Thứ sáu 21/08/2026 03:45
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Vai trò và giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động tư pháp địa phương trong bối cảnh thực hiện chính quyền địa phương hai cấp

Trong suốt tiến trình lịch sử cách mạng Việt Nam, ngành Tư pháp luôn song hành cùng sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Từ những ngày đầu thành lập Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (năm 1945) đến nay, trải qua 80 năm xây dựng và trưởng thành, ngành Tư pháp luôn khẳng định vị thế là cơ quan tham mưu nòng cốt trong xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và tổ chức thi hành pháp luật. Bước vào giai đoạn phát triển mới, trước yêu cầu đột phá về thể chế để đất nước phát triển bền vững, vai trò của công tác tư pháp tại địa phương càng quan trọng, đặc biệt, trong bối cảnh sắp xếp đơn vị hành chính và vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp.

Trong bối cảnh thay đổi lớn về địa giới hành chính và phương thức quản lý nhà nước, công tác tư pháp tỉnh Quảng Trị[1] không chỉ đơn thuần là các hoạt động chuyên môn nghiệp vụ, mà đã trở thành trụ cột bảo đảm tính thống nhất, kỷ cương và là công cụ sắc bén để kiến tạo môi trường pháp lý cho phát triển kinh tế - xã hội.

Khi vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp, vai trò của tư pháp địa phương được thể hiện rõ nét qua tham mưu “đúng và trúng” trong thể chế hóa các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Công tác tư pháp giữ vị trí đặc biệt quan trọng, vừa là trụ cột bảo đảm kỷ cương pháp luật, vừa trực tiếp góp phần bảo vệ quyền con người, quyền công dân, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững ổn định chính trị. Đặc biệt, thực hiện Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, ngành Tư pháp đã làm tốt nhiệm vụ tham mưu cho Ủy ban nhân dân tỉnh hướng dẫn áp dụng và xây dựng văn bản quy phạm pháp luật sau hợp nhất. Sở Tư pháp tỉnh Quảng Trị đã phối hợp với các sở, ban, ngành tổ chức rà soát tổng thể để xây dựng phương án, lộ trình tham mưu áp dụng trên địa bàn tỉnh sau khi sắp xếp, bãi bỏ hoặc thay thế 1.075 văn bản quy phạm pháp luật do Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Bình và tỉnh Quảng Trị (cũ) ban hành còn hiệu lực đến thời điểm sáp nhập tỉnh (ngày 01/7/2025). Đến nay, các sở, ban, ngành đang tham mưu xử lý các văn bản sau rà soát theo đúng lộ trình, tạo hành lang pháp lý thông suốt để hệ thống chính trị hoạt động liên tục, hiệu lực, hiệu quả theo tinh thần “tinh - gọn - mạnh”, tránh tình trạng gián đoạn hoặc khoảng trống pháp lý gây khó khăn cho người dân và doanh nghiệp.

Vai trò kiến tạo của ngành Tư pháp còn thể hiện qua việc thúc đẩy phân cấp, phân quyền. Theo phương châm “địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm”, ngành Tư pháp đã tham mưu triển khai các quy định nhằm giải phóng sức sản xuất, khơi thông mọi nguồn lực phát triển. Đến nay, các cơ quan chuyên môn đã tham mưu ban hành 07 văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến phân cấp, phân quyền và rà soát lộ trình xử lý 76 văn bản quy phạm pháp luật chịu tác động của 28 nghị định về phân định thẩm quyền. Trong mô hình chính quyền địa phương hai cấp, cơ quan tư pháp đóng vai trò điều phối, bảo đảm các chính sách được ban hành từ cấp tỉnh được thực thi nghiêm minh, nhất quán tại cơ sở. Công tác thẩm định, kiểm tra và rà soát văn bản quy phạm pháp luật, trở thành “màng lọc” quan trọng để loại bỏ những quy định không còn phù hợp, chồng chéo hoặc mâu thuẫn phát sinh từ quá trình sáp nhập các đơn vị hành chính. Thực hiện các quy định về phân cấp, phân quyền, Sở Tư pháp đã ban hành nhiều văn bản hướng dẫn Ủy ban nhân dân cấp xã triển khai các lĩnh vực hộ tịch, chứng thực và bảo đảm vận hành các nhiệm vụ công tác tư pháp được phân cấp từ cấp huyện (cũ), cấp tỉnh về cấp xã. Đồng thời, để thực hiện có hiệu quả 56 thủ tục hành chính trong lĩnh vực hộ tịch, nuôi con nuôi, chứng thực được phân cấp, phân quyền và phân định thẩm quyền cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã theo Nghị định số 120/2025/NĐ-CP[2] và Nghị định số 121/2025/NĐ-CP[3], Sở Tư pháp đã theo sát, hướng dẫn kỹ lưỡng về quy trình, thủ tục giải quyết thủ tục hành chính, trong đó, đã hướng dẫn việc ủy quyền thực hiện nhiệm vụ chứng thực của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã cho người đứng đầu các cơ quan chuyên môn, tổ chức hành chính cấp xã hoặc cho công chức cấp xã.

Đặc biệt, khi chuyển đổi sang mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Sở Tư pháp đã khẳng định vai trò là đầu mối theo dõi, kịp thời tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc phát sinh do sự chồng chéo của hệ thống văn bản pháp luật. Sở tăng cường tập huấn nghiệp vụ đối với cấp xã, hướng dẫn kỹ lưỡng quy trình giải quyết các nhiệm vụ được chuyển giao từ cấp huyện về cấp xã như công tác hộ tịch, chứng thực; đồng thời, tham mưu cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu dân cư và cơ sở dữ liệu quốc gia, giúp bộ máy ở cơ sở vận hành thông suốt ngay cả khi khối lượng công việc tăng lên và tính chất công việc ngày càng phức tạp.

Việc sử dụng các nền tảng mạng xã hội, ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong phổ biến, giáo dục pháp luật mang lại hiệu quả rõ rệt, góp phần nâng cao tinh thần “thượng tôn pháp luật” của Nhân dân. Đặc biệt, việc triển khai Đề án 06 về phát triển dữ liệu dân cư[4] đã tạo bước đột phá trong cải cách thủ tục hành chính, giúp giảm thời gian và chi phí cho người dân khi thực hiện xây dựng chính quyền địa phương hai cấp.

Bên cạnh đó, xác định nguồn nhân lực là “chìa khóa” vận hành bộ máy, Sở Tư pháp đã đóng vai trò “nhà thiết kế” trong việc sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy theo hướng tinh gọn, chuyên nghiệp. Đối với cấp tỉnh, Sở xây dựng đội ngũ công chức xây dựng pháp luật chuyên sâu để thực hiện tốt vai trò thẩm định và hậu kiểm khi không còn cấp huyện. Đối với cấp xã, nơi phải tiếp nhận thực hiện khoảng 70 nhiệm vụ chuyên môn tư pháp (bồi thường nhà nước, hộ tịch, chứng thực...), Sở tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh chỉ đạo coi trọng việc bố trí công chức tư pháp hộ tịch đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn theo Luật Hộ tịch năm 2014 và các quy định khác có liên quan.

Dù đạt được nhiều kết quả tích cực, thực tế triển khai chính quyền địa phương hai cấp còn bộc lộ một số “điểm nghẽn” và khó khăn.

Một là, hệ thống văn bản pháp luật ở trung ương còn tồn tại những mâu thuẫn, chồng chéo, chưa thống nhất, đồng bộ dẫn đến vướng mắc trong quá trình thực hiện phân cấp, phân quyền. Bộ Tư pháp đã xác định khoảng 90 nội dung có khó khăn, vướng mắc liên quan đến phân cấp, phân quyền tại 43 văn bản quy phạm pháp luật[5]. Các quy định hiện hành chưa bao quát việc chuyển giao nhiệm vụ từ cấp huyện đến cấp tỉnh hoặc cấp xã như xử lý các hồ sơ, thủ tục dang dở hoặc các nhiệm vụ đặc thù mà cấp xã chưa đủ thẩm quyền để quyết định.

Đồng thời, một số quy định pháp luật về phân cấp, phân quyền, ủy quyền chưa được phân biệt rõ và chưa được hiểu thống nhất, dẫn đến lúng túng trong triển khai.

Chất lượng tham mưu các văn bản phân cấp, phân quyền ở địa phương còn thấp, việc rà soát, xử lý văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến phân cấp, phân quyền còn chậm, dẫn đến tình trạng chưa bảo đảm cơ sở pháp lý toàn diện, kịp thời cho cấp xã thực hiện.

Hai là, sau khi sắp xếp đơn vị hành chính và tinh, gọn bộ máy, nhiều địa phương đối mặt với tình trạng thừa - thiếu cục bộ, có nơi dư thừa cán bộ từ cấp huyện chuyển về, nhưng có nơi lại thiếu nhân lực có trình độ cao, trong đó có nhân lực thực hiện nhiệm vụ tư pháp. Khi tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, công chức cấp xã phải tiếp nhận khối lượng lớn công việc từ cấp huyện, nhưng một bộ phận lớn cán bộ cấp xã chưa đáp ứng được yêu cầu quản lý nhà nước đa ngành, đa lĩnh vực, đặc biệt tại các địa bàn rộng, đa dân tộc, tôn giáo.

Ba là, việc tham mưu phân cấp, ủy quyền còn mang tính “cào bằng”, chưa tính tới đặc điểm nông thôn, đô thị và đặc thù của từng địa phương, ngành, lĩnh vực, dẫn đến chưa phát huy tối đa tiềm năng, lợi thế của từng nơi. Việc phân cấp, phân quyền chưa đi đôi với bảo đảm đủ các điều kiện cần thiết như tài chính, nhân lực, cơ sở vật chất cho cấp dưới, gây áp lực lên chính quyền địa phương.

Bước vào giai đoạn phát triển mới của đất nước, trước yêu cầu đột phá mạnh mẽ về thể chế, pháp luật tạo lợi thế cạnh tranh đưa đất nước phát triển, ngành Tư pháp đứng trước những thách thức không nhỏ nhưng cũng là cơ hội lớn để khẳng định vai trò, xứng đáng với truyền thống đầy tự hào và đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của nhiệm vụ. Ngành Tư pháp phải thực sự trở thành “lực lượng nòng cốt”, “đi đầu trong tham mưu kiến tạo đồng bộ thể chế phát triển đất nước”, gương mẫu, đi đầu trong xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật, tinh thần thượng tôn Hiến pháp và pháp luật. Để thực hiện được mục tiêu này, cần thực hiện một số giải pháp sau:

Thứ nhất, tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý về đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, phân định thẩm quyền, trách nhiệm giữa trung ương, địa phương và giữa các cấp địa phương theo tinh thần “địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm”, đặc biệt, trong các lĩnh vực đầu tư công, quy hoạch, ngân sách và nhân sự, nhằm tránh tình trạng chồng chéo hoặc bỏ trống nhiệm vụ, đùn đẩy trách nhiệm giữa các cấp, bảo đảm đầy đủ căn cứ pháp lý để chính quyền địa phương thực hiện các nhiệm vụ mới. Đồng thời, việc phân cấp, phân quyền phải đi đôi với phân bổ nguồn lực triển khai thực hiện các nhiệm vụ thông qua cơ chế tài chính phân cấp, cho phép cấp xã hưởng một phần nguồn thu từ thuế đất, phí dịch vụ công, từ đó, tăng tính chủ động trong phát triển kinh tế - xã hội.

Thứ hai, tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tư duy xây dựng pháp luật. Ngành Tư pháp phải chủ động rà soát, hệ thống hóa toàn bộ văn bản sau sáp nhập để kịp thời xử lý các “điểm nghẽn” pháp lý. Việc xây dựng thể chế phải hướng tới mục tiêu vừa bảo đảm quản lý nhà nước chặt chẽ, vừa khuyến khích đổi mới sáng tạo, khơi thông mọi nguồn lực, kiến tạo phát triển. Chất lượng thẩm định văn bản quy phạm pháp luật cần được nâng cao theo hướng sát thực tiễn, có tính dự báo cáo, chi phí tuân thủ thấp bảo đảm các chính sách ban hành có cơ sở pháp lý vững chắc và khả thi ngay khi có hiệu lực.

Vai trò và giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động tư pháp địa phương trong bối cảnh thực hiện chính quyền địa phương hai cấp
Đồng chí Hoàng Kỳ, nguyên Giám đốc Sở Tư pháp tỉnh Quảng Trị trước khi sắp xếp hợp nhất tặng hoa tập thể Lãnh đạo Sở Tư pháp tỉnh Quảng Trị

Thứ ba, phải coi công tác tổ chức thi hành pháp luật là nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt. Hoạt động thi hành pháp luật cần chuyển từ hình thức sang thực chất, gắn với đánh giá tác động của pháp luật đối với đời sống xã hội; phát hiện kịp thời những khó khăn, vướng mắc và đề xuất các giải pháp tháo gỡ nhằm hoàn thiện thể chế, chính sách, pháp luật. Đồng thời, đổi mới công tác phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng “lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm”; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số, nền tảng mạng xã hội nhằm lan tỏa kiến thức pháp luật dễ hiểu, dễ tiếp cận, nhất là với đồng bào vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số.

Thứ tư, triển khai thực hiện hiệu quả các luật chuyên ngành, đề án, chương trình, kế hoạch trong lĩnh vực hành chính tư pháp, bổ trợ tư pháp gắn với chuyển đổi số, hướng tới nền hành chính tư pháp hiện đại, công khai, minh bạch phục vụ ngày càng tốt hơn người dân và doanh nghiệp. Ngành Tư pháp cần thực hiện tốt và hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ được giao trong Đề án 06 gắn với thực hiện hiệu quả Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; tập trung ưu tiên xây dựng, hoàn thiện và khai thác có hiệu quả các cơ sở dữ liệu của ngành Tư pháp, phục vụ hiệu quả công tác quản lý, đăng ký hộ tịch, công chứng, luật sư, đấu giá tài sản, xử lý vi phạm hành chính.

Đồng thời, cần tăng cường quản lý nhà nước đối với các tổ chức hành nghề bổ trợ tư pháp, nâng cao đạo đức nghề nghiệp, tính chuyên nghiệp trong hoạt động nghề nghiệp. Thực hiện tốt công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế bảo đảm mọi công dân đều bình đẳng trong tiếp cận công lý.

Thứ năm, chú trọng đặc biệt công tác hòa giải ở cơ sở và xây dựng cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật để giải quyết các mâu thuẫn, tranh chấp từ khi mới phát sinh, góp phần giữ vững ổn định trật tự xã hội từ gốc. Đội ngũ hòa giải viên tại cơ sở cần được quan tâm đầu tư hơn nữa về năng lực và chế độ chính sách, nhằm thực hiện hiệu quả phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân thụ hưởng” trong lĩnh vực tư pháp.

Thứ sáu, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức ngành Tư pháp đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới. Cần thực hiện lộ trình tăng biên chế công chức làm công tác tư pháp ở cấp xã, bảo đảm mỗi xã có ít nhất 02 - 03 công chức chuyên trách để đảm nhận khối lượng công việc tăng thêm. Tập trung rèn luyện bản lĩnh chính trị, đạo đức công vụ và năng lực chuyên môn cho đội ngũ cán bộ, hướng tới hình ảnh người cán bộ tư pháp “vững chính trị, giỏi chuyên môn, tinh thông nghiệp vụ, gần dân, hiểu dân”. Tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính gắn với đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh là nền tảng để xây dựng ngành Tư pháp năng động, sáng tạo và trách nhiệm.

Nhìn lại hành trình đầy tự hào và hướng tới tương lai, ngành Tư pháp Quảng Trị đang đứng trước những thời cơ lịch sử, nhưng cũng đầy thách thức. Với tinh thần đoàn kết và quyết tâm chính trị cao, toàn ngành sẽ nỗ lực, không ngừng phấn đấu xây dựng nền tư pháp địa phương hiện đại, hiệu lực, hiệu quả, trở thành chỗ dựa pháp lý vững chắc cho phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng - an ninh và nâng cao đời sống Nhân dân trên địa bàn tỉnh trong giai đoạn phát triển mới.

Trần Chí Tiến

Tỉnh ủy viên, Giám đốc Sở Tư pháp tỉnh Quảng Trị

[1]. Từ ngày 01/7/2025, Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh về việc hợp nhất Sở Tư pháp tỉnh Quảng Bình và Sở Tư pháp tỉnh Quảng Trị.

[2]. Nghị định số 120/2025/NĐ-CP ngày 11/6/2025 của Chính phủ quy định về phân định thẩm quyền của chính quyền địa phương hai cấp trong lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp.

[3]. Nghị định số 121/2025/NĐ-CP ngày 11/6/2025 của Chính phủ quy định về phân quyền, phân cấp trong lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp.

[4]. Quyết định số 06/QĐ-TTg ngày 06/01/2022 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2022 - 2025, tầm nhìn đến năm 2030 (Đề án 06).

[5]. Báo cáo số 473/BC-BTP ngày 28/8/2025 của Bộ Tư pháp về kết quả rà soát, đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật về phân cấp, phân quyền, phân định thẩm quyền khi tổ chức chính quyền địa phương hai cấp.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật ấn phẩm Xuân Bính Ngọ 2026)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Với mục tiêu đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thành phố Hà Nội đặt trọng tâm vào đổi mới nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật, tăng cường ứng dụng công nghệ số và xây dựng đội ngũ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật am hiểu địa bàn, phong tục, tập quán và văn hóa của người dân nơi đây.
Hà Nội thí điểm mô hình tiêu dùng số và bảo trợ thương mại điện tử

Hà Nội thí điểm mô hình tiêu dùng số và bảo trợ thương mại điện tử

Được triển khai thí điểm trong giai đoạn 2026 - 2028, Đề án "Thí điểm mô hình tiêu dùng số và bảo trợ thương mại điện tử thành phố Hà Nội" hướng tới hình thành môi trường mua sắm số minh bạch, an toàn, có truy xuất, có cơ chế hỗ trợ và bảo vệ người tiêu dùng; tạo nguồn dữ liệu tin cậy phục vụ quản lý, điều hành, dự báo, cảnh báo rủi ro và phát triển thị trường trên địa bàn thành phố Hà Nội.
Phát triển kinh tế số và xã hội số: Động lực tăng trưởng mới cho sự phát triển bền vững của Thủ đô

Phát triển kinh tế số và xã hội số: Động lực tăng trưởng mới cho sự phát triển bền vững của Thủ đô

Ngày 28/7/2026, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội Trương Việt Dũng ký ban hành Quyết định số 3806/QĐ-UBND về phê duyệt "Chương trình phát triển kinh tế số và xã hội số thành phố Hà Nội giai đoạn 2026 - 2030", trong đó xác định, phát triển kinh tế số và xã hội số là nhiệm vụ trọng tâm, vừa là động lực tăng trưởng mới, vừa là nền tảng nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân, góp phần quyết định thực hiện mục tiêu phát triển nhanh, bền vững và tăng trưởng GRDP hai con số của Thủ đô trong giai đoạn 2026 - 2030 (Chương trình).
Thành phố Hà Nội tăng cường bảo vệ, hỗ trợ trẻ em phát triển trên môi trường mạng

Thành phố Hà Nội tăng cường bảo vệ, hỗ trợ trẻ em phát triển trên môi trường mạng

Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội Vũ Thu Hà vừa ký ban hành Kế hoạch số 293/KH-UBND ngày 28/7/2026 về bảo vệ và hỗ trợ trẻ em phát triển trên môi trường mạng giai đoạn 2026 - 2030 trên địa bàn thành phố Hà Nội.
Kiến tạo không gian phát triển văn hóa Thủ đô trong kỷ nguyên mới

Kiến tạo không gian phát triển văn hóa Thủ đô trong kỷ nguyên mới

Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị mở ra không gian phát triển mới cho văn hóa Việt Nam. Với vai trò là Thủ đô, Hà Nội đã thể hiện tinh thần chủ động, sáng tạo trong việc cụ thể hóa chủ trương của Đảng bằng những giải pháp đồng bộ, thiết thực, từng bước kiến tạo nền tảng để hiện thực hóa mục tiêu trở thành trung tâm văn hóa, sáng tạo của khu vực và quốc tế.
Hà Nội tập trung triển khai 06 nghị quyết về lĩnh vực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số

Hà Nội tập trung triển khai 06 nghị quyết về lĩnh vực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số

Ngày 22/7/2026, Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội ký ban hành Kế hoạch số 288/KH-UBND về triển khai 06 nghị quyết của Hội đồng nhân dân Thành phố thuộc lĩnh vực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số triển khai thi hành Luật Thủ đô (Kế hoạch), trong đó xác định các cơ chế đặc thù, vượt trội so với quy định của Trung ương; từng bước đưa Hà Nội trở thành trung tâm khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo hàng đầu cả nước và khu vực.
"Tầm nhìn mới, tư duy mới, hành động mới" - Động lực xây dựng chính quyền Thủ đô Hà Nội kiến tạo, phục vụ

"Tầm nhìn mới, tư duy mới, hành động mới" - Động lực xây dựng chính quyền Thủ đô Hà Nội kiến tạo, phục vụ

Ngày 23/3/2026, Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội đã ban hành Chỉ thị số 09-CT/TU về nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực thi công vụ; siết chặt kỷ luật, kỷ cương và trách nhiệm của cán bộ, nhất là người đứng đầu trong giai đoạn phát triển mới của Thủ đô Hà Nội (Chỉ thị số 09-CT/TU). Theo đó, Thành phố xác định rõ việc định vị hình ảnh và giá trị cốt lõi của Thủ đô với 09 đặc trưng "Thủ đô văn hiến - kết nối toàn cầu - thanh lịch, hào hoa - phát triển hài hòa - thanh bình, thịnh vượng - chính quyền phục vụ - doanh nghiệp cống hiến - xã hội niềm tin - người dân hạnh phúc", lấy "Văn hiến - bản sắc - sáng tạo" làm trục giá trị xuyên suốt.
Hà Nội thí điểm cơ chế phát triển nhà ở cho thuê: Bước chuyển trong chính sách nhà ở

Hà Nội thí điểm cơ chế phát triển nhà ở cho thuê: Bước chuyển trong chính sách nhà ở

Việc Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội thông qua cơ chế đặc thù về đầu tư, phát triển nhà ở cho thuê được xem là bước đi mới trong thực hiện Luật Thủ đô năm 2026. Với nhiều ưu đãi về đất đai, thủ tục đầu tư và cơ chế khai thác dự án, chính sách này không chỉ tạo động lực thu hút doanh nghiệp tham gia phát triển nhà ở cho thuê mà còn góp phần mở rộng nguồn cung nhà ở, bảo đảm an sinh xã hội và thúc đẩy phát triển đô thị bền vững.
Định hướng nâng cao hiệu quả trợ giúp pháp lý tại Lạng Sơn đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới

Định hướng nâng cao hiệu quả trợ giúp pháp lý tại Lạng Sơn đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới

Trong bối cảnh đất nước ta đang bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc với những bước chuyển dịch mang tính chiến lược, yêu cầu hoàn thiện hệ thống pháp luật gắn liền với việc bảo đảm quyền con người, quyền công dân ngày càng trở nên cấp bách. Trong tiến trình đó, hoạt động trợ giúp pháp lý (TGPL) giữ vai trò nền tảng trong việc hiện thực hóa công bằng xã hội và bảo đảm quyền tiếp cận công lý bình đẳng cho mọi tầng lớp Nhân dân, đặc biệt là các đối tượng yếu thế. Để cung cấp kịp thời dịch vụ pháp lý chất lượng cho người nghèo, người thuộc diện chính sách trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn, Trung tâm TGPL nhà nước tỉnh Lạng Sơn đã ban các hành kế hoạch và tổ chức triển khai các nội dung của Luật Trợ giúp pháp lý, góp phần thực hiện quyền con người, quyền công dân. Trong 06 tháng đầu năm 2026, công tác TGPL tại Trung tâm TGPL nhà nước tỉnh Lạng Sơn đã đạt được những kết quả đáng kể.
Hà Nội phấn đấu đạt Chỉ số SIPAS tối thiểu 95% vào năm 2030

Hà Nội phấn đấu đạt Chỉ số SIPAS tối thiểu 95% vào năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn mới, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, cải cách hành chính tiếp tục được xác định là một trong những nhiệm vụ trọng tâm nhằm nâng cao năng lực quản trị quốc gia; đồng thời là một trong các tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước. Đối với Thủ đô Hà Nội, trung tâm văn hóa, chính trị, kinh tế - xã hội của cả nước, nơi hội tụ nhiều cơ chế, chính sách đặc thù, cải cách hành chính không chỉ là yêu cầu tất yếu của quá trình đổi mới mà còn là điều kiện tiên quyết để khai thác hiệu quả các nguồn lực, tạo môi trường thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của Thủ đô đến năm 2030.
Thi hành án dân sự địa phương: 80 năm xây dựng, đổi mới và phát triển

Thi hành án dân sự địa phương: 80 năm xây dựng, đổi mới và phát triển

Trong hoạt động của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thi hành án dân sự (THADS) được xác định là khâu cuối cùng của quá trình tố tụng, có nhiệm vụ hiện thực hóa các phán quyết của Tòa án vào đời sống thực tế. Trong đó, hiệu quả công tác thi hành án tại địa phương không chỉ là hoạt động bảo vệ quyền tài sản, quyền con người mà còn là thước đo trực tiếp niềm tin của Nhân dân vào sự nghiêm minh của pháp luật.
Thi hành án dân sự thành phố Đà Nẵng trong kỷ nguyên số: Thành tựu, thách thức và định hướng phát triển

Thi hành án dân sự thành phố Đà Nẵng trong kỷ nguyên số: Thành tựu, thách thức và định hướng phát triển

Thi hành án dân sự (THADS) là khâu cuối cùng của hoạt động tư pháp, bảo đảm hiệu lực thi hành các bản án, quyết định của Tòa án, góp phần giữ vững kỷ cương pháp luật và ổn định xã hội. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia (Nghị quyết số 57-NQ/TW), công tác THADS đặt ra yêu cầu đổi mới mạnh mẽ về tổ chức bộ máy và phương thức hoạt động. Trên cơ sở thực tiễn tại thành phố Đà Nẵng, nghiên cứu phân tích kết quả công tác THADS gắn với đổi mới phương thức hoạt động, chuyển đổi số, đồng thời, làm rõ yêu cầu, định hướng và đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác này trong thời gian tới.
Thi hành án dân sự thành phố Hà Nội: Dấu ấn đổi mới quản lý, điều hành và hiện đại hóa hoạt động thi hành án tại Thủ đô

Thi hành án dân sự thành phố Hà Nội: Dấu ấn đổi mới quản lý, điều hành và hiện đại hóa hoạt động thi hành án tại Thủ đô

Trong thi hành án dân sự (THADS), công lý không dừng ở thời điểm bản án được tuyên. Công lý chỉ thực sự đi vào đời sống khi quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức, doanh nghiệp và người dân được bảo đảm trên thực tế. Nhìn lại chặng đường 80 năm xây dựng và phát triển của THADS Việt Nam, thực tiễn Thủ đô Hà Nội cho thấy rõ sức nặng của khâu tổ chức thi hành án tại một địa bàn đặc biệt: lớn về quy mô, phức tạp về tính chất, nhạy cảm về tác động xã hội. Từ dấu mốc chuyển giao năm 1993, mở rộng địa giới hành chính năm 2008 đến vận hành mô hình THADS địa phương một cấp năm 2025, THADS thành phố Hà Nội không chỉ khẳng định bản lĩnh tổ chức thực thi pháp luật, mà còn cho thấy bước chuyển quan trọng từ quản lý hồ sơ theo phương thức truyền thống sang quản trị bằng dữ liệu, lấy tính chất phức tạp của vụ việc và yêu cầu phối hợp liên ngành làm trọng tâm điều hành. Đó là dấu ấn đổi mới, hiện đại hóa và trách nhiệm tiên phong của THADS Thủ đô trong hành trình hiện thực hóa công lý.
Thực tiễn và kinh nghiệm thi hành án dân sự tại các địa bàn chiến lược khu vực Tây Nguyên và miền núi phía Bắc

Thực tiễn và kinh nghiệm thi hành án dân sự tại các địa bàn chiến lược khu vực Tây Nguyên và miền núi phía Bắc

Tỉnh Đắk Lắk là trung tâm chiến lược của vùng Tây Nguyên, có diện tích 18.096 km² và dân số hơn 3,3 triệu người, nổi bật với địa hình cao nguyên bằng phẳng, khí hậu ôn hòa với hai mùa mưa - khô và nền kinh tế nông nghiệp trọng điểm, cùng sự đa dạng bản sắc của 44 dân tộc. Thực hiện chủ trương của Đảng về tinh, gọn tổ chức bộ máy và tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, từ ngày 01/7/2025, sáp nhập tỉnh Phú Yên vào tỉnh Đắk Lắk. Vì vậy, giúp Đắk Lắk có cửa ngõ ra biển Đông, kinh tế, xã hội có điều kiện phát triển mạnh mẽ. Đắk Lắk là khu vực có vị trí chiến lược về quốc phòng, an ninh chính trị quan trọng của cả nước. Tuy nhiên, thực tiễn tình hình kinh tế, xã hội, an ninh chính trị tại Đắk Lắk tiềm ẩn nhiều khó khăn, phức tạp: địa bàn rộng, dân cư phân bố không đồng đều, giao thông khó khăn, nhiều cộng đồng dân tộc thiểu số sinh sống như Êđê, M’nông, Jrai, Tày, Nùng… và nhiều tôn giáo phát triển với phong tục tập quán, tín ngưỡng và trình độ nhận thức pháp luật còn hạn chế. Với vị trí địa lý rộng, đất đai màu mỡ, giàu tài nguyên dẫn đến tranh chấp đất đai phức tạp, nhiều bản án rất khó thi hành. Hoạt động thi hành án dân sự (THADS) tại tỉnh Đắk Lắk vì thế có vai trò đặc biệt quan trọng, bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật; bảo vệ quyền lợi hợp pháp của công dân; góp phần ổn định an ninh trật tự và phát triển kinh tế - xã hội.
Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh - Từ thực tiễn của địa bàn trọng điểm đến những đóng góp cho sự phát triển của Hệ thống Thi hành án dân sự

Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh - Từ thực tiễn của địa bàn trọng điểm đến những đóng góp cho sự phát triển của Hệ thống Thi hành án dân sự

Năm 2026 đánh dấu mốc son 80 năm Ngày Truyền thống Thi hành án dân sự (THADS) (19/7/1946 - 19/7/2026), chặng đường vẻ vang gắn liền với quá trình phát triển của nền tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trải qua 80 năm xây dựng và trưởng thành, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý thống nhất của Nhà nước, sự chỉ đạo của Chính phủ, Bộ Tư pháp cùng sự nỗ lực của nhiều thế hệ cán bộ, công chức, Hệ thống THADS không ngừng củng cố, hoàn thiện về thể chế, tổ chức bộ máy và phương thức hoạt động, ngày càng khẳng định vai trò là thiết chế quan trọng trong bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức và công dân.

Theo dõi chúng tôi trên: