nền kinh tế toàn cầu. Trong suốt hành trình hơn 80 năm qua, Bộ Tư pháp xứng đáng là “cơ quan trọng yếu của chính quyền”, luôn được Đảng, Nhà nước giao trọng trách thực hiện các nhiệm vụ xây dựng, hoàn thiện thể chế, pháp luật, thi hành pháp luật. Bước vào giai đoạn phát triển mới, việc nhận diện đầy đủ và phát huy hiệu quả hơn nữa vai trò của Bộ, ngành Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, pháp luật góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trong hội nhập là rất cần thiết, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong kỷ nguyên mới.
Hoàn thiện thể chế pháp luật để khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trở thành động lực phát triển quốc gia

Hoàn thiện thể chế pháp luật để khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trở thành động lực phát triển quốc gia

Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã và đang thay đổi căn bản phương thức sản xuất, quản trị và đời sống xã hội trên phạm vi toàn cầu. Đối với Việt Nam, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo (KHCN&ĐMST) và chuyển đổi số (CĐS) không chỉ là xu thế tất yếu mà còn là yêu cầu cấp bách để bứt phá, vượt qua bẫy thu nhập trung bình và hiện thực hóa khát vọng dân tộc. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy công nghệ luôn vận động với tốc độ vượt xa khả năng thích ứng của pháp luật hiện hành. Do đó, việc xây dựng hệ thống pháp luật đồng bộ, hiện đại và mang tính kiến tạo được xem là chìa khóa để giải phóng nguồn lực, đưa KHCN&ĐMST và CĐS thực sự trở thành động lực chính cho sự phát triển bền vững của quốc gia.
Tạo lập khuôn khổ pháp lý đủ mạnh cho sự phát triển bền vững của Thủ đô

Tạo lập khuôn khổ pháp lý đủ mạnh cho sự phát triển bền vững của Thủ đô

Chiều ngày 09/02/2026, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tú chủ trì Phiên họp tham vấn chuyên gia kinh tế, đầu tư về Luật Thủ đô (sửa đổi). Cùng dự có Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội Nguyễn Xuân Lưu, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội Phạm Thị Thanh Mai.
Nghiên cứu chính sách "cấm theo thế hệ" bảo vệ tương lai khỏi tác hại thuốc lá

Nghiên cứu chính sách "cấm theo thế hệ" bảo vệ tương lai khỏi tác hại thuốc lá

Chiều ngày 05/02/2026, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Đặng Hoàng Oanh chủ trì cuộc họp thẩm định hồ sơ chính sách Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá.
Hoàn thiện Luật Tiếp cận thông tin để khơi thông quyền của người dân

Hoàn thiện Luật Tiếp cận thông tin để khơi thông quyền của người dân

Hội thảo "Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin nhằm bảo đảm thực hiện hiệu quả quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới" do Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phối hợp với Cục Pháp luật hình sự - hành chính và Quản lý xử lý vi phạm hành chính (Bộ Tư pháp) tổ chức sáng ngày 05/02 bằng hình thức trực tiếp kết hợp trực tuyến. Đồng chí Nguyễn Thanh Ngọc, Thứ trưởng Bộ Tư pháp chủ trì Hội thảo. Đồng chủ trì có đồng chí Trương Thế Côn, Tổng Biên tập Tạp chí Dân chủ và Pháp luật.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.

Theo dõi chúng tôi trên: